TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
BẢN ÁN 72/2022/DS-PT NGÀY 18/11/2022 VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN
Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2022/TLPT-DS ngày 06-10-2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 64/2022/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 118/2022/QĐXX-PT ngày 26 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Quang Ch, sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm Q, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
- Bị đơn: Ông Ngô Văn H, sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm Q, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Ngô Thị H, sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm Q, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
2. Ông Ngô Văn Ho, sinh năm 1959; địa chỉ: Xóm Q, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
3. Bà Ngô Thị H1, sinh năm 1963; địa chỉ: Xóm 2, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
4. Bà Ngô Thị D, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm 12, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
5. Bà Ngô Thị M, sinh năm 1972; địa chỉ: Xóm 8, xã T, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định;
6. Bà Phạm Thị Tươi (vợ ông H) sinh năm 1971; địa chỉ: Xóm Q, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Quang Ch, bà Ngô Thị H, bà Ngô Thị H1, ông Ngô Văn Ho, bà Ngô Thị D: Anh Ngô Quang Ch, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm Q, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (theo văn bản ủy quyền ngày 08-12-2021);
- Người kháng cáo: Ông Ngô Văn H là bị đơn, bà Ngô Thị M là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Tại phiên tòa: Ông Ch, ông H, bà H, ông Ho, bà H1, bà D, bà M, bà Tươi, anh Ch có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 12-10-2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Ngô Quang Ch trình bày:
Bố mẹ đẻ ông Ch là cụ Ngô Văn Ti, sinh năm 1932, chết năm 1987 và cụ Mai Thị Nhã (tức Ngô Thị Ti), sinh năm 1931, chết năm 2014. Quá trình chung sống, cụ Ti và cụ Nhã sinh được 07 người con gồm: ông Ngô Quang Ch; bà Ngô Thị H; ông Ngô Văn Ho; bà Ngô Thị H1; bà Ngô Thị D; ông Ngô Văn H và bà Ngô Thị M. Ngoài ra, hai cụ không có con nuôi, con riêng nào khác. Khi còn sống, cụ Ti, cụ Nhã tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng đất tại thửa số 397, tờ bản đồ số 2 xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định diện tích 688m2, trong đó 402m2 đất ở; 165m2 đất vườn tạp; 121m2 đất ao, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri L528964 ngày 22-5-1997 tên hộ bà Ngô Thị Ti (tức Mai Thị Nhã). Thửa đất trên có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường trục xã, phía Tây giáp thổ ông Quý, phía Nam giáp thổ ông Đệ, phía Bắc giáp ngõ đi chung. Ngoài ra, hai cụ còn xây dựng một nhà cấp bốn lợp ngói về phía Bắc thổ đất này nhưng đầu năm 2021, nhà cấp 4 xuống cấp nên gia đình ông H đã phá dỡ để xây nhà mới hai tầng.
Năm 1987, cụ Ti chết không để lại di chúc. Ngày 28-7-2012, cụ Nhã có họp gia đình phân chia thửa đất trên của hai cụ như sau: Chia cho ông Ngô Văn H một nửa thổ đất phía Bắc, một nửa thổ còn lại phía Nam để cụ Nhã sử dụng, tùy theo ý cụ như thế nào anh em bàn bạc sau. Tại cuộc họp gia đình có sự tham gia của cụ Nhã, ông Ch, bà H, bà H1, bà D, bà M, bà Thủy (vợ ông Ho) và bà Tươi (vợ ông H), có sự chứng kiến của ông Mai Đình Thi xóm trưởng. Cuộc họp có lập biên bản, mọi người tham gia đều ký biên bản nhất trí và có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H. Năm 2014, cụ Nhã chết, đầu năm 2021, các anh chị em trong gia đình họp bàn muốn để lại một nửa thổ đất phía Nam còn lại của hộ cụ Ti làm nơi thờ cúng bố mẹ, tổ tiên nhưng ông H không nhất trí. Ngày 18-8-2021, cơ sở xóm đã tổ chức hòa giải các anh chị em trong gia đình. Vợ chồng ông H, bà Tươi nhất trí phân chia đất đai như biên bản họp gia đình ngày 28-7-2012 cụ Nhã đã chia. Tức là ông H được quyền sử dụng một nửa thổ đất phía Bắc, còn lại một nửa thổ đất phía Nam để các anh chị em trong gia đình sử dụng chung làm nơi thờ cúng bố mẹ, tổ tiên. Tuy nhiên, đến khi cán bộ địa chính của xã, huyện về đo đất làm thủ tục tách thửa thì ông H lại không nhất trí cho đo đất nữa nên không làm được thủ tục.
