Bản án về tranh chấp tiền lương số 852/2024/LĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 852/2024/LĐ-ST NGÀY 19/03/2024 VỀ TRANH CHẤP TIỀN LƯƠNG

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2023/TLST-LĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp tiền lương”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 801/2024/QĐXXST-LĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1088/2024/QĐST-LĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc H, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Số F đường L, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, bà H có mặt.

2. Bị đơn: Công ty TNHH T.

Trụ sở: 12 Đình P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Cao Thanh S ( Giấy ủy quyền ngày 01/12/2023 của Công ty TNHH T).

Địa chỉ: Xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình, ông S vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện ngày 03/9/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Ngọc H trình bày:

Bà Lê Ngọc H làm việc từ ngày 01/4/2023 tại Công ty TNHH T với chức vụ giám sát bán hàng, mức lương thử việc là 9.180.000 đồng/tháng, thời gian thử việc là 02 tháng, Công ty đã chi trả tiền lương tháng 4/2023 và tháng 5/2023. Sau 02 tháng thử việc, lương chính thức của bà H là 13.500.000 đồng/tháng nhưng Công ty TNHH T không ký hợp đồng lao động với bà H dù bà H được cấp trên đánh giá là hoàn thành tốt công việc. Tuy vậy, bà H vẫn tiếp tục làm việc. Từ tháng 6/2023 đến khi nhận thông báo của Công ty TNHH T cho toàn bộ nhân viên nghỉ từ ngày 15/8/2023 với lý do Công ty đang gặp khó khăn và hẹn chi trả lương bằng hình thức quy đổi thành sản phẩm của Công ty, bà H không được Công ty chi trả tiền lương. Nay bà H khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T chi trả tiền lương từ ngày 01/6/2023 cho đến ngày nghỉ việc 15/8/2023 với số tiền 39.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà H xác nhận đồng ý nghỉ việc từ ngày 15/8/2023 theo thông báo cho nhân viên nghỉ việc của Công ty TNHH T, tuy nhiên bà H vẫn yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là tiền lương trong những ngày không được làm việc kể từ sau ngày 15/8/2023 đến thời điểm xét xử ngày 19/3/2024.

Bị đơn là Công ty TNHH T ông Cao Thanh S là người đại diện theo ủy quyền vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có bản tự khai trình bày ý kiến như sau:

Công ty TNHH T không tuyển dụng bà H vào làm việc tại Công ty. Bà H chỉ là cộng tác viên bán hàng, Công ty TNHH T có chi trả tiền hoa hồng cho bà H. Công ty TNHH T không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà H về tiền lương, tiền bồi thường thiệt hại, chỉ chấp nhận trả tiền hoa hồng cho cộng tác viên 1.200.000 đồng, Công ty không có yêu cầu phản tố, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì khác và không yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thu thập thêm tài liệu, chứng cứ gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn bà Lê Ngọc H khởi kiện Công ty TNHH T về “Tranh chấp tiền lương”. Công ty TNHH T có trụ sở tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Ngọc H có mặt, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Cao Thanh S vắng mặt, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án được xét xử theo thủ tục chung.

