Bản án về tranh chấp xác định con cho cha số 17/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 17/2024/HNGĐ-ST NGÀY 01/03/2024 VỀ TRANH CHẤP XÁC ĐỊNH CON CHO CHA

Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 86/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 11 năm 2023, về việc tranh chấp về xác định con cho cha, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 85/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn P; nơi cư trú: Khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Lệ Q; nơi cư trú: số B, đường L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Quang H; nơi cư trú: Số H, đường H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11-10-2023; bản tự khai đề ngày 17-12-2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn (anh Nguyễn Văn P) trình bày:

Năm 2020, tôi (P) và chị Lê Thị Lệ Q có quan hệ tình cảm với nhau và chúng tôi có một con chung do chị Q sinh ra là cháu gái dự định đặt tên Nguyễn Tuệ A, sinh ngày 11-10-2020, theo Giấy chứng sinh số 11321, quyển số 114/2020 do Bệnh viện P1 cấp ngày 11-10-2020.

Tuy nhiên, vào thời điểm chị Q sinh cháu Nguyễn Tuệ A thì chị Q và anh Trần Quang H đang là vợ chồng hợp pháp. Do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên chị Q đã khởi kiện xin ly hôn anh H tại Toà án. Tại Bản án số 30/2020/HNGĐ-ST ngày 05-8-2020 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã xử cho chị Lê Thị Lệ Q được ly hôn anh Trần Quang H.

Tôi (P) và cháu Nguyễn Tuệ A đã làm xét nghiệm AND tại Công ty cổ phần D. Theo Phiếu kết quả phân tích AND ngày 11-5-2023 của Công ty cổ phần D (địa chỉ trụ sở: Tầng B, Tòa nhà H T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội) đã kết luận giữa tôi (P) và cháu Nguyễn Tuệ A có quan hệ huyết thống C - Con.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con tôi là Nguyễn Tuệ A, tôi đề nghị Toà án xác định cháu gái do chị Lê Thị Lệ Q sinh ra vào ngày 11-10-2020 dự định đặt tên Nguyễn Tuệ A, theo Giấv chứng sinh số 11321, quyển số 114/2020 do Bệnh viện P1 cấp ngày 11-10-2020 là con đẻ của tôi.

Tại đơn đề ngày 24-01-2024 anh P đề nghị xét xử vắng mặt và nhận nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai đề ngày 15-11-2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn (chị Lê Thị Lệ Q) trình bày như sau:

Tôi và anh Trần Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống do có nhiều mâu thuẫn nên tôi và anh H đã sống ly thân nhau từ năm 2013. Đến năm 2016 anh H vi phạm pháp luật và bị Toà án xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản và phải chấp hành án tại Đội 32, P, Trại giam T1.

Trong thời gian tôi và anh H sống ly thân thì đến năm 2020 tôi có quen biết và có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Văn P. Tôi và anh P đã có một con chung với nhau là cháu gái dự định đặt tên Nguyễn Tuệ A, sinh ngày 11-10-2020, theo Giấy chứng sinh số 11321, quyển số 114/2020 do Bệnh viện P1 cấp ngày 11-10- 2020.

Đến tháng 5/2020 tôi đã khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh H tại Toà án quận L. Tại Bản án số 30/2020/HNGĐ-ST ngày 05-8-2020 của Toà án nhân dân quận Lê Chân đã xử cho tôi được ly hôn anh Trần Quang H và giao cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là Trần Hải N, sinh ngày 14-6-2005 và Trần Lê Thủy T, sinh ngày 28-7-2011. Bản án này không bị kháng cáo, kháng nghị.

Anh P và cháu Nguyễn Tuệ A đã làm xét nghiệm AND tại Công ty cổ phần D. Theo Phiếu kết quả phân tích AND ngày 11-5-2023 của Công ty cổ phần D kết luận anh Nguyễn Văn P và cháu Nguyễn Tuệ A có quan hệ huyết thống C - Con.

Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Nguyễn Tuệ A, tôi đề nghị Toà án xác định cháu gái do tôi sinh ra vào ngày 11-10-2020 dự định đặt tên Nguyễn Tuệ A theo Giấy chứng sinh số 11321, quyển số 114/2020 do Bệnh viện P1 cấp ngày 11-10-2020 là con đẻ của anh Nguyễn Văn P.

Về phía người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Quang H: Trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do nên không có quan điểm cụ thể trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không có yêu cầu phản tố cũng như không có yêu cầu độc lập trong vụ án. Tại phiên toà anh H vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử: Xác định anh Nguyễn Văn P (sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh) là cha đẻ của cháu Nguyễn Tuệ A (tên dự định) do chị Lê Thị Lệ Q (sinh năm 1986; nơi cư trú: Số B, đường L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng) sinh ra vào ngày 11-10- 2020 theo Giấy chứng sinh số 11321, quyển số 114/2020 do Bệnh viện P1 cấp ngày 11-10-2020.