Do đó, ông Ch khởi kiện đề nghị Tòa án công nhận cho ông H quyền sử dụng một nửa thổ đất về phía Bắc có diện tích 344 m2, còn một nửa thổ đất về phía Nam có diện tích 344 m2 thuộc thửa đất số 397, tờ bản đồ số 2 tại xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định diện tích 688m2, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri L528964 ngày 22-5-1997 tên hộ bà Ngô Thị Ti là tài sản của cụ Ngô Văn Ti và cụ Mai Thị Nhã chia thừa kế theo quy định của pháp luật để các anh chị em trong gia đình có nguyện vọng làm tài sản chung thờ cúng bố mẹ, tổ tiên. Tại biên bản hòa giải ngày 16-6- 2022, ông Ch thay đổi yêu cầu, không yêu cầu chia tài sản thừa kế là quyền sử dụng 344 m2 đất phía Nam thổ nữa mà đề nghị công nhận phần diện tích đất này là tài sản chung của bảy anh chị em gồm: ông Ch, ông Ho, ông H, bà H, bà D, bà H1 và bà M và đề nghị cử ông Ch là người đại diện trông coi, quản lý tài sản chung của bảy anh chị em. Khi cụ Nhã còn sống thì một nửa thổ đất phía Nam cụ vẫn sử dụng trồng cấy cây cối, nhưng từ năm 2014 sau khi cụ Nhã chết thì không con nào trồng cấy cây cối hay xây dựng công trình gì trên phần đất này. Anh chị em chưa họp bàn giao cho ai quản lý phần đất phía Nam của bố mẹ để lại. Vợ chồng ông H, bà Tươi chỉ xây nhà và sử dụng một nửa thửa đất phía Bắc đúng như cụ Nhã đã cho.
Về phần các công trình xây dựng trên đất: Tài sản nhà hai tầng ông H, bà Tươi xây dựng trên phần đất phía Bắc là tài sản riêng của ông H, bà Tươi, không liên quan đến tài sản của cụ Ti, cụ Nhã; phần tường rào bao quanh phía Đông và Nam thổ cụ Nhã đã xây dựng khi còn sống, ông Ch không yêu cầu giải quyết.
* Theo lời khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Ngô Văn H và đại diện theo ủy quyền của ông H - đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị M đều trình bày: Công nhận mối quan hệ bố mẹ, con cái trong gia đình, thời điểm bố mẹ mất và khối tài sản bố mẹ để lại như ông Ch trình bày là đúng. Ông H, bà M đề nghị công nhận quyền sử dụng một nửa thổ đất của hộ cụ Ngô Thị Ti về phía Bắc có diện tích 344 m2 là của ông H, một nửa thổ còn lại phía Nam không nhất trí chia thừa kế mà để làm tài sản chung của bảy anh chị em thờ cúng bố mẹ, ông bà, tổ tiên. Ông H, bà M đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế tài sản của cụ Ngô Văn Ti, vì cụ đã chết trên 30 năm. Tại biên bản hòa giải ngày 16-6-2022, ông H, bà M giữ nguyên ý kiến đã trình bày ở trên và cho rằng một nửa thửa đất tặng cho ông H là tài sản của cụ Mai Thị Nhã, một nửa thửa đất còn lại là của cụ Ngô Văn Ti đề nghị không chia thừa kế, để lại làm tài sản chung của 7 anh chị em và làm nơi thờ cúng bố mẹ, ông bà, tổ tiên và cử ông H là người đại diện trông coi, quản lý tài sản chung của bảy anh chị em. Về phần các công trình xây dựng trên đất, ông H và bà M trình bày thống nhất với ông Ch, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn gồm ông Ngô Văn Ho, bà Ngô Thị H, bà Ngô Thị D, bà Ngô Thị H1 có lời khai thống nhất với lời khai và ý kiến yêu cầu của ông Ngô Quang Ch, không bổ sung gì thêm.
