Bản án về tranh chấp thừa kế tài sản số 42/2024/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 42/2024/DS-PT NGÀY 09/05/2024 VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN

Ngày 25/4/2024 và ngày 09/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 119/2023/TLPT-DS ngày 04/12/2023 về việc Tranh chấp về thừa kế tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 18/2024/QĐXX-PT ngày 29/01/2024, Quyết định hoãn phiên tòa và Quyết định T ngừng phiên tòa, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1965; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh

Người đại diện theo ủy quyền của chị M: Anh Trân Văn H, sinh năm 1976;

địa chỉ: thôn P, xã K, huyên K, tỉnh Hải Dương.

2. Bị đơn:Anh Trần Văn B, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của anh B: Chị Trần Thị Nh (là chị gái anh B), sinh năm 1987; địa chỉ: số nhà x, ngõ 168/2 đường N, phường P, quận T, Hà Nội va ông Pham Đinh D , sinh năm 1974, địa chỉ: tầng 2, toà nhà CT 4, khu đô thị V, quận H, TP Hà Nội.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Anh Trần Văn H, sinh năm 1976

3.2.Ông Trân Văn N, sinh năm 1959

3.3. Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1960

3.4. Chị Dương Thị H2, sinh năm 1993

Đều có địa chỉ: thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương

Người đại diện theo ủy quyền của bà 1H, chị H2: Chị Trần Thị Nh, sinh năm 1987; địa chỉ: số nhà x, ngõ 168/2 đường N, phường P, quận T, Hà Nội.

4. Người kháng cáo: Chị Trần Thị Nh là người đại diện hợp pháp của bị đơn anh Trần Văn B; anh Trần Văn H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Có mặt anh Trần Văn H, chị Trần Thị Nh và ông Phạm Đình D; các đương sự khác vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:

Chị Trần Thị M là nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Mẹ chị là bà Trân Thi C (tên goi khac Trân Thi T), sinh năm 1930 chêt ngay 26/11/2011. Bà C sống độc thân, không kết hôn với ai. Từ năm 1965 sau khi chị được sinh ra , đã được bà C nhân vê lam con nuôi , đến nay chị cũng không biêt bô me đe chi la ai . Bà C nhân nuôi va giao duc chị từ nhỏ đến khi trưởng thành . Đên năm 1976, sau khi anh H được sinh ra, anh H đươc vài tháng tuổi cũng đươc ba C nhân vê lam con nuôi va nuôi dương đên khi t rương thanh khôn lơn , đi xây dựng gia đinh. Mẹ chị không có người con đ ẻ nào khác, chỉ có chị và anh Trân Văn H là hai người con nuôi , đươc ho hang thưa nhân va đươc UBND xa câp giây khai sinh cho chi va anh H, thê hiên ba Trân Thi C (tên goi khac Trân Thị T) là mẹ. Khi con sông bà C là người sở hữu và sử dụng hợp pháp thửa đất sô 176, tơ ban đô sô 07, diên tich 555m2 tại thôn P, xã K , huyên K , tỉnh Hải Dương, đươc UBND huyên câp giây chưng nhân quyên sư dung đât ngay 25/8/1996. Ngày 06/7/2005, bà C có lập di chúc tăng toan bô diên tich đât nêu trên cho anh Trân Văn B là cháu của bà C(anh B là con ông Trần Văn N và bà Đỗ Thị H1, ông N là em trai bà C). Ngày 11/2/2010, bà C đa lam đơn xin rut lai bản di chúc ngày 06/7/2005. Tư đo đê n nay, bà C không lam di chuc phân chia tài sản cho ai . Sau khi bà C chết, anh B tư sang sinh sống tại thửa đất của bà C cho đên nay. Chị và anh H đề nghị anh B giao lai tai san la di san thưa kê cua ba C nhưng anh B không đồng ý và cho rằng anh là người được thừa kế của bà C theo di chuc ngay 06/7/2005. Chị M xác định bản di chúc này đã được mẹ chị làm đơn xin rút lại nên không còn giá trị , chị đề nghị Toà án giải quyết phân chia di san thưa kê của bà C là diện tích đất tại thửa đất số 176, tơ ban đô sô 07 tại thôn P, xã K , huyên K , tỉnh Hải Dương và 01 căn nha ơ mai băng theo quy đinh cua phap luât. Chị M xin nhân môt phân đât theo quy đinh cua phap luât va tặng cho toan bô phân đât chi đươc hương cho anh Trân Văn H.

