Bản án về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền số 770/2026/DS-PT ngày 17/07/2026

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 770/2026/DS-PT NGÀY 17/07/2026 VỀ TRANH CHẤP THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN

Ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 936/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1010/2026/QĐ-PT ngày 18 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: 1. Ông Huỳnh Phú L, sinh năm 1954;

2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Cùng trú tại: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm 1980 (Có mặt).

Trú tại: Khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ.

-Bị đơn: 1. Ông Lê Văn N, sinh năm 1960 (Có mặt).

2. Bà Trần Thị N1, sinh năm 1962 (Có mặt). Cùng trú tại: Khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Huỳnh Phú H1, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

2.Bà Lê Thị V, sinh năm 1986 (Có mặt).

Cùng trú tại: Khu vực T, phường T, Thành phố Cần Thơ.

Do có kháng cáo của ông Lê Văn N, bà Trần Thị N1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vợ chồng ông Huỳnh Phú L, Nguyễn Thị H – Bà Nguyễn Thị Mỹ L1 trình bày:

Vợ chồng ông Huỳnh Phú L, bà Nguyễn Thị H có mối quan hệ sui gia với vợ chồng ông Lê Văn N, bà Trần Thị N1. Nguyên vào năm 2005, vợ chồng ông L, bà H được vợ chồng ông N, bà N1 cho ở nhờ trên phần đất với diện tích 40m2, đất tọa lạc khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ. Hiện trạng phần đất là mương, hào nên vợ chồng ông L, bà H tự bồi đắp thành nền nhà và cất căn nhà tiền chế có kích thước chiều ngang 4m, chiều dài 10m để sinh sống. Tại thời điểm đó, vợ chồng ông N, bà N1 có viết giấy tay hứa cho vợ chồng ông L ở nhờ trên phần đất này đến cuối đời. Đến năm 2025, vợ chồng ông N, bà N1 quyết định bán một phần đất (phần đất của vợ chồng ông L, bà H đang ở nhờ) là nhà bếp và yêu cầu vợ chồng ông L, bà H tháo dỡ, di dời tài sản trên đất. Sau đó, vợ chồng ông N, bà N1 thay đổi ý và yêu cầu vợ chồng ông L, bà H tháo dỡ, di dời căn nhà để trả toàn bộ phần đất ở nhờ. Khi đó, hai bên xảy ra tranh chấp và vợ chồng ông L, bà H gửi đơn ra chính quyền địa phương giải quyết. Ngày 20/11/2025, Tổ hòa giải khu vực T, phường T tiến hành hòa giải vụ việc. Nội dung giải quyết, vợ chồng ông N, bà N1 có hứa nếu vợ chồng ông L, bà H tháo dỡ, di dời nhà trả lại toàn bộ phần đất ở nhờ thì vợ chồng ông N, bà N1 đồng ý hỗ trợ số tiền 100.000.000 đồng (chi phí di dời tài sản).

Đến ngày 16/12/2025, vợ chồng ông L, bà H đã tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản để trả lại phần đất ở nhờ nhưng vợ chồng ông N, bà N1 không thực hiện đúng như cam kết là trả tiền hỗ trợ chi phí di dời tài sản. Vợ chồng ông L, bà H đã nhiều lần đến gặp vợ chồng ông N, bà N1 để yêu cầu nhưng vợ chồng ông N, bà N1 không giao trả số tiền trên mà trốn tránh, xua đuổi, xúc phạm danh dự vợ chồng ông L, bà H trước mặt nhiều người. Việc vợ chồng ông N, bà N1 không thực hiện đúng như lời hứa đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông L.

Nay vợ chồng ông L, bà H yêu cầu vợ chồng ông N, bà N1 cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền hỗ trợ chi phí di dời tài sản là 100.000.000 đồng.

* Theo bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vợ chồng ông Lê Văn N, bà Trần Thị N1 thống nhất trình bày:

Do có mối quan hệ sui gia với nhau nên vào năm 2005, thấy vợ chồng ông L, bà H khó khăn về chỗ ở nên vợ chồng ông N, bà N1 cho vợ chồng ông L, bà H cất căn nhà ở nhờ trên đất mình và không lấy tiền cho thuê đất. Tháng 11/2025, vợ chồng ông N, bà N1 có nhu cầu cần bán đất nên có làm đơn gởi đến khu vực T 2 giải quyết về việc yêu cầu vợ chồng ông L, bà H tháo dỡ, di dời tài sản để trả lại phần đất ở nhờ. Tại buổi hòa giải, hai bên thoả thuận, vợ chồng ông L, bà H đồng ý tháo dỡ, di dời tài sản, trả lại đất ở nhờ và thời gian di dời là 02 tháng. Vợ chồng ông N, bà N1 thống nhất hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời tài sản với số là 100.000.000 đồng và khi nào vợ chồng ông L, bà H di dời tài sản xong thì sẽ giao tiền trên.