[2.2] Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Công ty TNHH T thanh toán số tiền 57.500.000 đồng. Tại Đơn khởi kiện ngày 03/9/2023, bà H yêu cầu như sau: “Công ty TNHH T và DV C phải thanh toán tiền lương cho tôi. Cu thể, phải thanh toán tiền lương từ ngày 01/6/2023 cho đến ngày nghỉ việc là ngày 15/8/2023. Với tổng số tiền là 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại do công ty không chi trả lương cho tôi là 20.000.000 đồng. Tổng cộng 59.000.000 đồng”. Xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, không thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Bà Lê Ngọc H yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, theo điểm a khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động thì tranh chấp về tiền lương bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải cơ sở. Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Lao động quy định: “Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Về phía bà H, sau khi phát hiện hành vi chậm chi trả tiền lương từ phía Công ty TNHH T xảy ra từ tháng 6/2023 đến tháng 8/2023, vì cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại nên bà H đã yêu cầu hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải vào tháng 9/2023. Như vậy là còn trong thời hiệu 06 tháng theo quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Lao động. Hòa giải viên lao động đã triệu tập các bên tranh chấp để tiến hành hòa giải vào ngày 18/9/2023 và ngày 29/9/2023, Công ty TNHH T vắng mặt trong phiên hòa giải ngày 18/9/2023 nhưng có mặt trong phiên hòa giải ngày 29/9/2023. Hòa giải viên lao động đã lập Biên bản hòa giải tranh chấp lao động cá nhân không thành là phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 188 Bộ luật Lao động. Ngày 03/9/2023, bà Lê Ngọc H nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức là còn trong thời hiệu khởi kiện 01 năm theo quy định tại khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động.

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[4.1] Về hiệu lực của hợp đồng thử việc: Về hình thức, hợp đồng không được xác lập bằng văn bản. Bà Lê Ngọc H tự nguyện giao kết hợp đồng với Công ty TNHH T. Về phía Công ty TNHH T, hợp đồng không được người đại diện theo pháp luật của Công ty ký kết bằng văn bản nhưng theo văn bản Đánh giá nhân viên định kỳ/Thử việc ngày 09/6/2023 của Công ty TNHH T thì ngày vào làm việc của bà H là ngày 01/4/2023 với vị trí giám sát bán hàng. Theo Giấy báo nợ/có ngày 17/5/2023 do Ngân hàng T1 ký xác nhận và đóng dấu thể hiện Công ty TNHH T đã trả tiền lương tháng 4/2023 cho bà H số tiền 9.180.000 đồng. Như vậy, có đầy đủ cơ sở để nhận định Công ty TNHH T đã xác lập hợp đồng thử việc với bà Lê Ngọc H, ngày xác lập là ngày 01/4/2023. Xét thấy, hợp đồng thử việc giữa các bên được giao kết tự nguyện, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên căn cứ Điều 24 Bộ luật Lao động, hợp đồng thử việc ngày 01/4/2023 giữa bà Lê Ngọc H và Công ty TNHH T có hiệu lực pháp luật, là căn cứ để phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên giao kết.

[4.2] Công ty TNHH T cho rằng không tuyển dụng bà H làm việc, bà H chỉ là cộng tác viên bán hàng và Công ty TNHH T có chi trả tiền hoa hồng cho bà H theo doanh số bán hàng. Hội đồng xét xử nhận định, lời trình bày của Công ty TNHH T không được bà H chấp nhận. Bên cạnh đó Công ty TNHH T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh bà H là cộng tác viên bán hàng. Theo Thông báo số 12-2023/TB-CL ngày 21/4/2023 của Công ty TNHH T có ghi rõ: “1. Đối với giám sát bán hàng đã hết thời gian thử việc: - Nếu doanh số từ 50% KPIs trở lên: Sẽ tính như chính sách hiện hành. - Nếu doanh số dưới 50% KPIs sẽ tính tiếp thời gian học việc (85% Lương cơ bản + Phụ Cấp) đến hết 30/4/2023. 2. Đối với giám sát bán hàng còn trong thời gian thử việc: sẽ tính 85% Lương cơ bản + Phụ cấp”. Xét thấy, Thông báo số 12-2023/TB-CL ngày 21/4/2023 được người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T ký tên và đóng dấu. Chứng cứ này chứng minh Công ty TNHH T có nhận bà H vào thử việc và công ty đã tính lương cho bà H trên cơ sở lương cơ bản, phụ cấp. Theo Giấy báo nợ/có ngày 17/5/2023 do Ngân hàng T1 ký xác nhận và đóng dấu thể hiện Công ty TNHH T trả tiền lương tháng 4/2023 số tiền 9.180.000 đồng, Giấy báo nợ/có ngày 19/6/2023 thể hiện Công ty TNHH T trả tiền hoa hồng tháng 5/2023 cho bà H số tiền 9.180.000 đồng. Các tài liệu này là chứng cứ để chứng minh Công ty TNHH T có nhận bà H vào làm việc với vị trí giám sát, số tiền 9.180.000 đồng mà Công ty TNHH T trả cho bà H hàng tháng là tiền lương thử việc, không phải là tiền hoa hồng như ý kiến của Công ty TNHH T. Ngoài ra, ngày 19/7/2023 Công ty TNHH T ký Thông báo số 26- 2023/TB-CL, ngày 03/8/2023 ký Thông báo số 32-2023/TB-CL về việc chậm trả lương cho người lao động giữ vị trí giám sát bán hàng. Các thông báo này đều được người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T là bà Châu Nguyễn Thùy L ký tên và có đóng dấu của Công ty TNHH T. Như vậy, Công ty TNHH T cho rằng không tuyển dụng bà H làm việc, bà H chỉ là cộng tác viên bán hàng là không có cơ sở để chấp nhận.