Tại bản tự khai ngày 21-3-2022 và quá trình tố tụng tại Tòa án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn, bà Phạm Thị Tươi có lời khai thống nhất với lời khai và ý kiến đề nghị của ông Ngô Văn H, không bổ sung gì thêm.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Các đương sự gồm ông Ch, ông Ho, bà H1, bà D, bà H thay đổi ý kiến: Đề nghị công nhận một nửa thửa đất phía Bắc có diện tích 344m2 là tài sản của cụ Ti, cụ Nhã cho ông Ngô Văn H theo biên bản họp gia đình ngày 28-7-2012 cụ Nhã phân chia, một nửa thổ đất về phía Nam có diện tích 344m2 là tài sản của cụ Ti, cụ Nhã chia thừa kế cho 6 anh chị em là ông Ch, ông Ho, bà H1, bà D, bà H, bà M mỗi người một kỷ phần thừa kế. Kỷ phần thừa kế của ông Ho, bà H1, bà D, bà H đề nghị tặng cho ông Ch bằng hiện vật và không yêu cầu ông Ch thanh toán giá trị mà để các anh chị em tự giải quyết với nhau. Ông Ch đề nghị nhận kỷ phần thừa kế của mình và 4 kỷ phần được tặng cho bằng hiện vật.
Về phía ông H, bà M ý kiến: giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại buổi hòa giải, không nhất trí chia di sản thừa kế diện tích 344m2 đất của cụ Ti để lại, đề nghị toàn bộ diện tích đất này để lại làm nơi thờ cúng bố mẹ, ông bà, tổ tiên chung của tất cả bảy anh chị em. Trường hợp phải chia thừa kế thì bà M có ý kiến tặng cho kỷ phần của mình cho ông H, không yêu cầu ông H thanh toán giá trị, ông H nhất trí.
* Bản án sơ thẩm số 64/2022/DS – ST ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã quyết định: Căn cứ vào các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 156, Điều 165, Điều 184, 185 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 2, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Quang Ch.
1.1. Công nhận quyền sử dụng diện tích 344 m2 đất (ONT 201m2, CLN 82,5m2; NTS 60,5m2) phía Bắc thửa số 397, tờ bản đồ số 2 xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri L528964 ngày 22-5-1997 tên hộ bà Ngô Thị Ti là di sản của cụ Ngô Văn Ti được các đồng thừa kế tặng cho ông Ngô Văn H;
1.2. Xác định di sản thừa kế của cụ Mai Thị Nhã (Ngô Thị Ti) là quyền sử dụng 344m2 đất (ONT 201m2, CLN 82,5m2; NTS 60,5m2) phía Nam thửa số 397, tờ bản đồ số 2 xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri L528964 ngày 22-5-1997 tên hộ bà Ngô Thị Ti, tổng trị giá 1.548.000.000đ (Một tỷ năm trăm bốn mươi tám triệu đồng).
1.3. Chia di sản thừa kế của cụ Mai Thị Nhã là quyền sử dụng đất diện tích 344 m2:
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Ho, bà H, bà D, bà H1 tặng cho ông Ch và bà M tặng cho ông H kỷ phần thừa kế của mình (mỗi kỷ phần thừa kế tương đương 49m2 đất có trị giá 220.500.000đ).
- Chia cho ông Ngô Quang Ch được quyền sử dụng 246 m2 đất (ONT 144m2, CLN 59m2, NTS 43m2) trị giá 1.107.000.000đ (Một tỷ một trăm linh bảy triệu đồng) tại thửa số 397, tờ bản đồ số 2 xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri L528964 ngày 22-5-1997 tên hộ bà Ngô Thị Ti, có tứ cận như sau: Cạnh phía Nam giáp thửa đất số 398 và thửa số 408 là 31,4m; cạnh phía Bắc giáp đất chia ông H 31,7m; cạnh phía Đông giáp đường trục xã 8,1m; cạnh phía Tây giáp thửa đất số 328 và thửa số 396 là 7,5m.