Bị đơn anh Trần Văn B và người đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Trân Thi C là cô ruột của anh B. Bà C sông đôc thân không kêt hôn vơi ai . Thơi gian sinh sông ba C có nhân chi Trân Thi M và anh Trân Văn H làm con nuôi . Bà C không co ngươi con nao khac. Ngày 06/7/2005 bà C có lập bản di chúc với nôi dung la tăng cho toan bô diên tich đât tai thưa đât sô 176, tơ ban đô sô 07, diên tich 555m2 tại thôn P, xã K, huyên K, tỉnh Hải Dương được UBND huyện Kim Thanh cho anh B. Di chuc co ngươi lam chưng va đươc UBND xã K xác nhân. Năm 2011 bà C chêt, anh B và vợ là chị H2 đã chuyên ra manh đât trên sinh sông, sưa sang, xây dưng công trinh va sư dung liên tuc đên nay, đong thuê đây đu . Nay chị M khơi kiên yêu câu chia thưa kê , anh B không đồng ý . Anh xác đinh di chuc ngay 06/7/2005 là di chúc hợp lệ, viêc rut di chuc co dâu hiêu gia mạo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trân Văn H trình bày: Nhất trí và đồng ý quan điểm của nguyên đơn. Anh H đề nghị chia thừa kế theo pháp luật, anh xin nhân băng hiên vât la quyền sử dụng đât. Anh H xác định tất cả các tài sản trên đất trừ căn nhà ba banh là của bà C, còn lại là tài sản của anh B, chị H2. Chị M cho anh kỷ phân thừa kế chị M đươc hương , anh H đồng ý và xin chịu toàn bộ phần án phí đối với phần chị M đươc hương ma đa tặng cho anh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đô Thi H 1 trình bày: Bà là mẹ của anh Trần Văn B, hiện nay anh B đang bị T giam trong vụ án ma tuý. Đối với vụ án chia thừa kế mà nguyên đơn là chị Trần Thị M thì chỉ liên quan đến bà là do ba đang cầm giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà C. Chồng ba và bà Trần Thị C (T) là chị em ruột. Bà T có nhận nuôi chị Trần Thị M và anh Trần Văn H là con nuôi. Nguồn gốc đất của bà T là do vợ chồng bà mua cho bà T, toàn bộ tiền mua do ba bỏ ra . Lý do ba m ua cho bà T là do bà T không có nơi nương tựa nên vợ chồng ba đã thương và mua đất cho bà T. Thời điểm đó ba mua đất của ông Kh (hiện ông Kh đã chết). Bà không có căn cứ gì về việc mua đất cho bà T để cung cấp cho Toà án . Vợ chồng ba đã chăm sóc bà T đến lúc chết, anh H và chị M ở xa không có thời gian chăm sóc bà T. Bà Hợi xác định quyền sử dụng đất là của bà T nhưng năm 2005 bà T đã viết bản di chúc cho anh B. Vợ chồng anh B đã ra ở và xây dựng các công trình trên đất từ năm 2012 cho tới nay . Bà và chồng là ông Trần Văn N không có công sức tu tạo gì đối với mảnh đất trên. Lý do ba cầm bìa đỏ là do bà T lúc đó không nói được nên ba đã đi theo bà T lên Uỷ ban nhân dân xã để lấy bìa đỏ, vì bà T lúc đó yếu không nói rõ câu nên ba đi theo thì cán bộđịa chính có bảo ba ký nhận và lấy bìa đỏ của bà T. Sau khi về thì bà T đưa di chúc và bìa đỏ cho ba . Hiện tại ba đang giữ 01 bản di chúc và 01 bìa đỏ đất của bà T, lúc đó vào thời gian nào ba không nhớ . Việc bà T có rút di chúc hay không thì ba không đư ợc biết, không ai nói cho bà biết.