[4.3] Về kết quả thử việc: Bà Lê Ngọc H trình bày sau khi thời hạn thử việc 02 tháng kết thúc vào ngày 01/6/2023, bà H không nhận được bất kỳ thông báo nào của Công ty TNHH T về việc chấm dứt thử việc. Công ty TNHH T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh có ra thông báo kết quả thử việc do bà H. Hội đồng xét xử nhận định: Điều 27 Bộ luật Lao động quy định như sau: “1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc”. Xét thấy, Công ty TNHH T không ra thông báo kết quả thử việc trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thử việc là trái quy định tại Điều 27 Bộ luật Lao động. Vì vậy, có cơ sở để nhận định bà H thử việc đạt yêu cầu của Công ty TNHH T.

[4.4] Về xác định thời gian làm việc của bà H sau khi kết thúc thời gian thử việc: Theo bà H trình bày thì sau khi kết thúc thời gian thử việc, bà H vẫn tiếp tục làm việc tại Công ty TNHH T đến khi Công ty cho thôi việc ngày 15/8/2023, Hội đồng xét xử nhận định: Ngày 19/7/2023, Công ty TNHH T ký Thông báo số 26-2023/TB-CL, ngày 03/8/2023 ký Thông báo số 32-2023/TB- CL về việc chậm trả lương cho người lao động giữ vị trí giám sát bán hàng, trong đó có bà Lê Ngọc H. Như vậy, có đầy đủ cơ sở để nhận định sau khi kết thúc thời gian thử việc ngày 01/6/2023, bà H vẫn tiếp tục làm việc tại Công ty TNHH T. Công ty TNHH T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh bà H nghỉ việc trước ngày 15/8/2023. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận lời trình bày của bà H, xác định bà H làm việc cho đến ngày 15/8/2023.

[4.5] Về xác định quan hệ lao động sau khi kết thúc hợp đồng thử việc: Theo Án lệ số 20/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nếu người sử dụng lao động có thư mời làm việc với nội dung xác định loại hợp đồng lao động và thời gian thử việc, người lao động đã thử việc theo đúng thời gian thử việc trong thư mời làm việc. Hết thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động và người lao động không có thỏa thuận nào khác. Trường hợp này phải xác định người lao động và người sử dụng lao động đã xác lập quan hệ hợp đồng lao động. Xét thấy, mặc dù Công ty TNHH T không phát hành thư mời thử việc nhưng thực tế giữa các bên có xác lập quan hệ thử việc như nhận định tại đoạn [4.2] của bản án. Sau khi hết thời gian thử việc, bà H vẫn tiếp tục làm việc cho đến ngày 15/8/2023 nhưng Công ty TNHH T và bà H không có thỏa thuận nào khác. Do đó, áp dụng Án lệ số 20/2018/AL ngày 17/10/2018, Hội đồng xét xử nhận định Công ty TNHH T đã xác lập hợp đồng lao động với bà Lê Ngọc H sau khi hết thời gian thử việc.