- Chia cho ông Ngô Văn H được quyền sử dụng 98 m2 đất (ONT 57m2, CLN 23,5m2; NTS 17,5m2) trị giá 441.000.000đ (Bốn trăm bốn mươi mốt triệu đồng). Tổng cộng, ông Ngô Văn H được quyền sử dụng 442 m2 đất (ONT 258m2, CLN 106m2, NTS 78m2) (được công nhận từ các đồng thừa kế của cụ Ngô Văn Ti tặng cho diện tích 344 m2 và 2 kỷ phần thừa kế được chia 98 m2) tại thửa số 397, tờ bản đồ số 2 xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri L528964 ngày 22-5-1997 tên hộ bà Ngô Thị Ti. Phần đất ông Ngô Văn H được quyền sử dụng có tứ cận như sau: Cạnh phía Nam giáp đất ông Ch được chia 31,7m; cạnh phía Bắc giáp ngõ đi chung 32,3m; cạnh phía Đông giáp đường trục xã 14,1m; cạnh phía Tây giáp thửa đất số 328 và thửa số 396 là 13,6m.
(Có sơ đồ vẽ kèm theo) Các đương sự liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất của mình theo quyết định của Tòa án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo và biện pháp thi hành án của các đương sự.
* Tại đơn kháng cáo ngày 03-8-2022 của ông Ngô Văn H, đơn kháng cáo ngày 01-8-2022 của bà Ngô Thị M kháng cáo một phần bản án với nội dung, ông H, bà M đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết huỷ bản án sơ thẩm số 64/2022/DS-ST ngày 22-7-2022 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử lại về phần đất phía Nam thửa 397, tờ bản đồ số 2 xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tên hộ bà Ngô Thị Ti thuộc quyền sử dụng của ông H; bà M đề nghị để lại làm tài sản chung của các con để thờ cúng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Anh Ngô Quang Ch là người đại diện uỷ quyền của ông Ngô Quang Ch, bà Ngô Thị H, bà Ngô Thị H1, ông Ngô Văn Ho, bà Ngô Thị D vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại cấp sơ thẩm và giao nộp bổ sung đơn xin miễn án phí của bà H1, bà D, không chấp nhận lý do kháng cáo của ông H, bà M, đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết giữ nguyên như bản án sơ thẩm. Ông Ngô Văn H và bà Ngô Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không nhất trí chia di sản thừa kế nửa thửa đất phía nam có diện tích 344 m2 mà để lại làm của chung 7 anh chị em sử dụng dùng vào việc thờ cúng bố mẹ, ông bà, tổ tiên. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì thấy rằng di sản của cụ Ngô Văn Ti, và cụ Mai Thị Nhã (tức Ngô Thị Ti) để lại gồm: Thửa đất số 397, tờ bản đồ số 2 xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định diện tích 688m2, trong đó 402m2 đất ở; 165m2 đất vườn tạp; 121m2 đất ao, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri L528964 ngày 22-5-1997 tên hộ bà Ngô Thị Ti. Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định chia cho ông Ngô Văn H được quyền sử dụng 442 m2 đất (ONT 258m2, CLN 106m2, NTS 78m2) (được công nhận từ các đồng thừa kế của cụ Ngô Văn Ti tặng cho diện tích 344 m2 và 2 kỷ phần thừa kế được chia 98 m2) là có cơ sở, đảm bảo đúng pháp luật. Vì vậy, kháng cáo của ông H, bà M là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét kháng cáo của ông Ngô Văn H và bà Ngô Thị M làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 272; khoản 1 Điều 273; Điều 276 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên được HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết.