Trong bản di chúc ba đang giữ không có chữ viết gì về việc rút di chúc . Bà T không biết gì và không đi lại được , bà không nhớ cụ thể năm nào . Sau khoảng 8 tháng từ khi nằm liệt thì bà T chết. Nay chị M yêu cầu chia thừa kế, bà Hợi xác định chị M không có quyền đòi hỏi để được chia.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trân Văn N trình bày: Ông là bô của anh Trần Văn B. Đối với vụ án chia thừa kế mà nguyên đơn là chị Trần Thị M đang khơi kiên chia di san thư a kê la diên tich đât cua ba Trân Thi T (Tr) tại thôn P. Bà T là con nuôi của bố mẹ ông . Năm 1987, bà T tư Quang Ninh vê xã K, huyện K, ông N nhìn thấy nheo nhắt, bà T không co quyên lơi gi ơ xa nên ông N đa mua cho ba T mảnh đât chinh la manh đât ma chị M đang yêu câu chia. Năm 1993, bà T đươc câp giây chưng nhân quyên sư dung đât , trươc đo ba T cũng đã trao đổi với ông về việc bà T đưng tên trên bia đo . Sau đo năm 2005 bà T đa viêt di chuc để lại mảnh đất trên cho con trai ông là Trân Văn B.Nên đất là của anh B, không co viêc ba T rút di chúc vì nếu bà T có rút thì cũng phải báo gia đinh ông. Ông không nhơ năm nao nhưng ông co lây đât ơ ngoai đương vao để lấp ao. Diên tich ao khoang 4 thươc. Viêc lâp ao co vơ chông ông tham gia . Sau khi lâp ao xong thi ông lam nha cho ba T. Ông xac đinh co công sưc trong viêc xây nha câp 4 hiên vân con trên manh đât . Ông co mua cho ba T các nguyên vât liêu đê lam nha như tre, ngói để làm nhà. Mua hêt bao nhiêu tiên ông không nhơ chinh xac chi biêt co mua ngoi con gach tre la của nhà. Viêc xây nha do một mình ông xây, không thuê ai xây, ông xac đinh ông xây nha tăng ch o ba T. Sau khi ba T chêt, thì vợ chồng con trai ông là Trân Văn B ở trên phần đất đó. Ông không cung câp đươc chứng cứ gì cho Toà án về việc chứng minh công sưc đóng gop cua ông trong viêc xây nha cung như viêc san lâp ao . Quan điêm cua ông vê phân nha cung như phân đât lâp ao , ông N xác định đất là của anh B nên để lại cho anh B. Ông không đoi hoi gi quyên lơi trong manh đât đo . Khoảng năm 2004 thì hai con trai của chị M có đánh người ở Quảng Ni nh nên đa vê nha bà T để trốn chứ không phải đ ể nuôi bà T. Hai con chị M ở đó khoảng 6 đến 7 tháng thì quay vê Quang Ninh đâu thu , không ơ cung ba T nưa. Bà T nhân nuôi chị M, anh H từ khi con rât nho , đươc khoang mây thang tuôi. Bà T đa nuôi va chăm soc chị M, anh H coi như con đe cua minh . Khi lơn anh H có biểu hiện ăn trôm không nuôi gi ba T và bỏ ra Quảng Ninh nên vợ bà chồng ông N phải trông nom ba T khi ôm đau. Ông xac đinh cac tai san trê n đât chi co nha câp 4 là của bà T do ông xây cho , còn các công trình xây dựng là do vợ chồng anh Trân Văn B xây dưng. Còn lại các cây trồng trên đất là của vợ chồng ông , ông không cung câp đươc căn cư gi cho Toa an . Quan điê m cua ông vê cac cây trông la để lại cho anh Trân Văn B đươc hương, ông cung không co yêu câu đê nghi gi.

