TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 04/2025/LĐ-ST NGÀY 21/04/2025 VỀ TRANH CHẤP TIỀN LƯƠNG
Ngày 21 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2024/TLST-LĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-LĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-LĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông N.X.H, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Số A đường Đ, Phường N, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh. (Có đơn yêu cầu vắng mặt)
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần F Trụ sở: Số M đường G, phường S, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật:
- Ông L.C.T Địa chỉ: số B, phường M, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà N.T.H1 Địa chỉ: Số I tổ S, phường H, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông N.X.H trình bày:
Ông làm việc tại Công ty Cổ phần F từ tháng 12/2021 theo thư mời cộng tác ngày 15/12/2021 của Công ty Cổ phần F. Căn cứ theo thư mời thì ngày bắt đầu cộng tác là ngày 18/12/2021, công việc của ông là Digital Marketing (tiếp thị kỹ thuật số), bộ phận làm việc là phòng Marketing, mức lương là 7.500.000 đồng/tháng. Tuy nhiên giữa ông và Công ty Cổ phần F có thỏa thuận miệng là mỗi tháng Công ty sẽ trả thêm tiền trợ cấp cố định là 2.500.000 đồng, thực hiện trả lương qua tài khoản của ông số 0417*******4020 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam. Mỗi tháng Công ty Cổ phần F sẽ gửi vào số zalo của ông phiếu thanh toán lương và chi trả lương theo phiếu thanh toán này. Kể từ thời điểm ông đi làm là tháng 12/2021 đến tháng 6/2024 thì Công ty Cổ phần F vẫn chi trả lương và trợ cấp đầy đủ. Bắt đầu từ tháng 7/2024, Công ty Cổ phần F vẫn phát hành các phiếu thanh toán lương nhưng không tiến hành trả lương và trợ cấp cho ông. Ông đã nhiều lần liên hệ quản lý nhưng chỉ được trả lời miệng là công ty đang khó khăn nên sẽ chậm trả lương. Đến tháng 10/2024, Công ty Cổ phần F dừng hoạt động tại tất cả các cơ sở, nên ông cũng nghỉ làm việc tại công ty từ thời gian đó.
Tại đơn khởi kiện, ông yêu cầu Công ty Cổ phần F thanh toán tiền lương và trợ cấp của tháng 7, 8, 9/2024 tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Tuy nhiên, nay ông chỉ yêu cầu Công ty Cổ phần F thanh toán cho ông tiền lương thỏa thuận theo thư mời cộng tác là 7.500.000 đồng/tháng, cụ thể tiền lương của các tháng 7, 8, 9/2024 tổng số tiền là 22.500.000 đồng (7.500.000 đồng x 3 tháng = 22.500.000 đồng). Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra ông không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn Công ty Cổ phần F đã được Tòa án tống đạt, niêm yết Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn không có mặt nên Tòa án không thu thập được lời khai của Công ty Cổ phần F.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn Công ty Cổ phần F vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Các đương sự đã chấp hành quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Do đó Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ông N.X.H khởi kiện Công ty Cổ phần F yêu cầu trả tiền lương nên đây là vụ án lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì Công ty Cổ phần F có trụ sở chính tại địa chỉ Số M đường G, phường S, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa ông N.X.H và Công ty Cổ phần F đã qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện tại Tòa án nên đủ điều kiện để Tòa án giải quyết tranh chấp này.
Xét, bị đơn Công ty Cổ phần F đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; nguyên đơn ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[1.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện về việc chỉ yêu cầu Công ty Cổ phần F thanh toán tiền lương thỏa thuận theo thư mời cộng tác là 7.500.000 đồng/tháng, cụ thể tiền lương của các tháng 7, 8, 9/2024 tổng số tiền là 22.500.000 đồng (7.500.000 đồng x 3 tháng = 22.500.000 đồng), không yêu cầu bị đơn thanh toán tiền trợ cấp của tháng 7, 8, 9/2024 mỗi tháng 2.500.000 đồng. Việc thay đổi này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.4] Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án:
Ông N.X.H và Công ty Cổ phần F xác lập quan hệ lao động từ tháng 12/2021 và chấm dứt vào tháng 10/2024, do đó áp dụng Bộ luật Lao động năm 2019 để giải quyết vụ án.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định vào ngày 15/12/2021, giữa ông N.X.H và Công ty Cổ phần F có xác lập quan hệ lao động. Theo đó, ông H được tuyển dụng với công việc là Digital Marketing (tiếp thị kỹ thuật số) ở phòng Marketing. Mức lương là 7.500.000 đồng/tháng.
Như vậy, quan hệ lao động giữa ông H và Công ty Cổ phần F được xác lập thể hiện qua thư mời cộng tác của Công ty Cổ phần F, trong đó có thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành, giám sát của Công ty Cổ phần F. Sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 13, 14 của Bộ luật Lao động nên làm phát sinh hiệu lực thực hiện về quyền và nghĩa vụ lao động của các bên.
Căn cứ vào sao kê số tài khoản số 0417*******4020 của ông N.X.H tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam thì trong quá trình thực hiện hợp đồng từ tháng 12/2021 đến tháng 6/2024, Công ty Cổ phần F đã chi trả tiền lương đầy đủ. Tuy nhiên, từ tháng 7/2024, Công ty Cổ phần F đã không chi trả tiền lương cho ông H theo đúng thời hạn, việc nợ lương kéo dài từ tháng 7/2024 đến tháng 9/2024 đối với nhiều nhân viên Công ty trong đó có ông H dẫn đến việc Công ty đã đóng cửa hoạt động từ tháng 10/2024.
Căn cứ Điều 90 Bộ luật lao động năm 2019 quy định “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”.
Căn cứ khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định “Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động...”.
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh quy định:
“1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây… b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án… 4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.” Nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ nhưng Công ty Cổ phần F vắng mặt. Do đó, từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy Công ty Cổ phần F đã không thanh toán tiền lương cho ông H đúng hạn, vi phạm thỏa thuận của các bên và không tuân thủ theo quy định tại Điều 94, Điều 95 của Bộ luật Lao động. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Công ty Cổ phần F thanh toán tổng số tiền lương còn thiếu của tháng 7, 8, 9/2024 là 22.500.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí lao động sơ thẩm:
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty Cổ phần F phải chịu án phí là 675.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228, khoản 1 Điều 244, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 13, Điều 14, Điều 90, Điều 94, Điều 95 Bộ luật Lao động 2019;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.X.H.
Buộc Công ty Cổ phần F phải thanh toán cho ông N.X.H tiền lương còn thiếu của tháng 7, 8, 9/2024 tổng số tiền là 22.500.000 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng). Thực hiện trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông N.X.H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng Công ty Cổ phần F còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí lao động sơ thẩm:
Công ty Cổ phần F phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 675.000 đồng (sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Ông N.X.H và Công ty Cổ phần F có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án về tranh chấp tiền lương số 04/2025/LĐ-ST ngày 21/04/2025
| Số hiệu: | 04/2025/LĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận 3 - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Ngày ban hành: | 21/04/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về