TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 56/2024/LĐ-PT NGÀY 26/04/2024 VỀ TRANH CHẤP TIỀN LƯƠNG
Trong các ngày 19 và ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số 17/2024/TLPT-LĐ, ngày 16 tháng 01 năm 2024 về: "Tranh chấp Tiền lương".
Do bản án lao động sơ thẩm số 110/2023/LĐ-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 977/2024/QĐ-PT, ngày 05 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 3684/2024/QĐ-PT, ngày 26 tháng 3 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 4938/2024/QĐ-PT, ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Phương M. Sinh năm 1969. Địa chỉ: B, Chung cư T, đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Thùy D. Sinh năm 2000. Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà số G đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số công chứng: 00006425; Quyển số 04/2024TP/CC-SCC-HĐGD, ngày 16/4/2024 lập tại Văn phòng C1). (Có mặt)
2. Bị đơn: Tổng Công ty T4 Một thành viên. Trụ sở chính: 257B đường P, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Quốc T. Sinh năm 1976. Chức vụ: Tổng Giám đốc. Địa chỉ: I đường K, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Đinh Phước T1. Phó Giám đốc Nhân sự. (Có mặt).
Bà Võ Thị Thu L. Chuyên viên Phòng Nhân sự. (Vắng mặt ngày 19/4/2024).
Bà Trương Diễm T2. Chuyên viên Phòng Pháp chế. (Có mặt). Cùng địa chỉ: B đường P, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 535/UQ-TCT, ngày 25/3/2024 lập tại Tổng Công ty T4).
3. Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị Phương M.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Phương M trình bày:
Bà Huỳnh Thị Phương M (sau đây gọi là bà M) là người lao động làm việc tại Tổng Công ty T4 (sau đây gọi là Tổng Công ty). Hai bên đã ký Hợp đồng lao động số 55/HĐLĐ/2018, ngày 01/11/2018; Phụ lục hợp đồng số 01/55/HĐLĐ/2018/2019, ngày 30/8/2019; Phụ lục hợp đồng số 02/55/HĐLĐ/2018/2019, ngày 18/11/2019; và các tài liệu liên quan khác, với mức thu nhập là 36.000.000 (ba mươi sáu triệu) đồng/tháng kể từ tháng 4/2021 trở đi.
Ngày 28/5/2021, Tổng Công ty trả lương tháng 5/2021 cho bà M với số tiền là 29.184.300 đồng. Ngày 07/6/2021 qua email, Tổng Công ty gửi cho bà M bảng thu nhập tháng 5/2021, với tiền lương bị giảm 10% tương ứng số tiền 3.600.000 đồng với lý do là Tổng Giám đốc đánh giá kết quả làm việc tháng 5/2021 của bà M loại B nhưng không đưa ra căn cứ giải thích.
Ngày 31/5/2021, Tổng Công ty gửi cho bà M Quyết định số 165/QĐ-TCT, ngày 28/5/2021 qua email với nội dung bà M thôi nhiệm vụ Giám đốc kinh doanh Tổng Công ty T4 và đến nhận công tác làm Giám đốc Trung tâm T4.
Ngày 01/7/2021, qua email Tổng Công ty gửi cho bà M dự thảo Biên bản thông báo điều chỉnh mức lương với nội dung từ tháng 7/2021 mức lương của bà M là 30.600.000 đồng/tháng (bằng 85% mức lương của công việc cũ).
Ngày 20/7/2021 và ngày 27/7/2021 qua đường công văn và qua email bà M không đồng ý với việc Tổng Công ty đã căn cứ vào Khoản 1 Điều 29 Bộ Luật Lao động về chi trả cho bà mức lương là 30.600.000 đồng/tháng.