Tại biên bản xác minh , văn ban tra lơi cua UBND xã K , đại diện thôn P, xác định: Bà Trân Thi T nhân nuôi anh H, chị M tư khi anh chi khoang 2 tuôi. Quá trình nuôi dưỡng gi ữa bà T với anh H, chị M có sự quan tâm, nuôi dương, chăm soc yêu thương nhau , không co điêu tiêng gi đên khi ba T ốm chết thì anh H, chị M cũng là người chăm sóc , lo ma , thơ cu ng cho ba T. Nhưng viêc nhân nuôi con nuôi cua ba T không co đăng ky hay ghi vao sô hô tich cua xa . Hiên tai sô sach lưu trư tai UBND xã, không co tai liêu gi vê đăng ky nuôi con nuôi cua bà T. Bà T là chủ sử dụng hợp phápthưa đât sô 176, tơ ban đô sô 7, diên tich 580m2 tại thôn P, xã K, huyên K, tỉnh Hải Dương, đa đươc câp giây chưng nhân quyên sư dung đât ngay 25/8/1996 mang tên ba Trân Thi Tr (T). Nguôn gôc diên tích đất trên là nhận chuyển nhương lai, tư trươc đên nay không bi trư đât 03 của ai vao thưa đât trên. Năm 2005 bà T có ra UBND xã lập bản di chúc để lại mảnh đât trên cho anh Trân Văn B. Di chuc đươc lâp 2 bản, 1 bản lưu tại UBND xã , 1 bản đưa cho bà T. Năm 2008 bà T đa đê nghi UBND xa tach thưa đât sô 176, tơ bản đồ số 7 tại thôn P, xã K, huyên K, tỉnh Hải Dương làm 3 thưa: thưa sô 208 tơ ban đô sô 19 diên tich 163m2 đưng tên chi Trân Thi M; thưa sô 209 tơ ban đô sô 1, diên tich 163m2 đưng tên bà Trân Thi Tr, thưa sô 242 tơ ban đô sô 19, diên tích 243m2 đưng tên anh Trân Văn H.Đến năm 2010 anh H chơ ba T đến UBND xã nôp đơn xin rut ban di chuc đa lâp nên UBND xa đa tra lai anh H 01 bản di chúc mà xã đã lưu trước đó . Hiên tai UBND xa chi lưu 01 đơn xin rut di chuc của bà T. Thơi điêm ba T rút di chúc, tinh thân ba T hoàn toàn khoẻ mạnh , bình thương, có người chứng kiến là bà Huệ (trương thôn).

Ông Nguyên Văn Th , ông Nguyên Văn D , ông Nguyên Văn K là người làm chứng trình bày: Các ông la hang xom cua ba T. Tư trươc đên nay ranh giơi đât giưa nha ba T không co tranh châp gi. Bà T nhân nuôi chị M và anh H từ khi còn rất nhỏ . Sau đo me con ba T ra ngoai Quang Ninh sinh sông , đến khoảng năm 1985 thì 3 mẹ con bà T vê sinh sông ta thôn P, xã K trên diện tích đất hiện nay cua bà T. Quá trình chung sống mẹ con bà T luôn yêu thương va co trach nhiêm chăm soc , nuôi dương nhau , không đê xay ra điêu tiêng gi . Khi ba T ốm thì chị M, anh H đưa ba T ra ngoai Quang Ninh chăm soc . Bà T chêt thi anh H, chị M lo ma, thơ cung cho baT và chôn cất bàT tại Quảng Ninh.

Ông Trân V ăn S la trương ngành họ T r trình bày: Bà T không có chồng, bà T có nhận nuôi chị M, anh H từ lúc còn rất nhỏ, Sau khi nhận nuôi anh H, chị M thì 3 mẹ con bà T về chung sống với nhau tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Trong quá trình nuôi dưỡng thì 3 mẹ con bà T luôn yêu thương, chăm sóc nhau không có điều tiếng gì. Đến khi bà T bị ốm thì anh H, chị M đưa bà T ra ngoài Đầm Hà - Quảng Ninh để chăm sóc đến lúc bà T chết. Bà T có 1 mảnh đất tại thôn P, xã K, ngoài ra ông không còn thấy bà T có mảnh đất nào khác. Nguồn gốc đất là do bà T mua lại của ông Kh. Việc bà T có làm giấy tờ tặng cho anh Trần Văn B đất hay không thì ông không được rõ. Chữ ký của ông trong bản di chúc của bà T lập ngày 06/7/2005 thì đúng là chữ ký của ông. Vì thời gian cũng lâu rồi ông chỉ nhớ là có lần bà T mời ông đến nhà bà T tại thôn P, xã K, huyện K và bảo ký thì ông ký vào giấy, chứ ông cũng không đọc giấy viết nội dung gì, còn cụ thể cuộc nói chuyện ngày hôm đó như thế nào thì ông cũng không nhớ. Ông chỉ nhớ hôm đó, có ông, bà T, bà H3 và ông N. Từ trước tới nay ông cũng không nghe nói gì về việc bà T cho đất anh B hay cho ai đất. Bà T có rút hay huỷ bỏ di chúc hay không thì ông cũng không được biết và không nghe ai nói.

