TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI
BẢN ÁN SỐ 04/2025/DS-ST NGÀY 17/01/2025 VỀ TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 17/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện K, tỉnh Gia Lai. TAND huyện Kbang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 115/2024/TLST-DS, ngày 21/10/2024. Về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐST –DS, ngày 09/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST- DS, ngày 25/12/2024.
Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C (CSXH).
Địa chỉ: Tòa nhà C, bán đảo L, quận H, TP ..
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Thu H; chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện C, tỉnh Gia Lai.
Địa chỉ chi nhánh: Số B, đường Q, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Bị đơn: Ông Triệu Văn V, sinh năm 1982. Địa chỉ: Làng Đ, xã T, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị V1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Làng Đ, xã T, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Bà H và ông V có đơn xin vắng mặt; bà V1 lần thứ hai đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2024; Bản tự khai ngày 21/10/2024; Biên bản hòa giải ngày 26/11/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Đinh Thị Thu H trình bày:
Vào ngày 17/4/2021, ông Triệu Văn V và người ủy quyền vay là bà Nông Thị V1 đã vay từ nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Ngân hàng C (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) thông qua Phòng giao dịch huyện C, tỉnh Gia Lai với số tiền là 20.000.000 đồng ( hai mươi triệu đồng), theo sổ vay vốn có mã khách hàng 4200023705, mục đích sử dụng tiền vay: Sửa giếng, sửa nhà vệ sinh; thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày 17/4/2021, thời trả nợ cuối cùng là ngày 17/4/2026; kỳ hạn trả nợ 06 tháng/1 lần; lãi suất cho vay là 9%/năm, lãi suất quá hạn 130% lãi suất khi cho vay; hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay tín chấp.
Tuy nhiên, sau khi vay vốn thì ông Triệu Văn V và bà Nông Thị V1 không chấp hành quy ước hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn (Tổ TK&VV) về việc trả nợ gốc theo phân kì và lãi hàng tháng cho Ngân hàng, mặc dù Ngân hàng cùng Tổ TK&VV đã nhiều lần yêu cầu ông V và bà V1 thực hiện việc trả nợ.
Tính đến ngày 17/10/2024 ông V và bà V1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 20.300.822 đồng, bao gồm: Số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng và số tiền nợ lãi trong hạn, tính đến ngày 17/10/2024 là 300.822 đồng.
Đại diện nguyên đơn còn yêu cầu ông V và bà V1, ngoài việc phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc, lãi được ghi trong đơn khởi kiện thì còn phải tiếp tục trả số tiền nợ lãi trong hạn phát sinh đến ngày 17/01/2025 (ngày xét xử sơ thẩm vụ án) là 918.288 đồng. Như vậy, đại diện nguyên đơn yêu cầu ông V và bà V1 phải trả nợ cho Ngân hàng C, thông qua Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C, tỉnh Gia Lai số tiền là 20.749.589 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 20.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn đến ngày 17/01/2025 là 749.589 đồng.
Ngoài ra nguyên đơn còn yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Các tài liệu, chứng cứ được đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C, tỉnh Gia Lai đối với anh Triệu Văn V (bản sao); 01 Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của anh Triệu Văn V (bản sao); 01 Quyết định v/v ủy quyền tham gia tố tụng và thi hành án số 7300, ngày 19/9/2019 (bản photo); 01 Số vay vốn đối với khách hàng vay là anh Triệu Văn V (bản sao); 02 biên bản làm việc ngày 26/9/2024 đối với khách hàng vay là anh Triệu Văn V (bản sao).
Tại Bản tự khai ngày 30/10/2024; Biên bản hòa giải ngày 26/11/2024; đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt ngày 31/12/2024, bị đơn ông Triệu Văn V trình bày:
Nội dung Ngân hàng C khởi kiện, do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Đinh Thị Thu H - Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng CSXH huyện C, tỉnh Gia Lai trình bày là đúng sự thật. Cụ thể, vào ngày 17/4/2021, ông và bà V1 đã vay từ nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Ngân hàng C (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) thông qua Phòng giao dịch huyện C, tỉnh Gia Lai với số tiền là 20.000.000 đồng, theo số vay vốn có mã khách hàng 4200023705; mục đích sử dụng tiền vay: Sửa giếng, sửa nhà vệ sinh; thời hạn vay là 60 tháng, kể từ ngày 17/4/2021 đến thời trả nợ cuối cùng là ngày 17/4/2026; kỳ hạn trả nợ 06 tháng/1 lần; lãi suất cho vay là 9%/năm, lãi suất quá hạn 130% lãi suất khi cho vay; hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay tín chấp.