Bà M đã nhiều lần yêu cầu Tổng Công ty giải quyết về tiền lương của bà, nhưng Tổng Công ty đều không giải quyết thỏa đáng. Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu giải quyết như sau:
- Buộc Tổng Công ty thanh toán 10% tiền lương tháng 5/2021 còn thiếu tương ứng 3.600.000 đồng;
- Buộc Tổng Công ty thanh toán 15% tiền lương còn thiếu của 07 tháng (tạm tính từ tháng 7/2021 đến hết tháng 01/2022) tương ứng là 5.400.000 đồng/tháng × 07 tháng = 37.800.000 đồng;
- Buộc Tổng Công ty thanh toán các khoản tiền lương, tiền công, các khoản thu nhập khác theo quy định của pháp luật cũng như của những tháng làm việc tiếp theo (từ tháng 02/2022 trở đi, nếu có) đúng với kỳ hạn trả lương của Tổng Công ty;
- Buộc Tổng Công ty trả thêm cho bà M các khoản tiền lương, tiền công, phụ cấp và các khoản khác phát sinh liên quan đến việc nhận điều động đến công tác tại Trung tâm T4.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023 nguyên đơn bà M đã thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:
- Buộc Tổng Công ty thanh toán 10% tiền lương tháng 5/2021 còn thiếu tương ứng 3.600.000 đồng.
- Buộc Tổng Công ty thanh toán 15% tiền lương còn thiếu của 24 tháng (tạm tính từ tháng 7/2021 đến hết tháng 6/2023) tương ứng là 5.400.000 đồng/tháng × 24 tháng = 129.600.000 đồng.
- Buộc Tổng Công ty thanh toán 15% tiền lương còn thiếu (5.400.000 đồng/tháng) từ tháng 7/2023 đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn Tổng Công ty T4 Một thành viên có Ông Đinh Phước T1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Tiền lương hàng tháng của người lao động đang công tác tại Tổng Công ty T4 được tính trên cơ sở đánh giá hiệu quả công việc hàng tháng theo xếp loại A++, A+, A, B, C. Tháng 5/2021 Tổng Giám đốc đánh giá bà Huỳnh Thị Phương M xếp loại B nên lương tháng 5/2021 của bà M giảm 10% tương ứng 3.600.000 đồng.
Căn cứ phê duyệt của Tổng Giám đốc Công ty tại Tờ trình số 129/TTr-NS, ngày 23/3/2021 của Phòng Nhân sự về việc điều chỉnh lương đối với bà M từ 30.000.000 đồng/tháng lên 36.000.000 đồng/tháng là do ngoài chức vụ Giám đốc kinh doanh thì bà M còn được phân công thêm một số nhiệm vụ khác. Điều này cũng phù hợp với Hợp đồng lao động hai bên đã ký có nội dung lương được chi trả theo nhiệm vụ công tác và theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân được người phụ trách đánh giá hàng tháng.
Ngày 28/5/2021, Tổng Công ty ban hành Quyết định số 165/QĐ-TCT về việc thôi nhiệm vụ, điều động và bổ nhiệm nhân sự đối với bà M thì bà không còn là Giám đốc kinh doanh và thôi kiêm nhiệm các nhiệm vụ được phân công đã nêu tại Tờ trình 129/TTr-NS, ngày 23/3/2021.
Căn cứ theo Quyết định số 165/QĐ-TCT, ngày 28/5/2021 thì bà M chỉ còn chức danh là Giám đốc Trung Tâm T4 nội bộ nên việc bà M yêu cầu Tổng Công ty chi trả các khoản khác có liên quan đến việc nhận điều động là không có căn cứ. Tổng Công ty đã chi lương cho bà M là 30.600.000 đồng/tháng, kể từ kỳ lương tháng 7/2021 là hoàn toàn hợp lý.
Do đó, Tổng Công ty yêu cầu Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bà M giữ nguyên các yêu cầu tại Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 29 tháng 6 năm 2023.
Tổng Công ty không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Phương M.
Tại bản án sơ thẩm số 110/2023/LĐ-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 244, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 17, Khoản 1 Điều 27, Điều 28 và Điều 29 Bộ luật Lao động;
Căn cứ vào Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH, ngày 12/11/2020 của Bộ L1 hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con;
Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 12 và Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Phương M về việc yêu cầu bị đơn Tổng Công ty T4 Một thành viên thanh toán: 10% tiền lương tháng 5/2021 còn thiếu tương ứng 3.600.000 đồng; thanh toán 15% tiền lương còn thiếu của 24 tháng (từ 07/2021 đến hết tháng 6/2023) tương ứng 5.400.000 đồng/tháng × 24 tháng = 129.600.000 đồng và thanh toán 15% tiền lương còn thiếu (5.400.000 đồng/tháng) từ tháng 7/2023 đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Huỳnh Thị Phương M buộc Tổng Công ty T4 Một thành viên thanh toán các khoản tiền lương, tiền công, các khoản thu nhập khác theo quy định của pháp luật cũng như của những tháng làm việc tiếp theo (từ tháng 02/2022 trở đi, nếu có) đúng với kỳ hạn trả lương của Tổng Công ty T4 Một thành viên và buộc Tổng Công ty T4 Một thành viên trả thêm các khoản tiền lương, tiền công, phụ cấp và các khoản khác phát sinh liên quan đến việc nhận điều động đến công tác tại Trung tâm T4.
3. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Phương M được miễn án phí sơ thẩm.
Tổng Công ty T4 Một thành viên không phải chịu án phí sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Huỳnh Thị Phương M; Tổng Công ty T4 Một thành viên có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngày 09 tháng 10 năm 2023, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Phương M1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án lao động sơ thẩm số 110/2023/LĐ-ST, ngày 27 tháng 9 ngày 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu được xét xử lại vụ án theo hướng buộc bị đơn Tổng công ty T4 Một thành viên phải trả cho nguyên đơn, cụ thể:
1. 10% tiền lương tháng 5 năm 2021 còn thiếu, tương đương số tiền là 3.600.000 đồng.
2. 15% tiền lương (tương đương 5.400.000 đồng/tháng) còn thiếu của 24 tháng (tạm tính từ tháng 7/2021 đến hết tháng 6/2023) tương đương số tiền là 129.600.000 đồng.
3. 15% tiền lương (tương đương 5.400.000 đồng/tháng) từ tháng 7/2023 đến khi bản án được cơ quan thi hành bản án (nếu có).
Tổng số tiền yêu cầu: 3.600.000 đồng + 129.600.000 đồng = 133.200.000 (Một trăm ba mươi ba triệu, hai trăm nghìn) đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn được thực hiện trong thời hạn luật định là hợp lệ. trường hợp kháng cáo của bà Huỳnh Thị Phương M không phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, đủ điều kiện để được xem xét theo luật định.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy rằng Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp và bà M làm việc tại Tổng Công ty T4 theo chế độ hợp đồng lao động, kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu được giải quyết quyền lợi theo chế độ tuyển dụng lao động là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
I/ Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Phương M được thực hiện trong thời hạn luật định là hợp lệ, đủ điều kiện để được xem xét kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
II/ Về nội dung giải quyết vụ án:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Phương M, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do các bên đương sự xuất trình, có cơ sở để xác định Hợp đồng lao động số 55/HĐLĐ/2018, ngày 01/11/2018; Phụ lục hợp đồng số 01/55/HĐLĐ/2018-2019 về việc điều chỉnh chức danh chuyên môn; Ngày 30/8/2019 và ngày 28/5/2021 Tổng Công ty T4 ban hành Quyết định số 165/QĐ-TCT về việc thôi nhiệm vụ Giám đốc kinh doanh đối với bà Huỳnh Thị Phương M, điều động bà M đến nhận công tác tại Trung tâm T4 và bổ nhiệm bà M với chức vụ Giám đốc Trung tâm T4 từ ngày 04/6/2021. Xét các quyết định được ban hành đúng với công việc ngành nghề không trái quy định của pháp luật, đạo đức xã hội.
[2] Trình bày trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tổng Công ty T4 Một thành viên phải trả cho nguyên đơn 3.600.000 đồng tiền lương của tháng 5/2021 còn thiếu; tiền chênh lệch lương từ tháng 7/2021 đến hết tháng 6/2023 số tiền là 129.600.000 đồng; và trả tiếp 15% (tương đương 5.400.000 đồng/tháng) từ tháng 7/2023 đến khi bản án được cơ quan Thi hành án (nếu có). Với tổng số tiền yêu cầu là 133.200.000 (Một trăm ba mươi ba triệu, hai trăm nghìn) đồng.