Bà Trân Thi H 3 là trưởng thôn P trình bày: Bà T nhân nuôi anh H, chị M tư khi con rât nho va cac bên luôn thưc hiên tôt quyền và nghia vu giữa mẹ với các con . Đến khi bà T ốm chết thì anh H, chị M lo tang , thơ cung ba T. Năm 2005 bà T có lập bản di chúc và mời bà đến để chứng kiến . Nôi dung di chuc là bà T cho anh B đât va tai san trên đât cua ba T tại thôn P, xã K . Nhưng sau đo khi ba T ốm anh B không co trach nhiêm gi vơi ba T nên năm 2010 bà T lâp đơn xin rut di chuc đươc ky vao ngay 11/02/2010, lúc đo ba T vân khoe manh , minh mân. Bà T có nói với bà là rút di chúc không cho anh B tài sản nữa mà tách thửa đât trên lam 3 thưa gôm co bà, anh H, chị M. Ngày 30/4/2011, bà T làm văn bản uỷ quyền cho anh H đến lấy giấy ch ứng nhận quyền sử dụng đất của bà T do bà H1 đang giư va ba co ky vao giây uy quyên trên . Năm 2011 bà T chêt thi vơ chông anh B chuyên vao sinh sống ở trên đất của bà T.Khi đo, anh H, chị M vân ở Quảng Ninh, sau đo anh H có về đòi lại đất nhưng anh B không tra va cac bên đa lam đơn ra xa giai quyêt.

Theo kết quả thâm đinh tai chô va định giá tai san ngay 16/6/2020 xác đinh: Thưa đât sô 176, tơ ban đô sô 7, diên tich hơp phap la 580 m2 tại thôn P, xã K , huyên K , tỉnh Hải Dương có giá trị 500.000 đồng/1m2 = 280.950.000 đồng, nhà ở xây gạch ba banh trị giá 12.081.000đ, 01 chuông lơn tri gia 38.073.000đ, chuông lơn mai lơp tôn tri gia 57.924.000đ, lán tôn trước nh à trị giá 3.032.000đ, lán tôn sau nhà trị giá 2.793.000đ, bioga nhưa tri gia 12.500.000đ, công săt tri gia 3.168.000đ, hàng rào lưới trị giá 5.744.000đ, 07 cây nhan tri gia 1.750.000đ, 02 cây xoai tri gia 650.000đ, 05 cây vai tri giá 3.850.000đ, 04 cây cau tri gia 600.000đ, 01 cây hông xiêm tri gia 60.000đ, 01 cây ôi tri gia 55.000đ, 01 cây mâu đơn tri gia 2.000.000đ, 01 cây bong tri gia 650.000đ, 02 cây chay tri gia 1.300.000đ, 01 cây dâu tri gia 40.000đ, 01 cây me trị giá 1.200.000đ, 01 cây mit tri gia 650.000đ, 01 cây xoan tri gia 100.000đ, 01 cây sung tri gia 300.000đ. Trong tông sô cac cây trông trên đât thi đai diên cua nguyên đơn va bi đơn đêu xac đinh ba T có 5 cây vai , 01 cây mi t, 01 cây mâu đơn . Ngày 09/9/2023, Tòa án đo ve, thâm đinh lại (đo bằng máy) xác định: Diên tich đât hiên trang cua ba T là 600,7m2 trong đo diên tich đât hơp phap cua bà T là 561,9m2, còn lại là 38,8m2 là hệ thống mương do x ã quản lý . Đối với các công trình và cây trồng trên đất thì các đương sự xác định vẫn giữ nguyên kích thước, hiên trang như thơi điêm thâm đinh ngay 16/6/2020 chỉ có 1 sô cây trông bi chêt không con gôm 05 cây nhan, 02 cây xoai, 01 cây cau, 02 cây chay, 01 cây bươi, 01 cây mâu đơn, 01 cây hông xiêm, 01 cây mit, 01 cây xoài, 01 cây sung.

Tại văn bản số 28/CV-HĐĐG ngay 12/9/2023, Hôi đồng đinh gia tai san huyên Kim Thanh xac đinh gia tri cac tai san đến thời điểm hiện nay vẫn giữ nguyên như biên ban đinh gia ngay 16/6/2020, nêu co đinh gia lai thi vân xac đinh gia tri đât cung như cac công trinh xây dưng , cây trông trên đât theo gia thi trương như thơi điêm đinh gia ngày 16/6/2020.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2023/DS-ST ngày 26/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã quyết định:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 158, 161, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 653, 662 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660; Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Điêu 100 Luật Đất đai năm 2013.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chi Trân Thi M.