Tuy nhiên, sau khi vay vốn thì ông và bà V1 đều không chấp hành quy ước hoạt động của Tổ TK&VV về việc trả nợ gốc theo phân kì và lãi hàng tháng cho Ngân hàng, mặc dù Ngân hàng cùng Tổ TK&VV đã nhiều lần yêu cầu ông và bà V1 thực hiện việc trả nợ.
Tính đến ngày 17/10/2024 thì ông V và bà V1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 20.300.822 đồng, bao gồm: Số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng và số tiền nợ lãi trong hạn đến ngày 17/10/2024 là 300.822 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nông Thị V1: Sau khi vụ án được Tòa án thụ lý, Tòa án nhân dân huyện Kbang đã triệu tập bà V1 đến Tòa làm việc để nhận Thông báo thụ lý vụ án, làm bản tự khai trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tham gia các phiên hoà giải do Toà án tiến hành nhưng bà V1 không hợp tác, trốn tránh vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định. Vì vậy, Toà án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại hai phiên toà được mở lần thứ nhất vào ngày 25/12/ 2024 và phiên tòa mở lần thứ hai vào ngày hôm nay, mặc dù đã được Toà án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng tại phiên tòa; Quyết định Hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bà V1 đã cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xétxử (HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng dân sự:
Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu người vay là bị đơn ông Triệu Văn V có địa chỉ tại làng Đ, xã T, huyện K, tỉnh Gia Lai phải trả số tiền còn nợ theo Sổ vay vốn có mã khách hàng 4200023705 đã ký kết. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai thông báo, tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập bà V1 đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng bà đều cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không ủy quyền cho ai tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng là bà Đinh Thị Thu H và bị đơn ông Triệu Văn V đều vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng: Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là sổ vay vốn có mã khách hàng 4200023705 ghi họ và tên người vay là ông Triệu Văn V và bà Nông Thị V1 là người ủy quyền cho ông V vay vốn; sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ với hình thức bảo đảm tiền vay là cho vay là tín chấp; thời hạn vay là 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 6 tháng/ 1 lần; hộ ông V phải trả lãi đối với khoản vay theo phương thức hàng tháng, ấn định vào ngày 17. Tất cả các điều kiện trên của bên cho vay đã được bên vay là ông V thừa nhận bằng việc ký và nhận số tiền của khoản vay là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Từ khi ông V và bà V1 được vay tiền cho đến nay thì ông bà đã sử dụng vốn vay không hiệu quả, không trả được nợ gốc theo định kỳ và nợ lãi theo cam kết, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở ông bà trả nợ. Nên ông V và bà V1 đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay, điều này cũng đã được ông V thừa nhận; về phía bà V1 luôn vắng mặt, trốn tránh trong các lần Tòa án triệu tập làm việc đã thể hiện việc bà V1 không chấp hành các quy định của pháp luật, bà V1 đã tự chối bỏ quyền tham gia tố tụng của mình, đồng thời cũng mặc nhiên thể hiện việc ông bà vay nợ nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng, khi Ngân hàng khởi kiện thì bà V1 cũng phải có nghĩa vụ cùng với ông V trả nợ cho Ngân hàng.
Từ những phân tích trên, căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Triệu Văn V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị V1 phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 20.749.589 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 20.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn được tính đến ngày 17/01/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) là 749.589 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh đối với khoản vay theo thỏa thuận là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm (DSST):
Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí DSST;
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí, được chính quyền địa phương xác nhận, nên được miễn nộp án phí DSST.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều khoản: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 93; Điều 94; Điều 95; Điều 96; Điều 108; Điều 144; Điều 147; Điều 179; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 103; Điều 117; Điều 118; Điều 119; Điều 280; Điều 288; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C. Buộc bị đơn ông Triệu Văn V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị V1 phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng C thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C, tỉnh Gia Lai số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng là 20.749.589 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 20.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn được tính đến ngày 17/01/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) là 749.589 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn ông Triệu Văn V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị V1.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp về hợp đồng tín dụng số 04/2025/DS-ST
| Số hiệu: | 04/2025/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện KBang - Gia Lai |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 17/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về