[4.6] Về xác định loại hợp đồng lao động: Do Công ty TNHH T không ký kết hợp đồng lao động với bà H và không xác định loại hợp đồng lao động xác lập sau thời gian thử việc nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật để xác định loại hợp đồng lao động. Khoản 2 Điều 25 Bộ luật Lao động quy định về thời gian thử việc như sau: “Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên”; điểm b khoản 1 Điều 20 Bộ luật Lao động 2019 quy định về loại hợp đồng như sau: “Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng”. Trường hợp này, bà H đã thử việc 60 ngày với vị trí giám sát bán hàng nên căn cứ khoản 2 Điều 25, khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động, Hội đồng xét xử nhận định hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH T với bà H là hợp đồng lao động có thời hạn. Các bên không thỏa thuận về thời hạn của hợp đồng lao động tuy nhiên tại phiên tòa, nguyên đơn bà H xác nhận đồng ý theo thông báo cho nhân viên nghỉ việc từ ngày 15/8/2023 của Công ty TNHH T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hợp đồng lao động giữa bà H và Công ty TNHH T có thời hạn đến ngày 15/8/2023.

[4.7] Về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng lao động:

[4.7.1] Theo trình bày của bà Lê Ngọc H, trong thời gian làm việc tại Công ty TNHH T, bà H đã thực hiện tốt công việc được giao theo thỏa thuận giao kết hợp đồng lao động ngày 01/4/2023. Công ty TNHH T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh bà H không hoàn thành công việc được giao hoặc có vi phạm nội quy kỷ luật của công ty. Như vậy, có cơ sở để nhận định bà H đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng.

[4.7.2] Theo trình bày của Công ty TNHH T, Công ty không có nghĩa vụ trả lương cho bà H do không ký kết hợp đồng lao động với bà H, Hội đồng xét xử nhận định: Công ty TNHH T tuy không ký kết hợp đồng với bà H bằng hình thức văn bản nhưng vẫn được xem là có giao kết hợp đồng lao động như nhận định tại đoạn [4.5] và [4.6] của bản án. Đối với ý kiến của Công ty TNHH T cho rằng bà H nộp báo cáo doanh số bán hàng không chính xác, Hội đồng xét xử nhận định: Công ty TNHH T không chứng minh được báo cáo doanh số như thế nào là đúng hoặc đạt yêu cầu. Theo Thông báo số 26-2023/TB-CL ngày 19/7/2023 và Thông báo số 32-2023/TB-CL ngày 03/8/2023 thể hiện Công ty thông báo về việc chậm trả lương cho người lao động giữ vị trí giám sát bán hàng, bà Lê Ngọc H giữ vị trí giám sát bán hàng. Như vậy có đầy đủ cơ sở để nhận định, Công ty TNHH T đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền lương cho bà H.

[4.8] Xét yêu cầu của bà Lê Ngọc H buộc Công ty TNHH T chi trả khoản tiền lương còn thiếu từ ngày 01/6/2023 đến ngày 15/8/2023 với mức lương 15.000.000 đồng/tháng, bồi thường tiền lương 20.000.000 đồng trong những ngày không được làm việc kể từ sau ngày 15/8/2023 đến thời điểm xét xử, Hội đồng xét xử nhận định:

