Bản án về tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa số 03/2024/KDTM-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 03/2024/KDTM-ST NGÀY 19/08/2024 VỀ TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Ngày 19 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại đã thụ lý số 02/2024/KDTM-ST ngày 22/4/2024, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Văn T – Chức vụ : Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc. Địa chỉ trụ sở chính: số ll/2A khu phố Đồng A, Phường Tân ĐH, Thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: ông Đinh Quang H, sinh năm 1971. Địa chỉ : số 111/B Phạm B, Phường ss, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: chị Trương Thanh L, sinh năm 1990. Địa chỉ : phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: số 250A, N, Phường FF, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Công ty TNHH Kim Khí HS Người đại diện theo pháp luật: chị Lê Thanh Th, sinh năm 1998. Chức vụ : Giám đốc. Địa chỉ: số 145A, ấp A, xã B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

(Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn có đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/01/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Trương Thanh L, anh Đinh Quang H là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại dịch vụ S trình bày :

Ngày 29/5/2023, Công ty TNHH Sản xuất thương mại dịch vụ TS (gọi tắt Công ty TS) do ông Hoàng Văn T - Giám đốc làm đại diện có ký Hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty TNHH Kim Khí HS do chị Lê Thanh Th đại diện theo pháp luật. Nội dung hợp đồng là bên bán sẽ bán cho bên mua các loại hàng hóa gồm: dù, tôn, gỗ. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa có điều khoản, khi bên bán giao hàng cho bên mua thì bên mua phải thanh toán tiền hàng đợt giao hàng cũ, bên bán mới giao đợt hàng tiếp theo cho bên mua.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TS đã giao hàng cho Công ty TNHH Kim Khí HS tổng cộng 06 đợt; trong đó 04 đợt giao hàng bên Công ty Kim Khí HS thanh toán đầy đủ, đến đợt giao hàng thứ 5 thì Công ty Kim Khí HS đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Giá trị đợt giao hàng thứ 5 ngày 12/7/2023 là 216.615.000 đồng. Công ty TS đã giao đầy đủ hàng hóa cho Công ty TNHH Kim Khí HS; phía Công ty TNHH Kim Khí HS thanh toán được 90.000.000 đồng và còn nợ lại tiền hàng; vì vậy nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán nhưng không trả. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty TS đã thực hiện nghiêm túc các điều khoản của hợp đồng. Ngày 22/8/2023, phía Công ty TNHH Kim Khí HS lập biên bản xác nhận số nợ chưa thanh toán cho bên Công ty TS số tiền là 96.615.000 đồng. Bên mua cam kết se trả tiền cho bên bán từ ngày 16/9/2023 trở đi mỗi ngày trả 10.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ tiền hàng và đề nghị bên bán giao tiếp đợt hàng sau. Biên bản xác nhận nợ này do Công ty Kim Khí HS lập, ký tên đóng dấu và chụp hình gửi mail cho Công ty TS; bản chính bên Công ty TNH Kim Khí HS giữ.

Ngày 14/9/2023, bên bán đã giao đầy đủ số lượng háng hóa cho bên mua (kèm theo phiếu xuất kho) nhưng đến nay bên mua vẫn không thanh toán số nợ cũ lẫn nợ mới cho bên bán. Tổng số tiền bên công ty Kim Khí HS còn nợ Công ty TS số tiền còn nợ là 212.120.000 đồng. Đến nay, Công ty Kim Khí HS đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Công ty TS yêu cầu Công ty Kim Khí HS thanh toán toàn bộ số tiền gốc còn nợ là 211.120.00 đồng theo tin nhắn xác nhận nợ của chị Lê Thanh Th.

Đồng thời, Công ty TNHH Kim Khí HS trả lãi suất chậm trả theo Điều 11, Nghị Quyết 01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó mức lãi suất nợ quá hạn được tính theo lãi suất trung bình trên thị trường của ít nhất 03 Ngân hàng Thương mại gồm Ngân hàng Vietcombank, Ngân hàng Vietinbank, Ngân hàng Agribank cụ thể như sau:

Lãi suất quá hạn Ngân hàng Vietcombak: 6,4%/ năm x 150% 9,6%/năm = 0,8%/ tháng.

Ngân hàng Vietinbank: 5,8%/ năm x 150% = 8,7%/năm = 0.7%/ tháng. Ngân hàng Agribank: 7,4%/ năm x 150% = 11,1%/năm = 0,9% / tháng.

Lãi suất quá hạn trung bình 3 ngân hàng nêu trên: 9,8%/ năm, 0,8%/tháng.

Lãi trên số nợ 96.615.000 đồng (theo biên bản xác nhận công nợ ngày 22/8/2023) Thời gian: Từ 22/8/2023 đến 30/4/2024 là 08 tháng 08 ngày - Số tiền: 96.615.000 đồng: 100 x 0,8 x 8 = 6.183.360 đồng.

Lãi trên số nợ 114.505.000 đồng [211.120.000 đồng - 96.615.000 đồng = 114.505.000 đồng (theo tin nhắn xác nhận nợ của bà Lê Thanh Th ngày 20/11/2023)].

