TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
BẢN ÁN 28/2024/DS-PT NGÀY 25/01/2024 VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN
Ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 262/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 529/2024/QĐ-PT, ngày 10 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần Văn N (Trần Gia N1), sinh năm 1965; nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hào H, bà Trịnh Thị H1 và ông Vũ Văn Q - Luật sư của Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H; Ông H, ông Q vắng mặt; bà H1 có mặt.
* Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1956; nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc T (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án); Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Ngọc C1, sinh năm 1960; nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc T; Có mặt.
2. Bà Trần Thị M, sinh năm 1969; nơi cư trú: Chaplin Court, C Q, London SE14 5HD, E; Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Đỗ Thị Thu H2 - Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; Có mặt.
3. Ông Trần Đức B, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc T; Có mặt.
4. Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1974; nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
5. Chị Alanskas Mellisa T1, sinh năm 1989; chị Alanskas N2, sinh năm 1992; cùng nơi cư trú: Số E A, Newtown 2042, New South W, A (đều là con của bà Trần Thị T2 - chết năm 1999); Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị M; Có mặt.
6. Ông Lương Huynh Đ, sinh năm 1949; nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc T; Có mặt.
7. Bà Phùng Thị Hồng C2, sinh năm 1972 (vợ ông N1); nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Có mặt.
8. Bà Lã Thị H3, sinh năm 1961 (vợ ông C); nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
9. Bà Bùi Thị Kim L, sinh năm 1977 (vợ ông B1); nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
10. Bà Lê Thị B2, sinh năm 1965 (vợ ông C1); nơi cư trú: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Trần Văn N trình bày:
Cụ Trần Văn K, sinh năm 1935 (chết năm 2007) và cụ Nguyễn Thị T3, sinh năm 1935 (chết năm 2018) sinh được 08 người con là ông Trần Văn C, bà Trần Thị T2 (chết năm 1999), ông Trần Ngọc C1, bà Trần Thị Ngọc B3 (chết năm 2019), ông Trần Văn N, bà Trần Thị M, ông Trần Đức B, ông Trần Ngọc T. Ngoài ra, cụ K và cụ T3 còn có một người con nuôi là ông Lương Huynh Đ. Bà Trần Thị T2 có hai người con là: Chị Alanskas Mellisa T1 và chị Alanskas N2. Bà Trần Thị Ngọc B3 không có chồng con.
Khi còn sống, cụ K và cụ T3 tạo dựng được khối tài sản là diện tích đất khoảng 6.500m2; địa chỉ tại: Số D Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng. Cụ K và cụ T3 chết đều không để lại di chúc. Sau khi cụ K và cụ T3 chết, các con của các cụ quản lý, sử dụng diện tích đất trên. Năm 2019, Ủy ban nhân dân (UBND) quận H tiến hành quy hoạch Dự án Hoàng Huy Grand T4 trên địa bàn phường S, quận H. Theo quy hoạch của Dự án thi toàn bộ diện tích đất 6.500m2 thuộc quyền sử dụng của cụ K và cụ T3 thuộc diện thu hồi, giải phóng mặt bằng. Đến tháng 4/2020, UBND quận H tiến hành thu hồi toàn bộ diện tích đất nêu trên, đền bù để giải phóng mặt bằng bàn giao cho Công ty cổ phần Đ1 để thực hiện Dự án H. Do cụ K và cụ T3 chết không để lại di chúc nên UBND quận H yêu cầu các đồng thừa kế của cụ K và cụ T3 cứ người đại diện cho các đồng thừa kế nhận các chính sách về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất. Do đó nguyên đơn và các đồng thừa kế khác đã ký văn bản ủy quyền cho ông Trần Văn C thực hiện việc nhận tiền đền bù của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Theo phương án bồi thường thì số tiền cụ K, cụ T3 được Nhà nước bồi thường cho việc thu hồi diện tích đất 6.500m[2 ] là khoảng 37.000.000.000 đồng, được chia thành 03 đợt gồm: Đợt 1: Khoảng giữa tháng 4/2020 là 12.000.000.000 đồng; Đợt 2: Khoảng cuối tháng 4 năm 2021 là 20.000.000.000 đồng; Đợt 3: Khoảng cuối tháng 11 năm 2021 là 5.000.000.000 đồng. Sau khi ông C đại diện cho các đồng thừa kế nhận số tiền nêu trên thì ông C đã đưa cho mỗi người số tiền là 100.000.000 đồng và thống nhất đến tháng 4/2021 sẽ tiến hành phân chia di sản thừa kế của cụ K và cụ T3 để lại là số tiền nêu trên.