- Về án phí: Ghi nhận việc nguyên đơn tự nguyện nhận nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Trần Quang H) vẫn vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Nguyên đơn (anh Nguyễn Văn P) và bị đơn (chị Lê Thị Lệ Q) vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật có tranh chấp: Nguyên đơn (anh Nguyễn Văn P) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về xác định con cho cha đối với bị đơn (chị Lê Thị Lệ Q) có địa chỉ nơi cư trú tại phường C, quận N nên yêu cầu khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn P và chị lê Thị Lệ Q1 đều xác nhận có quan hệ quen biết và nảy sinh tình cảm với nhau từ năm 2020 và chị Q1 đã có thai với anh P. Ngày 11-10-2020 chị Q1 đã sinh ra một cháu gái và đặt tên dự định là Nguyễn Tuệ A. Từ đó đến nay thì anh P và chị Q1 vẫn chưa làm thủ tục khai sinh cho cháu A theo quy định của pháp luật.

[4] Cháu Tuệ A được sinh ra trong thời kỳ quan hệ hôn nhân giữa chị Q1 và anh Trần Quang H vẫn còn tồn tại. Do trong quan hệ vợ chồng giữa chị Q1 và anh H phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên trước khi có quan hệ quen biết với anh P thì chị Q1 và anh H đã tự sống ly thân với nhau. Năm 2020 chị Q1 và anh H đã ly hôn. Tại Bản án số 30/2020/HNGĐ-ST ngày 05-8-2020 của Toà án nhân dân quận Lê Chân đã xử cho chị Q1 được ly hôn anh Trần Quang H và giao cho chị Q1 trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là Trần Hải N, sinh ngày 14-6-2005 và Trần Lê Thủy T, sinh ngày 28-7-2011. Bản án này không bị kháng cáo, kháng nghị.

[5] Trước khi khởi kiện, anh p đã làm thủ tục giám định gen AND đối với cháu Nguyễn Tuệ A. Tại Phiếu kết quả phân tích AND ngày 11-5-2023 của Công ty Cổ phần D đã kết luận anh Nguyễn Văn p và cháu Nguyễn Tuệ A có quan hệ huyết thống C - Con. Trên cơ sở kết luận giám định nêu trên anh P đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xác định cháu Nguyễn Tuệ A là con đẻ của anh.

[6] Bị đơn (chị Lê Thị Lệ Q) trình bày và xác nhận sự việc có quan hệ tình cảm với anh p vào khoảng thời gian năm 2020 và sau đó chị Q đã có thai con chung với anh P. Ngày 11-10-2020 chị Q đã sinh một cháu gái và anh chị đã dự định đặt tên con là Nguyễn Tuệ A do đến nay anh P và chị Q vẫn chưa thực hiện thủ tục xin cấp giấy khai sinh cho con theo quy định của pháp luật.

[7] Về phía người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Quang H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án để thực hiện việc trình bày bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng anh H không gửi bản tự khai đến Tòa án. Tòa án đã nhiều lần triệu tập và Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải và tống đạt hợp lệ nhưng anh H không có mặt tại phiên họp. Tại phiên tòa, anh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

[8] Qua ý kiến trình bày của các bên, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và được chứng minh bởi Phiếu kết quả phân tích AND ngày 11-5-2023 của Công ty Cổ phần D và Giấy chứng sinh số 11321, quyển số 114/2020 do Bệnh viện P1 cấp ngày 11-10-2020. Như vậy đã có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn P, xác định: Cháu Nguyễn Tuệ A (tên dự định), do chị Lê Thị Lệ Q sinh ra vào ngày 11-10-2020, là con đẻ của anh Nguyễn Văn P.

[9] Về án phí: Theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị đơn phải chịu án phí do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận.

[10] Tuy nhiên, tại đơn đề ngày 24-01-2024 anh p đề nghị xét xử vắng mặt và nhận nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Xét thấy đây là ý kiến hoàn toàn tự nguyện của nguyên đơn. Mặt khác nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí khi khởi kiện nên thấy cần chấp nhận; buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28, Điều 35; Điều khoản 4 Điều 147, Điều 273; Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (anh Nguyễn Văn P) đối với bị đơn (chị Lê Thị Lệ Q) về việc xác định con cho cha.

Xác định: Anh Nguyễn Văn P (sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh) là cha đẻ của cháu Nguyễn Tuệ A1 (tên dự định) do chị Lê Thị Lệ Q (sinh năm 1986; số B, đường L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng) sinh ra vào ngày 11-10-2020 theo Giấy chứng sinh số 11321, quyển số 114/2020 do Bệnh viện P1 cấp ngày 11-10-2020.

Về án phí: Chấp nhận sự tự nguyện nhận nộp án phí của nguyên đơn; nguyên đơn (anh Nguyễn Văn P) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp khi khởi kiện tại biên lai ký hiệu AA/20 21, số 0006964 ngày 27-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Anh P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn; bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà đều có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

140
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp xác định con cho cha số 17/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:17/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:01/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về