Ngày 16/11/2025, sau khi di dời tài sản xong, vợ chồng ông N, bà N1 ra khu vực T để giao tiền trên cho vợ chồng ông L thì phát hiện vợ chồng ông L, bà H đã gửi đơn (đơn đề ngày 13/11/2025) đến khu vực T giải quyết với nội dung là cho rằng vợ chồng ông N, bà N1 có ý đồ không giao số tiền trên. Vợ chồng ông N, bà N1 nhận thấy vợ chồng ông L, bà H làm như vậy là không đúng. Trường hợp không giao tiền, vợ chồng ông L, bà H qua gặp vợ chồng ông N để hai bên thương lượng giải quyết nhưng lại đưa sự việc ra Tổ hoà giải khu vực T giải quyết. Việc vợ chồng ông L, bà H nộp đơn ra địa phương để yêu cầu giải quyết đã làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nghi ngờ lòng tốt, phủi sạch nghĩa tình mà vợ chồng ông N đã cho ở nhờ trên đất. Đến nay, vợ chồng ông L, bà H lại tiếp tục nộp khởi kiện vợ chồng ông ra Toà án giải quyết. Ý kiến vợ chồng ông N, bà N1 là đất này gia đình ông, bà đứng tên chủ sử dụng. Do có nhu cầu sử dụng đất nên lấy đất lại và yêu cầu vợ chồng ông L, bà H phải có trách nhiệm tháo dỡ, di dời tài sản và trả đất.

Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vợ chồng ông N, bà N1 không đồng ý trả số tiền hỗ trợ là 100.000.000 đồng (chi phí di dời tài sản).

* Theo bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Huỳnh Phú H1, bà Lê Thị V thống nhất trình bày:

Vợ chồng ông H1, bà V có mối quan hệ con ruột nguyên đơn, bị đơn như sau: Ông H1 là con ruột vợ chồng ông L, bà H; bà V con ruột của vợ chồng ông N, bà N1 và giữa nguyên đơn với bị đơn có mối quan hệ sui gia với nhau.

Vào năm 2005, do thấy vợ chồng ông L, bà H gặp khó khăn về chỗ ở nên vợ chồng ông N, bà N1 cho vợ chồng ông L ở nhờ trên phần đất của mình. Tháng 11/2025, vợ chồng ông N, bà N1 cần bán đất nên vợ chồng ông N, bà N1 có làm đơn nhờ Tổ hoà giải khu vực T giải quyết là yêu cầu vợ chồng ông L, bà H di dời tài sản đi nơi khác để trả lại đất ở nhờ. Vợ chồng ông N, bà N1 hứa hỗ trợ chi phí di dời tài sản với số tiền 100.000.000 đồng (thể hiện tại biên bản hòa giải cơ sở tại khu vực T). Ngày 16/11/2025, vợ chồng ông L, bà H di dời tài sản xong, vợ chồng ông N, bà N1 ra khu vực T 2 để giao số tiền trên thì phát hiện vợ chồng ông L, bà H đã viết đơn ngày 13/11/2025 trình khu vực T, nội dung đơn thể hiện, vợ chồng ông N, bà N1 có ý định là không giao số tiền trên.

Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vợ chồng ông H1, bà V không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

* Tại Bản án sơ thẩm số 100/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Huỳnh Phú L, bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn vợ chồng Lê Văn N, bà Trần Thị N1 về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Buộc bị đơn vợ chồng ông N, bà N1 cùng có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn vợ chồng ông L, bà Hằng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi chậm thi hành án, án phí dân sự và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Ngày 03 tháng 4 năm 2026: ông N, bà N1 kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng giảm mức nghĩa vụ thanh toán xuống còn 50.000.000 đồng phù hợp với điều kiện thực tế hoặc xem xét lại bản chất vụ việc theo hướng quan hệ hỗ trợ dân sự, không phải bồi thường thiệt hại để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

-Các bị đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo và cho rằng do hoàn cảnh hiện nay khó khăn phải cho con tiền trả nợ và nuôi các cháu nên không còn tiền để giao trả cho các nguyên đơn. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng giảm mức nghĩa vụ thanh toán xuống còn 50.000.000 đồng.