Đến tháng 4/2021, nguyên đơn và các đồng thừa kế đã nhiều lần yêu cầu ông C phân chia di sản thừa kế số tiền ông C đã đại diện nhận nhưng ông C không phân chia mà chiếm giữ toàn bộ số tiền đó. Hiện tại, nguyên đơn và các đồng thừa kế khác không thoả thuận được về việc phân chia số tiền ông C đã đại diện nhận đền bù diện tích đất 6.500m2 nêu trên nên nguyên đơn khởi kiện đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ K và cụ T3 để lại là số tiền là khoảng 37.000.000.000 đồng mà Nhà nước đã đền bù khi thu hồi đất theo quy định của pháp luật.
Đến ngày 22/02/2023, ông Trần Văn N có Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Ông N chỉ yêu cầu Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ K và cụ T3 đối với số tiền 15.973.814.730 đồng là số tiền UBND quận H đã chi trả đối với việc thu hồi diện tích đất 4.194,4m2 của cụ K và cụ T3 theo Văn bản số 36/PTQĐ ngày 05/7/2021 của Trung tâm Phát triển quỹ đất; văn bản số 148/UBND/TNMT của UBND quận H gửi Toà án ngày 07/02/2022. Số tiền này hiện ông Trần Văn C nhận thay các đồng thừa kế của cụ K và cụ T3, ông N đề nghị được rút yêu cầu chia di sản thừa kế là khoản tiền Nhà nước bồi thường khi thu hồi diện tích đất của cụ K và cụ T3 tại Dự án Bảo hiểm xã hội thành phố và một phần số tiền bồi thường của Dự án H - phường S.
Bị đơn là ông Trần Văn C; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Ngọc C1, ông Trần Ngọc T, ông Trần Đức B, ông Lương Huynh Đ, bà Lã Thị H3, bà Lê Thị B2, bà Bùi Thị Kim L và bà Vũ Thị H4 thống nhất trình bày:
Cụ Trần Văn K (chết năm 2007) và cụ Nguyễn Thị T3 (chết năm 2017) sinh được 08 người con là ông Trần Văn C, bà Trần Thị T2 (đã chết, có hai con đang sinh sống tại nước Úc), ông Trần Ngọc C1, bà Trần Thị Ngọc B3 (đã chết, không có chồng, con), ông Trần Văn N, bà Trần Thị M, ông Trần Đức B, ông Trần Ngọc T và 01 người con nuôi là ông Lương Huynh Đ (không làm thủ tục nhận con nuôi nhưng cụ K, cụ T3 và anh em trong gia đình đều thừa nhận).
Khi còn sống, cụ K và cụ T3 có thuê diện tích đầm ao tại khu vực Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng từ năm 1982. U lại toàn bộ diện tích là 07 mẫu, 07 sào. Năm 1998, cụ K giao cho ông N quản lý, thu hoạch nửa dưới; ông T quản lý thu hoạch nửa trên nhưng giao cho ông C quản lý toàn bộ tài sản là đất đai, đầm ao. Việc này cụ K1 và cụ T3 có viết giấy ủy quyền và có xác nhận của UBND phường S ngày 09/02/1998.