2. Xác đinh di chuc lâp ngay 06/7/2005 của bà Trân Thi T không có hiệu lực

3. Xác định thời điểm mở thừa kế của bà Trân Thi T là ngày 26/11/2011.

4. Xác đinh hàng thừa kế thứ nhất của ba T gôm anh Trân Văn H và chị Trân Thi M.

5. Xác đi nh di sản thừa kế của cu T là: Diên tich 561,9 m2 thưa đât sô 176, tơ ban đô sô 07 tại thôn P, xã K, huyên K, tỉnh Hải Dương và 01 nhà ở xây gạch ba banh, 05 cây vai tông tri gia 296.881.000 đồng.

6. Xác định chia di sản thừa kế của cụ T theo phap luât . Di san chia đều cho 2 kỷ phần làanh H và chị M.

7. Xác định công sức quản lý, trông coi di san thưa kê cua anh B, chị H2 là 50.000.000 đồng= 100m2 đât.

8. Xác định tài sản gồm : lán tôn trước nhà , lán tôn sau nhà , bioga, công săt, hàng rào, 02 cây nhan, 01 cây me, 03 cây cau, 01 cây ôi, 01 cây sung, 01 cây dâu, chuông lơn lơp mai tôn, chuông lơn lơp mai froximang la cuaanh B, chị H2.

9. Ghi nhân sư tư nguyên cua chi Trân Thị M vê viêc cho anh H toàn bộ kỷ phần được hưởng . Chị M không yêu câu anh H phải trả giá trị tài sản đã cho anh H.

10.Trích 11m2 đât ơ trong tông sô diên tich đât 561,9m2 tại thửa đất số 176, tơ ban đô sô 07 tại thôn P, xã K , huyên K , tỉnh Hải Dương làm ngõ đi chung.

11. Chia băng hiên vât la đât cu thê như sau:

Giao cho anh H quản lý , sư dung diên tich đât 450,9m2 (trong đo co 157m2 là đất ở, 293,9m2 là đất trồng cây lâu năm) tại thửa đất sô 176, tơ ban đô sô 7, tại thôn P, xã K, huyên K, tỉnh Hải Dương từ các điểm B 1,A9, A10, A11, B5, B3, A2, A3, A4, A5, A6, B1.

Giao cho anh B, chị H2 đươc quan ly , sư dung diên tich đât 100m2(trong đo la 32m2 là đất ở, 68m2 là đât trông cây lâu năm ) tại thửa đất số 176, tơ ban đô sô 7, tại thôn P, xã K, huyên K , tỉnh Hải Dương từ các điểm B 5, A12, A13, B4, B5.

Trên phân đât anh H đươc giao co cac tai san gôm : 01 nhà ở , 01 chuông lơn lơp mai froxim ang, 01 chuông lơn lơp mai tôn , 01 lán tôn trước nhà , 01 lán tôn sau nha , 01 bioga, 04 cây vai , 01 cây me , 02 cây nhan , 01 cây ôi , 01 cây sung, 01 cây dâu , hàng rào lười B 40. Trong sô cac tai san trên xac đinh co 01 nhà ở, 04 cây vai la di san thưa kê cua cu T, còn lại là tài sản của anh B, chị H2 nên cân tiêp tuc giao cac tai san trên cho anh H quản lý, sư dung. Anh H có trách nhiêm thanh toan gia tri tai san trên đât cho anh B, chị H2 là 122.161.000đ.

Trên phân đât anh B, chị H2 đươc chia co cac tai san 03 cây cau , 01 cây vải. Xác định 03 cây cau la cua anh B, chị H2, còn 01 cây vai la cua cu T. Tiêp tục giao các cây trồng trên cho anh B, chị H2 quản lý , sư dung. Anh B, chị H2 có nghĩa vụ trả giá trị tài sản trên đất cho anh H giá trị cây vải là 770.000 đồng.

Trên phân ngo đi chung co 01 cây nhan thi chăt bo.

Đối với cánh cổng sắt thì phá bỏ.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, anh H kháng cáo không đồng ý trả công sức cho anh B chị H2 100m2 đất, mà chấp nhận trả công sức bằng tiền, chị Nh là người đại diện hợp pháp của anh B kháng cáo toàn bộ bản án, vì vụ án chưa được giải quyết khách quan và toàn diện. Ngày 02/5/2024, chị Nh có văn bản giải trình và bổ sung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Ngày 08/5/2024, chị Nh có đơn đề nghị định giá lại tài sản.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự và người đại diện có mặt giữ nguyên nội dung đã trình bày như nêu trên, người kháng cáo giữ nguyên đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến:Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh H và anh B; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng, kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị đơn anh B và kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh H trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, ngày 08/5/2024, chị Nh có đơn đề nghị định giá lại tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy Hội đồng định giá tài sản thực hiện việc định giá đúng quy định của pháp luật. Sau khi có kết quả định giá và tại phiên tòa sơ thẩm, không có đương sự nào có ý kiến về kết quả định giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của chị Nh.