Thời gian: Từ 20/11/2023 đến 30/4/2024 là 05 tháng 10 ngày Số tiền:

114.505.000: 100 x 0,8 x 5 = 4.580.200 đồng. Tổng số lãi tạm tính: 6.183.360 +4.580.200 = 10.763.560 đồng. Tổng cộng số tiền Công ty TNHH Kim Khí HS phải trả cho Công ty TNHH sản suất thương mại dịch vụ TS tạm tính đến ngày 30/4/2024 là 211.120.000 + 10.763.560 = 221.883.560 đồng.

Tại phiên hòa giải đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS thay đổi yêu cầu khởi kiện là phía Công ty TS yêu cầu Công ty Kim Khí HS trả tiền mua bán hàng hóa còn nợ gốc là 211.120.000 đồng; thời hạn trả là 02 tháng.

Công ty TNHH Sản xuất Thương mại dịch vụ TS rút phần yêu cầu Công ty Kim Khí HS trả phần tiền lãi 10.763.560 đồng; phía Công ty TS không yêu cầu Công ty TNHH Kim Khí HS trả phần tiền lãi.

Nay Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty TNHH Kim Khí HS thanh toán cho Công ty TNHH sản suất thương mại dịch vụ TS số tiền mua bán hàng hóa còn nợ là 211.120.000 đồng, thanh toán trong vòng hai tháng.

- Bị đơn Công ty TNHH Kim Khí HS (đại diện theo pháp luật chị Lê Thanh Th) trình bày: Chị Th thống nhất với lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS về thời gian mua bán hàng hóa. Do hiện nay việc kinh doanh của Công ty gặp nhiều khó khăn nên chưa thể thanh toán số tiền mua bán hàng hóa còn nợ là 211.120.000 đồng.

Nay Công ty TNHH Kim Khí HS đồng ý thanh toán cho Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS số tiền mua bán hàng hóa còn nợ là 211.120.000 đồng, xin trả dần hàng tháng, trong thời hạn 02 tháng phía Công ty không khả năng thanh toán theo yêu cầu khởi kiện của Công ty TS.

- Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ và tiến hành thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Đại diện theo pháp luật của nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật.

+ Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 91, Điều 228, Điều 238, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 3, Điều 50, Điều 55 Luật Thương Mại; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty TNHH Kim Khí HS trả cho Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS số tiền mua bán hàng hóa còn nợ 211.120.000 đồng; Đình chỉ phần yêu cầu Công ty TS yêu cầu Công ty TNHH Kim Khí HS trả tiền lãi 10.763.560 đồng. Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, xét thấy: Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS về việc yêu cầu Công ty TNHH Kim Khí HS trả số tiền mua bán hàng hóa còn nợ. Nguyên đơn và bị đơn đều có đăng ký kinh doanh; phát sinh tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp Kinh doanh thương mại - Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết, xét thấy: Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các đương sự phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, bị đơn có địa chỉ tại ấp A, xã MB, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS (gọi tắc là Công ty TS), đại diện theo ủy quyền anh Đinh Quang H và chị Trương Thanh L và Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kim Khí HS (đại diện theo pháp luật chị Lê Thanh Th) đều có đơn vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt, do nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS là chị Trương Thanh L và anh Đinh Quang H vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến là Công Ty TS thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Công ty TNHH Kim Khí HS thanh toán một lần cho Công ty TNHH sản suất thương mại dịch vụ TS số tiền mua bán hàng hóa còn nợ là 211.120.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 29/5/2023, Công ty Tu S đại diện theo pháp luật là ông Hoàng Văn T – Chức vụ: Giám đốc Công ty T S với Công ty TNHH Kim Khí HS (đại diện theo pháp luật là chị Lê Thanh Th – Chức vụ: Giám đốc) có ký hợp đồng mua bán hàng hóa. Nội dung hợp đồng là bên bán sẽ bán cho bên mua các loại hàng hóa gồm: 3.000kg Dù 13, 16, 19;

500kg Tôn 25 Ron trắng nhỏ; 3.000kg Tôn 4, Tôn 5, Tôn 6, Tôn 75 ron đen;

Tôn 100 ron trắng nhỏ; 500kg Gỗ 25 ron trắng nhỏ; 2.000kg gỗ 4, gỗ 5, gỗ 6, gỗ 75 ron đen; 100kg gỗ ron đen cho Công ty Kim Khí Hoàng S đã nhận đủ hàng hóa theo Hợp đồng mua bán đã ký kết với giá tiền 358.100.000 đồng cũng được Công ty TNHH Kim Khí HS thừa nhận số hàng hóa và giá tiền nêu trên.