Quá trình sử dụng đất, gia đình các ông có khai hoang thêm diện tích đất không có ai quản lý, sử dụng và san lấp ao hồ thành mặt bằng rồi thành lập Công ty TNHH V để khai thác khu đất làm nhà xưởng, kho, bãi đỗ xe. Thời gian này ông N đang bị bắt thi hành án hình sự. Toàn bộ diện tích đất của cụ K và cụ T3, sau khi các cụ mất thì tất cả các con của cụ đều cùng quản lý, không phân chia cho ai. Năm 2020, Nhà nước thu hồi 6.000m2 đất để xây dựng khu nhà Hoàng H5, bồi thường khoảng hơn 39.000.000.000 đồng. Thời điểm này cụ K và cụ T3 đã chết. Trong số tiền này ông N đã nhận 11.000.000.000 đồng là do phần đất ông N đang quản lý, sử dụng có một phần diện tích đất thổ cư nên ông không đồng ý cho Nhà nước thu hồi. Do vậy, Ban quản lý Dự án và UBND phường đã vận động gia đình nhanh chóng thực hiện việc bàn giao mặt bằng, làm thủ tục bồi thường nên các anh em trong gia đình đồng ý để ông N nhận số tiền này. Phần còn lại là của chung các anh chị em, chưa phân chia cho ai. Tại hồ sơ thu hồi ghi nhận thu hơn 6.000m2, tổng số tiền bồi thường là 39,1 tỷ đồng, trong đó xác định ông N nhận số tiền là 10.197.000.000 đồng tương ứng diện tích đất 1.089,7m2. Ông C đại diện cho các đồng thừa kế nhận số tiền 15.973.000.000 đồng tương ứng diện tích 4.200,4m2. Ông B nhận số tiền 1.230.000.000 đồng tương ứng với diện tích 930,3m2. Ông C1 nhận số tiền 2.737.000.000 đồng tương ứng diện tích 121,3m2. Đây chỉ là việc các đồng thừa kế tạm phân chia, lập hồ sơ để thuận lợi cho quá trình thu hồi đất. Thực tế phần diện tích đất đứng tên ông N bồi thường là của ông T quản lý, sử dụng làm quán bán hàng. Khi thu hồi đồng ý cho ông N nhận là vì để nối với phần diện tích đất ông N quản lý để nối ra mặt đường (vì đất của ông N ở tuyến 3, thực tế ông N chỉ có 0,7m2 đất thổ cư) thì số tiền đền bù được cao hơn. Mặt khác, số tiền chung của anh chị em thống nhất để xây dựng nhà cửa chung trên phần diện tích đất chưa thu hồi và phần mộ của các cụ tại Bắc Giang, số tiền ông C đại diện nhận không có phần của ông N. Còn nếu ông N đề nghị yêu cầu chia thừa kế số tiền này thì đề nghị Toà án nhập toàn bộ số tiền hơn 39 tỷ đồng để chia đều cho 08 anh chị em là các đồng thừa kế của cụ K và cụ T3. Còn nếu ông N cho rằng số tiền khoảng 11.000.000.000 đồng đã nhận là của riêng ông N thì ông N phải chứng minh. Hiện tại, ông C, ông C1, ông N, ông B1, ông T và ông Đ đang quản lý, sử dụng phần diện tích đất chưa thu hồi có nguồn gốc của cụ K và cụ T3. Phần diện tích đất của mỗi người sử dụng không có ranh giới ngăn cách rõ ràng.