[2] Xét về nội dung kháng cáo của ông Ngô Văn H và bà Ngô Thị M đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết huỷ bản án sơ thẩm số 64/2022/DS-ST ngày 22-7-2022 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử lại thấy rằng: Về di sản thừa kế, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của tất cả các đương sự trong vụ án đều trình bày nguồn gốc thửa đất số 397, tờ bản đồ số 2 tại xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định diện tích 688m2, trong đó 402m2 đất ở; 165m2 đất vườn tạp; 121m2 đất ao, đã được Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri L528964 ngày 22-5-1997 tên hộ bà Ngô Thị Ti (tức Mai Thị Nhã) là tài sản chung của cụ Ngô Văn Ti và cụ Mai Thị Nhã. Năm 1987, cụ Ti chết không để lại di chúc. Ngày 28-7-2012, cụ Nhã có họp gia đình phân chia thửa đất trên của hai cụ và lập thành biên bản: Chia cho ông Ngô Văn H một nửa thổ đất phía Bắc, một nửa thổ còn lại phía Nam để cụ Nhã sử dụng tùy theo ý cụ, biên bản đã được cụ Nhã và các con cùng nhất trí ký tên, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H. Nay ông Ch, ông Ho, bà H1, bà D, bà H đề nghị công nhận một nửa thửa đất phía Bắc có diện tích 344m2 là tài sản của cụ Ti cho ông Ngô Văn H theo biên bản họp gia đình ngày 28-7-2012 cụ Nhã phân chia, một nửa thổ đất về phía Nam có diện tích 344m2 là tài sản của cụ Nhã chia thừa kế cho 6 anh chị em là ông Ch, ông Ho, bà H1, bà D, bà H, bà M. Ông H và bà M đề nghị công nhận quyền sử dụng một nửa thổ đất của hộ cụ Ti về phía Bắc có diện tích 344 m2 là của ông H, một nửa thổ đất còn lại phía Nam có diện tích 344 m2 là di sản của cụ Ngô Văn Ti đề nghị để lại làm nơi thờ cúng bố mẹ, ông bà, tổ tiên và là tài sản chung của bảy anh chị em, không nhất trí chia thừa kế.
[3] Về khối tài sản chung của cụ Ti và cụ Nhã và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngô Văn H: Thửa đất số 397, tờ bản đồ số 2 tại xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định có diện tích 688m2 đều được các đương sự trong vụ án kê khai thống nhất về nguồn gốc là tài sản chung của cụ Ngô Văn Ti và cụ Mai Thị Nhã. Sau khi cụ Ngô Văn Ti chết, tất cả các đồng thừa kế của cụ Ti (gồm cụ Nhã và 7 người con) cùng thống nhất tặng cho ông Ngô Văn H một nửa thổ đất phía Bắc có diện tích 344 m2, có biên bản họp gia đình cụ Nhã, ông Ch, bà H, bà H1, bà D, bà M, bà Thủy (vợ ông Ho) và bà Tươi (vợ ông H) ký biên bản có trưởng xóm chứng kiến và có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã. Việc các đồng thừa kế của cụ Ti tặng cho đất ông H đến nay các đương sự trong vụ án đều công nhận là đúng sự thật. Từ khi cụ Nhã họp gia đình lập biên bản tặng cho đất ông H đến khi vợ chồng ông H xây nhà hai tầng và sử dụng, anh em trong gia đình không có ai có ý kiến gì và cũng không xảy ra tranh chấp. Nay tất cả các đương sự trong vụ án đều thống nhất công nhận quyền sử dụng một nửa thổ đất của hộ cụ Ti về phía Bắc có diện tích 344 m2 là của ông H đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không yêu cầu giải quyết các công trình xây dựng trên đất nên về phần các công trình trên đất, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Như vậy, yêu cầu của ông Ngô Quang Ch đề nghị công nhận quyền sử dụng đất diện tích 344 m2 về phía Bắc thửa đất số 397, tờ bản đồ số 2 xã H cho ông Ngô Văn H là có căn cứ để chấp nhận.