[4.8.1] Bà H yêu cầu Công ty TNHH T thanh toán tiền lương từ ngày 01/6/2023 đến ngày 15/8/2023: Đối chiếu Giấy báo nợ/có ngày 17/5/2023 do Ngân hàng T1 ký xác nhận và đóng dấu thể hiện Công ty TNHH T trả lương tháng 4/2023 số tiền 9.180.000 đồng, Giấy báo nợ/có ngày 19/6/2023 thể hiện Công ty TNHH T trả tiền lương tháng 5/2023 số tiền 9.180.000 đồng. Như vậy, Công ty TNHH T còn nợ bà H tiền lương từ ngày 01/6/2023. Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động quy định: “Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động”. Công ty TNHH T không chứng minh được bà H không đạt yêu cầu thử việc, không chứng minh được cơ sở để chấm dứt hợp đồng lao động theo một trong những trường hợp được quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động. Do đó, Công ty TNHH T có trách nhiệm thanh toán đầy đủ tiền lương và phụ cấp cho bà H trong khoảng thời gian bà H còn làm việc cho Công ty từ ngày 01/6/2023 đến ngày 15/8/2023.

[4.8.2] Về mức lương Công ty TNHH T phải chi trả cho bà H, Hội đồng xét xử nhận định: Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động quy định: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Công ty TNHH T đã trả cho bà H tiền lương trong thời gian thử việc tháng 4/2023 số tiền 9.180.000 đồng, tháng 5/2023 số tiền 9.180.000 đồng. Theo văn bản Chính sách tuyển dụng của Công ty TNHH T, tiền lương và phụ cấp đối với vị trí quản lý kinh doanh là 13.000.000 đồng/tháng. Nay bà H yêu cầu chi trả theo mức lương 15.000.000 đồng/tháng là chưa phù hợp với quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động nên Hội đồng xét xử buộc Công ty TNHH T chi trả tiền lương cho bà H theo mức lương 13.000.000 đồng/tháng.

[4.8.3] Tiền lương Công ty TNHH T phải trả cho bà H tính từ ngày 01/6/2023 đến ngày 15/8/2023 là: 13.000.000 đồng x 2,5 (tháng) = 32.500.000 (ba mươi hai triệu, năm trăm nghìn) đồng.

[4.8.4] Bà H yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là tiền lương trong những ngày không được làm việc kể từ sau ngày 15/8/2023 đến thời điểm xét xử ngày 19/3/2024, Hội đồng xét xử nhận định: Tại phiên tòa, bà H xác nhận đồng ý nghỉ việc từ ngày 15/8/2023 theo Thông báo về việc dừng cộng tác số 34-2023/TB-CL ngày 15/8/2023 của Công ty TNHH T. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động, Hội đồng xét xử xác định Hợp đồng lao động giữa bà H với Công ty TNHH T chấm dứt theo thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động kể từ ngày 15/8/2023. Nay bà H yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng là không có cơ sở để chấp nhận.

[5] Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết đối với khoản tiền lương mà Công ty TNHH T đã trả cho bà Lê Ngọc H, không yêu cầu giải quyết tiền bảo hiểm xã hội, tiền bảo hiểm thất nghiệp, tiền bảo hiểm y tế và tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Bà Lê Ngọc H không phải chịu tiền án phí. Công ty TNHH T phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các điều 25, 27, 36, 90 và Điều 94 Bộ luật Lao động năm 2019; - Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Ngọc H: Buộc bị đơn Công ty TNHH T thanh toán cho bà Lê Ngọc H tiền lương kể từ ngày 01/6/2023 đến ngày 15/8/2023 số tiền 32.500.000 (ba mươi hai triệu, năm trăm nghìn) đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Ngọc H về việc buộc Công ty TNHH T bồi thường số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng là tiền lương trong những ngày không được làm việc kể từ sau ngày 15/8/2023 đến thời điểm xét xử ngày 19/3/2024.

Việc giao nhận tiền được thực hiện dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho bên được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Công ty TNHH T phải chịu số tiền án phí 975.000 (chín trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng, Công ty TNHH T chưa nộp tiền án phí. Bà Lê Ngọc H không phải chịu tiền án phí.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

277
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp tiền lương số 852/2024/LĐ-ST

Số hiệu:852/2024/LĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân TP. Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:19/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về