Ngoài ra, ông T còn trình bày: Số tiền được bồi thường thì các anh chị em trong gia đình mỗi người còn được nhận một suất tái định cư tại Hồ Đ, phường S, quận H, Hải Phòng. Riêng phần của ông T được nhận khoảng 70m2, còn phần diện tích đất tái định cư của các anh em khác, ông T không nắm được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị M, chị Alanskas Mellisa T1 và chị Alanskas N2 thống nhất trình bày:
Bà M là người đại diện theo ủy quyền của chị Alanskas Mellisa T1 và chị Alanskas N2. Bà M xác nhận mối quan hệ huyết thống trong gia đình đúng như nguyên đơn, bị đơn trình bày. Hiện bà M không còn quốc tịch Việt Nam mà đã có quốc tịch Anh Q1 từ năm 2001. Bà Trần Thị T2 đã chết năm 1999. Bà T2 có chồng là ông Ray A1 và 02 con gái là chị Alanskas Mellisa T1 và chị Alanskas N2, hiện đang sinh sống tại Australia. Bà B3 đã chết năm 2018, còn lại các anh chị em khác trong gia đình hiện còn sống. Bà M được biết khi bố mẹ bà M còn sống có diện tích đất khoảng trên 10.000m2. Bà M không rõ cụ K và cụ T3 đã chia hoặc tạm chia cho các con hay chưa. Bà M chỉ biết năm 2020, Nhà nước đã thu hồi và bồi thường một phần diện tích đất cụ thể là bao nhiêu thì bà M không nắm được vì không có ai thông báo cho bà M biết. Bà M không ủy quyền cho ai đại diện cho bà M để thực hiện việc nhận bồi thường số tiền của Nhà nước. Bà M đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông N về việc chia di sản thừa kế của cụ K và cụ T3 theo quy định của pháp luật và đồng ý với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông N. Trong trường hợp không có mặt tại Việt Nam để tham gia các buổi làm việc tại Toà án thì bà M hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà M. Nếu bà M không ủy quyền thì đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt bà M. Các văn bản tố tụng của Toà án cần tống đạt cho bà M thì đề nghị Toà án giao cho ông N nhận thay.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào các các Điều 611, 612, 613, 649, 650, 651 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, Điều 164, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 7 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2 của Luật Người cao tuổi.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Trần Văn N.
1. Ông Trần Văn C có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Trần Ngọc C1, ông Trần Văn N, ông Trần Đức B, ông Trần Ngọc T, ông Lương Huynh Đ mỗi người số tiền là 1.896.726.816 đồng (Một tỷ tám trăm chín mươi sáu triệu bẩy trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm mười sáu đồng).
2. Ông Trần Văn C3 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Trần Thị M số tiền là 1.996.726.816 đồng (Một tỷ chín trăm chín mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn tám trăm mười sáu đồng).
3. Ông Trần Văn C có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Alanskas Mellisa T1 và chị Alanskas N2 số tiền là 1.996.726.816 đồng. Chia phần cụ thể: Chị Alanskas Mellisa T1 và chị Alanskas N2 mỗi người được nhận số tiền là 998.363.420 đồng (Chín trăm chín mươi tám triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi đồng).
4. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về việc chia số tiền còn lại của Dự án Hoàng H5 - Sở Dầu và số tiền đền bù của Dự án trụ sở Bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án, nghĩa vụ chậm trả và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/4/2023, nguyên đơn ông Trần Văn N có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không công nhận ông Lương Huynh Đ là con nuôi của cụ Trần Văn K và cụ Nguyễn Thị T3, đề nghị chia di sản thừa kế của hai cụ để lại cho 07 người thừa kế gồm: ông Trần Văn C, ông Trần Ngọc C1, ông Trần Văn N, bà Trần Thị M, ông Trần Đức B4, ông Trần Ngọc T và thừa kế kế vị của bà Trần Thị T2 là chị Melisa A2, chị Nicole A3.
Cùng ngày 05/4/2023, bị đơn là ông Trần Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Ngọc T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế, đề nghị nhập chung số tiền 39,1 tỷ đồng để chia thừa kế, sau khi đã trừ giá trị tài sản mà vợ chồng ông C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã đầu tư san lấp, xây dựng, cải tạo trên phần đất được bồi thường và xem xét công sức của những người thực tế quản lý, sử dụng phần đất bị thu hồi.