[4] Xác định di sản thừa kế của cụ Ngô Văn Ti và cụ Mai Thị Nhã: Năm 1987 cụ Ti chết không để lại di chúc, năm 2012 các đồng thừa kế của cụ Ti gồm cụ Nhã và 7 người con lập biên bản tặng cho ông H một nửa thổ đất phía Bắc 344 m2, với nội dung: “Mảnh đất cụ đang ở để cho ông H một nửa phía Bắc, còn lại cụ để lại một nửa phía Nam để cụ sử dụng, tùy theo ý của cụ như thế nào thì anh em bàn bạc sau”. Đất của cụ Ti, cụ Nhã đã được cụ Nhã và các thừa kế của cụ Ti thống nhất phân chia tài sản chung xong từ ngày 28-7-2012 và có đủ cơ sở xác định phần diện tích đất 344 m2 là của vợ chồng ông H, bà Tươi. Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và vợ chồng ông H đã nhận đất xây nhà và các công trình sử dụng từ đó cho đến nay; thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào, không ai tranh chấp nên có cơ sở xác định nhà, đất nằm ở phía Bắc thửa đất không còn là di sản thừa kế của cụ Ti nữa mà đã chuyển thành quyền sử dụng đất hợp pháp của vợ chồng ông H. Vì vậy, tài sản là di sản thừa kế của cụ Ti không còn nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông H, bà M cho rằng di sản của cụ Ti nằm ở nửa thửa đất phía Nam đã hết thời hiệu là không có căn cứ chấp nhận. Các đồng thừa kế của cụ Ti đã mặc nhiên xác định một nửa thổ đất phía Nam diện tích 344 m2 thuộc quyền tài sản của cụ Nhã sử dụng và tùy theo ý cụ quyết định anh em bàn bạc sau. Xác định di sản của cụ Nhã để lại là quyền sử dụng diện tích 344 m2 đất về phía Nam thửa số 397, tờ bản đồ số 2 xã H sẽ được chia cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật. Theo kết quả định giá Thửa đất có giá trị 4.500.000đ/1m2.
[5] Về thời điểm mở thừa kế, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế di sản của cụ Mai Thị Nhã là ngày 05-3-2014. Quá trình giải quyết vụ án, ông H và bà M đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế. Căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản…” do đó di sản thừa kế của cụ Nhã còn trong thời hiệu khởi kiện nên vẫn được chia thừa kế cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.
[6] Về diện và hàng thừa kế: Cụ Ngô Văn Ti, sinh năm 1932, chết năm 1987 không để lại di chúc và cụ Mai Thị Nhã (tức Ngô Thị Ti), sinh năm 1931, chết năm 2014. Quá trình chung sống, cụ Ti và cụ Nhã sinh được 07 người con gồm: ông Ngô Quang Ch; bà Ngô Thị H; ông Ngô Văn Ho; bà Ngô Thị H1; bà Ngô Thị D; ông Ngô Văn H và bà Ngô Thị M. Ngoài ra, hai cụ không có con nuôi, con riêng nào khác. Tuy nhiên di sản thừa kế của cụ Ti đã được các đồng thừa kế của cụ Ti định đoạt tặng cho toàn bộ cho ông H. Do đó, di sản thừa kế còn lại chỉ là của cụ Nhã, diện và hàng thừa kế của cụ Nhã gồm có 7 anh chị em: Ông Ch, ông Ho, ông H, bà H, bà D, bà H1 và bà M sẽ được chia làm 7 kỷ phần thừa kế bằng nhau.
[7] Xét yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa đề nghị chia thừa kế một nửa thổ đất phía nam có diện tích 344m2 là tài sản của cụ Nhã để lại cho 6 kỷ phần thừa kế là ông Ch, ông Ho, bà H1, bà D, bà H và bà M vì theo biên bản họp gia đình ngày 28-7-2012 cụ Nhã đã tặng cho một nửa thổ đất cho ông H rồi nên nay chỉ chia cho 6 anh chị em còn lại chưa được tặng cho. Hội đồng xét xử thấy: Phần diện tích còn lại 344m2 đất về phía Nam là di sản thửa kế của cụ Mai Thị Nhã nên sẽ được chia đều cho bảy anh chị em gồm ông Ch, bà H, ông Ho, bà D, bà H1, ông H và bà M là 7 kỷ phần thừa kế theo quy định pháp luật. Di sản của cụ Nhã để lại là quyền sử dụng diện tích đất 344m2 có tổng trị giá 1.548.000.000đ, được chia làm 7 kỷ phần, mỗi kỷ phần tương đương 49 m2 (vì số liệu chia ra bị lẻ) có trị giá 220.500.000đ. Tại phiên tòa: ông Ho, bà H, bà D, bà H1 đề nghị tặng cho ông Ch kỷ phần được hưởng bằng hiện vật; ông Ch đề nghị nhận kỷ phần thừa kế của mình và 4 kỷ phần được ông Ho, bà H, bà D, bà H1 tặng cho bằng hiện vật. Như vậy chia cho ông Ngô Quang Ch 5 kỷ phần tương đương 246m2 đất về phía Nam thửa đất số 397, tờ bản đồ số 2 tại xã H. Bà M, ông H không