[3.1] Tại thời điểm ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 29/5/2023 thì đại diện theo pháp của Công ty TS và Công ty TNHH Kim Khí HS có khả năng bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định. Vì vậy, khi ký Hợp đồng giữa đại diện theo pháp luật của hai Công ty là ông T và chị Th, đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định pháp luật. Việc giao kết hợp đồng được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội; phù hợp quy định tại Điều 117 của Bộ luật tố tụng dân sự nên có giá trị pháp lý. Sau khi, ký hợp đồng Công ty TS thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng bị đơn chưa thực hiện theo hợp đồng đã ký kết. Quá trình thực hiện hợp đồng thì Công ty TNHH Kim Khí HS đã thanh toán cho Công ty TS số tiền mua bán hàng hóa là 146.980.000 đồng còn nợ lại 211.120.000 đồng; đối với số nợ này cũng được hai bên xác nhận công nợ ngày 22/8/2023.

[3.2] Đồng thời, theo văn bản ý kiến ngày 17/7/2024; đại diện theo pháp luật của Công ty Kim Khí H S là chị Lê Thanh Th trình bày; Công ty có ký Hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 29/5/2023 và Biên bản xác nhận công nợ về việc xác nhận khoản nợ giữa các bên ngày 22/8/2023 với Công ty TS; chị Th thừa nhận Công ty TNHH Kim Khí HS hiện nay còn nợ lại số tiền như đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày; phù hợp với lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đây là tình tiết không cần phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Công ty TNHH Kim Khí HS đồng ý thanh toán cho Công ty TS số tiền nợ nêu trên. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định Công ty TNHH Kim Khí HS có ký Hợp đồng mua bán hàng hóa và Biên bản xác nhận công nợ thì Công ty TNHH Kim Khí HS còn nợ Công ty TS số tiền mua bán hàng hóa. Do đó, Công ty Tu So yêu cầu Công ty TNHH Kim Khí HS có nghĩa vụ trả số tiền 212.120.000 đồng là phù hợp và có căn cứ theo quy định tại Điều 50 và Điều 55 Luật thương mại.

[3.3]. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 17/7/2024 của đại diện theo ủy quyền của Công ty TS trình bày giữ nguyên yêu cầu trong các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Công ty TS yêu cầu Công ty TNHH Kim Khí HS thanh toán một lần cho Công ty TNHH sản suất thương mại dịch vụ TS số tiền mua bán hàng hóa còn nợ là 211.120.000 đồng và yêu cầu này Công ty TNHH Kim Khí HS không đồng ý. Xét thấy, tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù Tòa án đã giải thích các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này cho đại diện theo ủy quyền của Công ty TS nhưng phía Công ty TS vẫn giữ nguyên yêu cầu trên. Xét yêu cầu trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của Công ty TS là không có căn cứ nên không chấp nhận.

[4]. Đối với yêu cầu tính lãi: đại diện hợp pháp cho Công ty TS yêu cầu Công ty TNHH Kim Khí HS trả lãi chậm trả tính từ ngày 22/8/2023 đến ngày 30/4/2024, mức lãi suất 0,8%/tháng, lãi được tính như sau: 211.120.000 đồng x 0,8 % x 8 tháng = 10.763.560 đồng. Theo Hợp đồng mua bán hàng hóa và Biên bản xác nhận công nợ thì các điều khoản và nội dung của hợp đồng không thể hiện nghĩa vụ chậm thanh toán phải chịu lãi suất; hơn nữa phía Công ty TS không có chứng cứ, chứng minh lãi suất chậm trả. Tuy nhiên, đại diện hợp pháp của Công ty TS đã rút yêu cầu Công ty TNHH Kim Khí HS trả số tiền lãi chậm trả là 10.763.560 đồng. Xét việc tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện và thay đổi yêu cầu khởi kiện của đại diện theo ủy quyền Công ty TS là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên chấp nhận theo quy định tại Điều 217 và Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử đình chỉ không xem xét.

[5]. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Công ty TS không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Công ty TNHH Kim Khí HS phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty TS là anh Đinh Thanh H, chị Trương Thanh L và đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Kim Khí HS là chị Lê Thanh Th đều vắng mặt tại phiên tòa nên quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo thực hiện theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1, Điều 30, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 92, Điều 117, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 217, Điều 228, Điều 238, Điều 244 và Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự và Điều 50, Điều 55 Luật Thương Mại;

khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại dịch vụ TS.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH sản xuất thương mại TS yêu cầu Công ty TNHH Kim Khí HS trả số tiền lãi là 10.763.560 (Mười triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm sáu mươi đồng).

Buộc Công ty TNHH Kim Khí HS trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại dịch vụ TS số tiền mua bán hàng hóa còn nợ là 211.120.000 đồng (Hai trăm mười một triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2/. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

+ Công ty TNHH Kim Khí HS phải chịu 10.556.000 đồng (Mười triệu, năm trăm năm mươi sáu nghìn đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

+ Công ty TNHH sản xuất thương mại TS không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.417.000 đồng (Năm triệu, bốn trăm mười bảy nghìn đồng) theo biên lai số 0007301 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

3/. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng nguyên đơn Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ TS và bị đơn Công ty TNHH Kim Khí HS vắng mặt nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

184
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa số 03/2024/KDTM-ST

Số hiệu:03/2024/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lấp Vò - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:19/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về