Ngày 14/4/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị M có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không công nhận ông Lương Huynh Đ là con nuôi của cụ Trần Văn K và cụ Nguyễn Thị T3 và không được hưởng thừa kế của hai cụ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị chấp nhận kháng cáo và sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nêu trong đơn kháng cáo; các bên đương sự giữ nguyên quan điểm đã trình bày, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị M đề nghị HĐXX căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đánh giá tài liệu, chứng cứ khách quan, toàn diện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các đương sự trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bên đương sự và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Ông Trần Văn N khởi kiện ông Trần Văn C yêu cầu chia thừa kế đối với giá trị diện tích 6.500m2 đất Nhà nước đã đền bù khi thu hồi đất; Vụ án có đương sự hiện đang cư trú tại nước ngoài (Australia và E); Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 5 Điều 26; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ K và cụ T3 đối với số tiền 15.973.814.730 đồng là số tiền UBND quận H đã chi trả đối với việc thu hồi diện tích đất 4.194,4m2 của cụ K và cụ T3 theo Văn bản số 36/PTQĐ ngày 05/7/2021 của Trung tâm Phát triển quỹ đất; văn bản số 148/UBND/TNMT của UBND quận H gửi Toà án ngày 07/02/2022. Số tiền này hiện ông Trần Văn C nhận thay các đồng thừa kế của cụ K và cụ T3. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định quan hệ tranh chấp là yêu cầu chia thừa kế đối với số tiền 15.973.814.730 đồng và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện đã rút là phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về việc vắng mặt của một số đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, một số đương sự vắng mặt nhưng có mặt đại diện theo ủy quyền; một số đương sự vắng mặt không rõ lý do nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt họ.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Trần Văn N, bị đơn là ông Trần Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị M, ông Trần Ngọc T, HĐXX thấy:
[2.1]. Về diện và hàng thừa kế: Các bên đương sự đều trình bày thống nhất cụ Trần Văn K (chết năm 2007) và cụ Nguyễn Thị T3 (chết năm 2018). Cụ K và cụ T3 sinh được 08 người con là ông Trần Văn C, bà Trần Thị T2 (chết năm 1999, có 02 người con là chị Alanskas Mellisa T1 và chị Alanskas N2), ông Trần Ngọc C1, bà Trần Thị Ngọc B3 (chết năm 2019, không có chồng, con), ông Trần Văn N, bà Trần Thị M, ông Trần Đức B, ông Trần Ngọc T.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xác định cụ K và cụ T3 còn có một người con nuôi là ông Lương Huynh Đ. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Trần Văn N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị M không thừa nhận ông Lương Huynh Đ là con nuôi của cụ K và cụ T3, không đồng ý yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ K và cụ T3 cho ông Lương Huynh Đ nhưng bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lại xác định ông Lương Huynh Đ là con nuôi của cụ K và cụ T3. Như vậy, quan điểm của các bên đương sự là không thống nhất, tuy nhiên ngoài lời khai của các bên đương sự thì Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ chứng minh ông Lương Huynh Đ có phải là con nuôi của cụ K và cụ T3 hay không? Là con nuôi về mặt pháp lý hay là con nuôi thực tế? Vì vậy, chưa có đủ căn cứ xác định ông Lương Huynh Đ có đủ điều kiện để được hưởng thừa kế như các con đẻ của cụ K, cụ T3 hay không nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chia thừa kế cho ông Lương Huynh Đ là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án.
Cần thiết phải tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh rõ ông Lương Huynh Đ có phải là con nuôi của cụ K và cụ T3 hay không, nếu là con nuôi thì thời điểm xác lập mối quan hệ cha mẹ và con nuôi là thời điểm nào. Bởi pháp luật điều chỉnh việc xác lập, quyền nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi - con nuôi như Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Luật HN&GĐ năm 1986; Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/07/1981 của TANDTC; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002; Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Luật Hộ tịch năm 2014; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014... là có sự khác nhau.
Ngoài việc lấy lời khai của các bên đương sự (là các đồng thừa kế) về mối quan hệ giữa cụ K, cụ T3 và ông Đ cần thiết phải tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ khác chứng minh mối quan hệ giữa họ như xác minh tại chính quyền địa phương về việc có sự kiện đăng ký nhận cha mẹ nuôi và con nuôi giữa cụ K, cụ T3 và ông Đ không; thu thập các giấy tờ nhân thân như: Sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, sơ yếu lý lịch có xác nhận của chính quyền địa phương… Lập phiếu lấy ý kiến của những người dân sống lâu năm tại địa phương về thực chất mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, ý chí của người nhận nuôi trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc; tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về trách nhiệm của con nuôi đối với cha, mẹ nuôi, đặc biệt là khi cha, mẹ nuôi đau ốm (nếu có); việc lo ma chay, tang lễ khi cha mẹ nuôi chết... Khi phát sinh tranh chấp giữa các hàng thừa kế, Tòa án phải tiến hành xác minh làm rõ các vấn đề về quan hệ nuôi dưỡng, trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng, thờ phụng, ma chay của con nuôi để từ đó có cơ sở xác định có việc nhận nuôi và có quan hệ cha, mẹ và con nuôi hay không.