[3] Xét kháng cáo của anh Trần Văn B, thì thấy: Bà Trần Thị Tr (tên gọi khác C, T) không có đăng kêt hôn vơi người khác, không co con đe . Bà T đã nhân nuôi chị M, sinh năm 1965 (khoảng năm 1967), nhận nuôi anh H, sinh năm 1976 (khoảng năm 1977) từ nhỏ. Đến nay, không xác định được bố mẹ đẻ của chị M, anh H. Mặc dù viêc nhân nuôi con nuôi không có thủ tục đăng ky nhân nuôi con nuôi nhưng cac đương sư đều thừa nhậngiữa bà T với anh H, chị M phát sinh quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc trên thực tế.Tại sổ hộ khẩu gia đình năm 1991 thê hiên chu hô la ba Trân Thi T, con đe la Trân Văn H (chị M không có tên trong hộ khẩu, do đã đi lây chông và sinh sống tại Quang Ninh ). Tại giấy khai sinh năm 2010 của anh H và giấy khai sinh năm 2012 của chị M, do UBND xã K cấp, đều thê hiên ho va tên me là Trân Thi Tr. Tòa án cấp sơ thẩm xác định chị M, anh H là con nuôi của bà Tr và xác định chị M, anh H là hàng thừa kế thứ nhất của bà Tr là phù hợp, đúng quy định của pháp luật, theo tinh thần, hướng dẫn quy định tại Nghị q uyêt sô : 01 ngày 20/01/1988 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao và tại thông tư số 81 ngày 24/7/1981 của TAND Tối cao.

[4] Ngày 06/7/2005, bà Trân Thi T lập di chúc. Di chuc co chưng thưc cua UBND xã K , huyên K , tỉnh Hải Dương theo số chứng thực 05/2005-Quyên 01 TP/CC-SCT/DCTC. Tuy nhiên, năm 2010 bà T đa co đơn đề nghị xin đươc rut di chuc. UBND xã K cung cấp, anh H có chở bà T đến UBND xã để nộp đơn xin rút di chúc ngày 06/7/2005 nên UBND xã vào sổ sách của xã và tra lai ba T bản di chuc gôc ma UBND xa đa lưu giư , hiên tai sô sach vê viêc rut ban di chuc , UBND xã không con lưu giư , đa bi thât lac do qua trinh di chuyên phong lam viêc. UBND xã vẫn còn lưu g iư ban xin rut di chuc cua ba T.Anh Trân Văn H xác định chư viêt va chư ky trong đơn xin rut di chuc la do anh H viêt, do bàT không biêt chư , bà T đã điêm chi vao ban xin rut di chuc . Tại bản kết luận giám đinh sô 2245/KL-KTHS ngay 17/4/2023, Viên khoa hoc hinh sư - Bô Công an, kêt luân:Dâu vân tay in phia dươi dòng chư ky ghi Trân TTrhtirong đơn xin rut di chuc ghi ngày 11/02/2010, đưng tên Trân Thi T đu yêu tô giam đinh. Dâu vân tay nay vơi dấu vân tay in ơ ô ngon tro trai măt sau Giây chưng minh thư nhân dân1s0ô0470830, ghi tên Trân ThiC, sinh năm1930, nơi thương tru Tân Bin, hQuảng Hà, Quảng Ninh là dấu vân tay cua cung môt ngư.ơNi hư vậy, có căn cứ xác định bà T đã điểm chỉ vào đơn xin rút di chúc ngày 11/02/2010. Thể hiện ý chí của bà T hủy bỏ bản di chúc lập ngày 06/7/2005, phù hợp lời khai của anh H và các tài liệu UBND xã cung cấp, lời khai của bà Trần Thị H3 (trưởng thôn).