-Nguyên đơn: không đồng ý kháng cáo và yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Bà Lê Thị V : thống nhất ý kiến của bị đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm:

Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Về nội dung: Nguyên đơn và bị đơn thống nhất về số tiền phải thực hiện nghĩa vụ một bên giao trả đất, một bên hỗ trợ tiền. Nay các bị đơn đề nghị giảm số tiền hỗ trợ đã thỏa thuận còn ½. Nguyên đơn không đồng ý nên không có căn cứ để ghi nhận. Các bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra thêm chứng cứ gì mới nên không có cơ sở để xem xét đánh giá lại.

Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị đơn có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Để xét kháng cáo, cần đánh giá khách quan toàn diện nội dung, cần thiết phải xem xét lại toàn bộ hồ sơ các bên đã thực hiện đối chiếu với quy định của pháp luật. Lần lượt phân tích từng vấn đề liên quan:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và lồng ghép với kháng cáo của bị đơn.

[3.1] Căn cứ vào Biên bản hoà giải ngày 20/11/2025 và lời thừa nhận của các đương sự thể hiện: Vào năm 2005, vợ chồng ông L, bà H được vợ chồng ông N, bà N1 cho ở nhờ trên phần đất diện tích 40m2, đất tọa lạc khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ. Hiện trạng phần đất lúc đó là mương, hào nên vợ chồng ông L, bà H tự bồi đắp nền nhà và cất căn nhà tiền chế có kích thước chiều ngang 4m, chiều dài 10m để sinh sống.

[3.2] Đến năm 2025, vợ chồng ông N, bà N1 quyết định bán một phần đất của mình (trong đó có phần đất cho ở nhờ) và yêu cầu vợ chồng ông L, bà H di dời toàn bộ tài sản và trả lại đất ở nhờ. Hai bên phát sinh tranh chấp và được Tổ hòa giải cơ sở khu vực T, phường T giải quyết vào ngày 20/11/2025.

[3.3] Nội dung giải quyết, hai bên thoả thuận, nếu vợ chồng ông L, bà H tháo dỡ, di dời căn nhà và trả đất ở nhờ thì vợ chồng ông N, bà N1 đồng ý hỗ trợ chi phí di dời với số tiền 100.000.000 đồng. Việc thoả thuận này được hai bên đồng ý và thể hiện trong Biên bản hoà giải cơ sở ngày 20/11/2025. Đến ngày 16/12/2025, vợ chồng ông L, bà H đã tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản và trả lại đất ở nhờ xong. Khi nhận lại đất, vợ chồng ông N, bà N1 không thực hiện đúng cam kết là trả tiền hỗ trợ chi phí di dời tài sản trên.

[3.4] Căn cứ tại Điều 116; Điều 274; Điều 280 của Bộ luật Dân sự: Đối chiếu các quy định trên, trong trường hợp này, bị đơn vợ chồng ông N, bà N1 đã thoả thuận với vợ chồng ông L, bà H là yêu cầu vợ chồng ông L, bà H tháo dỡ, di dời tài sản và trả lại phần đất ở nhờ và cam kết hỗ trợ chi phí di dời tài sản với số tiền 100.000.000 đồng, đây là việc thoả thuận giữa các bên có điều kiện. Như vậy, tại thời điểm hai bên thoả thuận thì quyền và nghĩa vụ của các bên đã phát sinh. Sự thoả thuận này thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa các bên. Tuy nhiên, khi vợ chồng ông L, bà H đã di dời tài sản và trả lại phần đất ở nhờ xong nhưng phía vợ chồng ông N, bà N1 không thực hiện nghĩa vụ giao tiền. Do đó, vợ chồng ông N, bà N1 đã vi phạm nghĩa vụ dân sự đối với nguyên đơn.

Tòa án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền là có căn cứ để chấp nhận nên cần giữ nguyên bản án đã tuyên.

[4]. Nay các bị đơn đề nghị giảm số tiền hỗ trợ đã thỏa thuận còn ½. Nguyên đơn không đồng ý nên không có căn cứ để ghi nhận. Các bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ gì mới nên không có cơ sở để chấp nhận.

[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối chiếu theo quy định tại Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì ông N, bà N1 thuộc trường hợp được miễn giảm án phí (do là người cao tuổi) nên ông N, bà N1 được miễn án phí theo quy định.

[6]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Không nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn N, bà Trần Thị N1: Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Huỳnh Phú L, bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn vợ chồng ông Lê Văn N, bà Trần Thị N1 về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Buộc bị đơn vợ chồng ông N, bà N1 cùng có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn vợ chồng ông L, bà Hằng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

2.Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3.Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Bị đơn vợ chồng ông N, bà N1 được miễn nộp án phí theo quy định (thuộc trường hợp người cao tuổi).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

63
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền số 770/2026/DS-PT ngày 17/07/2026

Số hiệu:770/2026/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/07/2026
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về