nhất trí chia thừa kế tài sản của cụ Nhã đề nghị để lại làm nơi thờ cúng bố mẹ, ông bà, tổ tiên chung của tất cả bảy anh chị em, tuy nhiên nếu phải chia bà M đề nghị sẽ nhận bằng hiện vật và tặng cho ông H toàn bộ kỷ phần bà được hưởng và không yêu cầu ông H phải thanh toán giá trị, ông H nhất trí nhận kỷ phần được bà M tặng cho bằng hiện vật. Xét đề nghị chia tài sản bằng hiện vật của ông Ch là phù hợp pháp luật và nguyện vọng của ông Ho, bà H, bà D, bà H1 tặng cho kỷ phần thừa kế của mình cho ông Ch, bà M tặng cho kỷ phần thừa kế của mình ông H là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận. Do đó, chia ông H nhận 2 kỷ phần thừa kế tương đương 98 m2 trị giá 441.000.000đ; chia ông Ch nhận 5 kỷ phần thừa kế tương đương 246m2 trị giá 1.107.000.000đ. Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu chia thừa kế của ông Ch và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Ho, bà H1, bà D, bà H đối với di sản của cụ Nhã là 344 m2 đất cho 6 anh em là ông Ch, ông Ho, bà H1, bà D, bà H, bà M và yêu cầu của ông H và bà M không nhất trí chia thừa kế mà đề nghị để lại làm tài sản chung của bảy anh chị em và làm nơi thờ cúng bố mẹ, ông bà, tổ tiên là không có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại Điều 649, Điều 650 và Điều 651 Bộ luật dân sự.
[8] Về vị trí chia đất: Hiện trạng thửa đất số 397 của hộ cụ Ngô Thị Ti có phía Đông giáp đường trục xã, do đó, cần chia đất cho các đồng thừa kế theo chiều Đông Tây là phù hợp với hiện trạng thửa đất và các công trình. Các phần được chia đều có lối đi về phía Đông. Do ông H đã được công nhận quyền sử dụng 344 m2 đất về phía Bắc thửa, nên chia cho ông H thêm 2 kỷ phần thừa kế tương đương 98 m2 ở vị trí tiếp giáp phần đất ông H được công nhận, tổng cộng ông H được quyền sử dụng 442 m2 đất về phía Bắc thửa đất số 397 và chia cho ông Ch được quyền sử dụng 246m2 đất về phía Nam thửa đất số 397 của hộ cụ Nhã là phù hợp.
[9] Qua những phân tích nêu trên đã cho thấy những kết luận trong bản án sơ thẩm là hoàn toàn phù hợp với những quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên toà phúc thẩm ông H, bà M cũng không đưa ra được các chứng cứ và lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Lý do kháng cáo của ông H, bà M là không có căn cứ. Vì vậy yêu cầu kháng cáo của ông H, bà M không được chấp nhận cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[10] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Ngô Văn H và bà Ngô Thị M không được chấp nhận nên ông H, bà M phải nộp mỗi người 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng ông H, bà M đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu theo các biên lai số 0006258 ngày 01-8-2022, số 0006259 ngày 03-8-2022, ông H, bà M đã thi hành xong án phí dân sự phúc thẩm.
[11] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn H và bà Ngô Thị M. Giữ nguyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 148; Điều 156; Điều 165; Điều 184; Điều 185 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều 651; Điều 660; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Án lệ số 24/2018/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 2, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
1. Giữ nguyên Quyết định bản án sơ thẩm số 64/2022/DS-ST ngày 22-7- 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Ngô Văn H, bà Ngô Thị M mỗi người phải nộp 300.000 đồng nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0006258 ngày 01-8-2022, số 0006259 ngày 03-8-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông H, bà M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự nguyên đơn, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay sau khi tuyên án.
Bản án về tranh chấp thừa kế tài sản số 72/2022/DS-PT
| Số hiệu: | 72/2022/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Nam Định |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 18/11/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về