Xem xét yêu cầu trên của nguyên đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Bà Huỳnh Thị Phương M làm việc tại Tổng Công ty T4 Một thành viên theo chế độ hợp đồng lao động. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà M thừa nhận mức thu nhập 36.000.000 đồng/tháng từ tháng 4/2021, việc Ban lãnh đạo Tổng Công ty giảm lương 3.600.000 đồng của tháng 5/2021 (giảm 10%) do Tổng Giám đốc đánh giá kết quả làm việc (tháng 5/2021) loại B và việc Tổng Công ty từ tháng 7/2021 còn 30.600.000 đồng/tháng (bằng 85% mức lương cũ) là đúng theo kế hoạch điều tiết trả lương của Ban lãnh đạo. Theo Bảng tổng hợp đánh giá kết quả làm việc theo phương pháp BSC và KPI tháng 5/2021 Lãnh đạo Công ty đánh giá bà M xếp loại B do thực hiện không đầy đủ ý kiến, hiệu quả thực hiện công việc của Tổng Giám đốc nên việc người lao động bị giảm tiền lương (tháng 5/2021) số tiền 3.600.000 đồng là phù hợp với quy định nội bộ. Việc nguyên đơn kháng cáo yêu cầu phải trả đủ 10% lương tháng 5/2021 còn thiếu, tương ứng số tiền là 3.600.000 đồng, không được chấp nhận.
Tương tự, đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc trả 15% (tương đương 5.400.000 đồng/tháng) còn thiếu của 24 tháng (tạm tính từ tháng 7/2021 đến hết tháng 6/2023) tương đương số tiền 129.600.000 đồng. Như đã phân tích phần trên, bà M làm việc theo chế độ hợp đồng lao động, tiền lương ngoài hạn mức đã thỏa thuận còn tùy thuộc vào việc đánh giá chất lượng công việc hoàn thành của người sử dụng lao động. Việc Tổng Công ty trả lương cho nguyên đơn trong khoảng thời gian làm việc từ tháng 7/2021 đến hết tháng 6/2023 đã được giải quyết xong và người lao động không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại gì trong suốt quá trình làm việc và hưởng lương theo hợp đồng lao động. Vì thế, yêu cầu kháng cáo trên của nguyên đơn về việc trả 15% (tương đương 5.400.000 đồng/tháng từ tháng 7/2021 đến tháng 6/2023) và 15% (tương đương 5.400.000 đồng/tháng từ tháng 7/2023 đến khi bản án có hiệu lực pháp luật) cũng không được chấp nhận, cần bác yêu cầu trên của nguyên đơn như đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được phân công tham gia phiên tòa.
Xét thấy bản án sơ thẩm đã giải quyết đúng quan hệ pháp luật về lao động có tranh chấp, và yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày trong đơn và nêu ra tại phiên tòa phúc thẩm không có căn cứ pháp luật để được chấp nhận, cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Khoản 1 Điều 244, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 17, Khoản 1 Điều 27, Điều 28, Điều 29 của Bộ luật Lao động; Căn cứ vào Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH, ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn Bộ luật Lao động về nội dung của hợp đồng lao động, Hội đồng thương lượng tập thể và nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản, nuôi con; Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 12 và Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Phương M. Giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm số 110/2023/LĐ-ST, ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Phương M về việc yêu cầu bị đơn Tổng Công ty T4 Một thành viên thanh toán 10% tiền lương tháng 5/2021 còn thiếu tương ứng 3.600.000 đồng; Thanh toán 15% tiền lương còn thiếu của 24 tháng (tạm tính từ 07/2021 đến hết tháng 6/2023) tương ứng là 5.400.000 đồng/tháng x 24 tháng = 129.600.000 đồng; Thanh toán 15% tiền lương còn thiếu (5.400.000 đồng/tháng) từ tháng 7/2023 đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Huỳnh Thị Phương M buộc Tổng Công ty T4 Một thành viên thanh toán các khoản tiền lương, tiền công, các khoản thu nhập khác theo quy định của pháp luật cũng như của những tháng làm việc tiếp theo (từ tháng 02/2022 trở đi, nếu có) đúng với kỳ hạn trả lương của Tổng Công ty T4 Một thành viên và buộc Tổng Công ty T4; Trả thêm cho bà Huỳnh Thị Phương M các khoản tiền lương, tiền công, phụ cấp và các khoản khác phát sinh liên quan đến việc nhận điều động đến công tác tại Trung tâm T4.
3. Về án phí lao động sơ thẩm và phúc thẩm: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Phương M được miễn án phí. Bị đơn Tổng Công ty T4 Một thành viên không phải chịu án phí. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Án xử phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay sau khi tuyên án.
Bản án về tranh chấp tiền lương số 56/2024/LĐ-PT
| Số hiệu: | 56/2024/LĐ-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Ngày ban hành: | 26/04/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về