[5]Đối với bản kết luận giám địn h sô 41/2022/TTTVGĐDS ngay 20/12/2022 của Trung tâm tư vấn giám định dân sự kết luận : Chư viêt mưc but bi xanh (A1) trong phân nôi dung cua đơn xin rut di chuc đê ngay 11/02/2010 không đươc viêt vao khoang thang 02/2010, mà được viêt vao khoang thang 11 năm 2020 vơi sai sô +-3 tháng. Chư viêt mưc but gel đen (A2) trong phân đê Ngươi lam chưng ky va ghi tên Trân Thi H 3 trong đơn xin rut di chuc đê ngay 11/02/2010 không đươc viêt vao khoang thang 02/2010, mà được viết vào khoảng tháng 11 năm 2020 vơi sai sô +-3 tháng.” Như vậy, theo kết luận giám định, chữ viết trong đơn xin rút di chúc sẽ được viết vào khoảng từ tháng 8/2020 đến tháng 02/2021. Tuy nhiên,đơn xin rut di chuc ban gôc đa lưu gi ữ tại UBND xã từ năm 2010. Đơn có điểm chỉ dấu vân tay được kết luận giám định là của bà C; mà bà C chết ngày 26/11/2011 nên không thể điểm chỉ vào đơn được viết trong khoảng thời gian từ tháng 8/2020 đến tháng 02/2021.Tại biên ban hoa giai của UBND xã K vào thời điểm năm 2012, UBND xa cung xac đinh ba T đa co đơn xin rut di chuc .Như vậy, nội dung kết luận giám định này không phù hợp với chứng cứ khác, không phù hợp với thực thế khách quan nên không được chấp nhận.

[6]Ông N bà H1 trình bày nguôn gôc đât tranh châp la do ông bà mua cho bà T và nhà ở là do ông N xây dựng cho bà T, ông N có tu tạo đất, anh B có xây đương ông nươc ơ dươi đất nhưng ông N không đưa ra đươc chứng cứ chưng minh. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án thu thập các tài liệu chứng cứ đều xác đinh diên tich đâtla cua ba T và nhà ở là do bà T xây dưng.Ông N, bà H1 không có công sức tu tạo đối với di sản thừa kế của bà T. Tại buổi xem xét thẩm tại chỗ ngày 09/9/2023 ông N có mặt và được thông qua kết quả xem xét thẩm định tại chô va xac đinh ngoai cac tai san theo như biên ban xem xet thâm đinh tai chô thì không còn tài sản nào khác . Do vậy, lơi khai trên cua ông N bà H1 là không có căn cứ, không được chấp nhận.

[7]Xét kháng cáo của anh Trần Văn H, thì thấy:Tòa án cấp sơ thẩm áng trích trả công sức quản lý, trông coi di sản cho anh B chị H2 là đúng quy định. Nếu di chúc của bà T không bị hủy bỏ thì anh B được nhận di sản của bà T bằng hiện vật là quyền sử dụng đất, việc bà T rút di chúc, anh B trình bày không biết. Tuy nhiên, thực tế di chúc bị hủy bỏ nên anh B được áng trích công sức; anh B chị H2 có nguyện vọng xin nhận hiện vật là đất, di sản của bà T có diện tích 561,9 m2, có thể chia, giao bằng hiện vật. Tòa án cấp sơ thẩm đã áng trích công sức cho anh B chị H2 và giao bằng hiện vật 100 m2 đất cho anh B chị H2 là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh H.

[8]Kháng cáo của anh B và anh H không được chấp nhận, Tòa áncấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ đầy đủ, xác định di chúc của bà T đã bị hủy bỏ, không còn hiệu lực. Xác định di sản thửa kế của bà T là diên tich 561,9 m2 đất tại thôn P, xã K, huyên K, tỉnh Hải Dương có giá trị là 280.950.000đ va 01 nhà ở xây gạch ba banh trị giá 12.081.000đ, 05 cây vai tri giá 3.850.000 đồng. Tông di san thưa kê la 296.881.000đ. Xác định đúng hàng thừa kế và chia thừa thế theo pháp luật là đúng quy định. Không có căn cứ về việc hủy bản án sơ thẩm. Tại cấp phúc thẩm, không có tài liệu, chứng cứ gì mới làm thay đổi nội dung vụ án;cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương.

[9] Về án phí,kháng cáo của anh B, anh H không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[10] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Văn B và anh Trần Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 28/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

2. Về án phí: Anh B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí do chị Trần Thị N nôp la 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng số:AA/2022/0001741 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Anh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng số: AA/2022/0001737 ngày 09/10/2023 của Chi cuc Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Anh H, anh B đã nộp đủ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

92
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp thừa kế tài sản số 42/2024/DS-PT

Số hiệu:42/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/05/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về