[2.2]. Về di sản thừa kế: Nguyên đơn cho rằng số tiền 15.973.000.000 đồng là giá trị diện tích đất 3.493,2m2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cụ K, cụ T3 được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi để thực hiện Dự án H - Sở Dầu. Số tiền này do ông Trần Văn C nhận và đang quản lý với tư cách là đại diện cho các đồng thừa kế của cụ K và cụ T3. Do cụ K và cụ T3 đều đã chết và không để lại di chúc, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền này là một phần di sản thừa kế do cụ K và cụ T3 để lại là có căn cứ.
Tuy nhiên, theo trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm thì số tiền cụ K, cụ T3 được Nhà nước bồi thường cho việc thu hồi diện tích đất 6.500m2 là khoảng 37.000.000.000 đồng, được chia thành 03 đợt: Đợt 1: Khoảng giữa tháng 4/2020 là 12.000.000.000 đồng; Đợt 2: Khoảng cuối tháng 4/2021 là 20.000.000.000 đồng; đợt 3: Khoảng cuối tháng 11/2021 là 5.000.000.000 đồng. Số tiền này bị đơn là ông Trần Văn C là đại diện cho các đồng thừa kế của cụ K, cụ T3 nhận và chưa chia lại cho các anh chị em. Số tiền 37.000.000.000 đồng không bao gồm số tiền ông N nhận bồi thường là 10.197.000.000 đồng tương ứng diện tích đất 1.089,7m2.
Mặc dù vậy, theo trình bày của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm thì: Năm 2020, Nhà nước thu hồi 6.000m2 đất để xây dựng khu nhà Hoàng H5, bồi thường khoảng hơn 39.000.000.000 đồng. Thời điểm này cụ K và cụ T3 đã chết. Tại hồ sơ thu hồi ghi nhận thu hồi hơn 6.000m2, tổng số tiền bồi thường là 39,1 tỷ đồng, trong đó xác định ông N nhận số tiền là 10.197.000.000 đồng tương ứng diện tích đất 1.089,7m2. Ông C đại diện cho các đồng thừa kế nhận số tiền 15.973.000.000 đồng tương ứng diện tích 4.200,4m2. Ông B nhận số tiền 1.230.000.000 đồng tương ứng với diện tích 930,3m2. Ông C1 nhận số tiền 2.737.000.000 đồng tương ứng diện tích 121,3m2. Đây chỉ là việc các đồng thừa kế tạm phân chia, lập hồ sơ để thuận lợi cho quá trình thu hồi đất chứ trên thực tế các đồng thừa kế chưa phân chia di sản thừa kế. Hồ sơ vụ án chưa thể hiện rõ số tiền bồi thường là bồi thường cho những phần đất nào, đất của hai cụ để lại sau khi đã cho các con hay có các phần đã cho các con và phần chưa cho. Như vậy chưa xác định được di sản thừa kế là toàn bộ số tiền 15.973.000.000 đồng hay chỉ là một phần của số tiền này.
Như vậy, lời khai của các bên đương sự về nguồn gốc số tiền ông Trần Văn C đã nhận bồi thường của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có mâu thuẫn, nhưng chưa được cấp sơ thẩm xác minh làm rõ. Sở dĩ cần phải tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh nội dung này bởi lẽ:
Theo đơn khởi kiện và trình bày của bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế, các ông đề nghị nhập chung số tiền khoảng 39,1 tỷ đồng để chia thừa kế, trong đó bao gồm cả số tiền ông Trần Văn N đã nhận bồi thường là 10.197.000.000 đồng và 300m2 đất ở ông Trần Văn N đang sử dụng. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn khởi kiện đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ K và cụ T3 để lại là số tiền là khoảng 37.000.000.000 đồng mà Nhà nước đã đền bù. Như vậy, trường hợp xác định số tiền 10.197.000.000 đồng ông Trần Văn N nhận bồi thường nằm trong số tiền khoảng 37.000.000.000 đồng mà ông N khởi kiện ban đầu thì bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không cần làm thủ tục yêu cầu phân tố, yêu cầu độc lập đề nghị chia thừa kế đối với số tiền này. Nhưng nếu xác định số tiền khoảng 10.197.000.000 đồng này không nằm trong số tiền 37.000.000.000 đồng mà ông Trần Văn N khởi kiện chia thừa kế ban đầu thì tại các Đơn trình bày của các đương sự và Biên bản lấy lời khai, các đương sự như ông C, ông C1, ông T, ông B, ông Đ đều có lời khai về việc yêu cầu nhập chung số tiền bồi thường ông N đã nhận vào tổng số tiền bồi thường để chia thừa kế (BL 115 - 119; 124 - 127; 139 - 143), Tòa án cấp sơ thẩm phải có văn bản hướng dẫn họ thực hiện quyền yêu cầu phân tố, yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhằm giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện. Ngoài ra, lời khai của các bên đương sự cũng mâu thuẫn giữa số tiền cụ K và cụ T3 được bồi thường là khoảng 37.000.000.000 đồng hay khoảng 39,1 tỉ đồng. Nội dung này cũng cần xác minh làm rõ, làm căn cứ hướng dẫn đương sự thực hiện yêu cầu phân tố, yêu cầu độc lập đúng quy định pháp luật.
Phía bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng đề nghị xem xét công sức đầu tư san lấp, xây dựng, cải tạo trên phần đất được bồi thường và xem xét công sức của những người thực tế quản lý, sử dụng phần đất bị thu hồi, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xem xét hoặc có văn bản yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu này là có thiếu sót.
[3]. Ngoài ra, đây là vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế mà không phải là tranh chấp kiện đòi tài sản nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xác định rõ các vấn đề phải chứng minh trong vụ án chia thừa kế như xác định thời điểm mở thừa kế, xác định diện và hàng thừa kế, xác định di sản thừa kế, phương pháp chia thừa kế, công sức tôn tạo, duy trì, quản lý di sản thừa kế, nghĩa vụ của người được hưởng di sản thừa kế.... Tại phần quyết định của Bản án sơ thẩm cũng không xác định rõ di sản thừa kế, ký phần thừa kế mỗi đương sự được hưởng, giá trị ký phần chênh lệch mà chỉ tuyên nghĩa vụ hoàn trả giá trị ký phần thừa kế chênh lệch giữa các đương sự là không phù hợp quy định pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không xác định rõ di sản thừa kế được chia trong vụ án này là di sản thừa kế nào dẫn tới tình trạng sau này khi các đồng thừa kế của cụ K và cụ T3 tranh chấp phần di sản thừa kế khác của cụ K và cụ T3 (nếu có) sẽ không xác định được phần di sản thừa kế nào chưa được chia, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án sau này cũng như quá trình thi hành án dân sự.
[4]. Xét thấy, việc thu thập chứng cứ và chứng minh của cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục được, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, HĐXX phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của các đương sự, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[5]. Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên, Căn cứ Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn N, ông Trần Văn C, ông Trần Ngọc T và bà Trần Thị M; Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: Ông Trần Văn N, ông Trần Văn C, ông Trần Ngọc T và bà Trần Thị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; trả lại cho ông Trần Văn N, ông Trần Ngọc T, bà Trần Thị M mỗi người số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp lần lượt theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006500 ngày 12/4/2023; 0006478 ngày 10/4/2023; 0006589 ngày 25/4/2023 đều của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xác định khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp thừa kế tài sản số 28/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 28/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 25/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về