Bản án về tranh chấp thừa kế tài sản số 23/2024/DS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 23/2024/DS-ST NGÀY 13/08/2024 VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN

Trong các ngày 09/8/2024 và ngày 13/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; xét xử sơ thẩm công khai vụ thụ lý số: 50/2024/TLST- DS ngày 26 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh  chấp về thừa kế tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-DS ngày 17/6/2024; theo Quyết định hoãn phiên toà số: 35/2024/QĐST-DS ngày 15/7/2024, G các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế K, sinh năm 1968 (Có mặt);

HKTT: Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1960 (Có mặt);

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1961 (Có mặt);

Cùng địa chỉ: Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan:

1. Ông Nguyễn Thế S, sinh năm 1950 (Có mặt);

Địa chỉ: Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Xóm G, thôn Đại T, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

4. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Xóm T, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

5. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn NĐ, xã Hoàn S huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

6. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1973 (Xin vắng mặt);

Địa chỉ: Xóm G, thôn Đại T, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

7. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1961 (Có mặt);

8. Chị Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1990;

9. A Nguyễn Thế T, sinh năm 1985;

Cùng địa chỉ: Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

10. Chị Nguyễn Thị ThA Q, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Xóm 5, thôn L, xã Tri P, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện theo ủy quyền của chị P, A T, chị Q: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1961 (Có mặt);

Địa chỉ: Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh 11. Bà Nguyễn Thị Định, sinh năm 1952 (Vắng mặt);

12. A Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1980 (Có mặt);

13. Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977 (Vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

14. Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn L, xã Tri P, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện, tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà ông Nguyễn Thế K trình bày:

Bố mẹ ông L ông Nguyễn Thế B, sinh năm 1927 (chết năm 1988) và bà Đào Thị Tám, sinh năm 1928 (chết năm 2018), trước khi chết bố mẹ ông không để lại di chúc.

Quá trình sinh sống bố mẹ ông sinh được 08 người con gồm có: Ông Nguyễn Thế S, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Thế T, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thế K, bà Nguyễn Thị A. Bố mẹ ông không nhận ai Lm con nuôi, không Lm con nuôi ai.

Năm 1970, bố mẹ ông có được nhà nước cấp cho thửa đất thuộc khu vực xóm G, thôn ĐV, diện tích 360 m2 theo diện gia đình đông con để Lm đất ở có quy hoạch của nhà nước. Đến năm 1981, bố mẹ ông xây dụng 01 ngôi nhà 3 gian, cấp IV trên một phần thửa đất cho ông S Đ quản lý và sử dụng. Đến năm 2001, ông S được cấp quyền sử dụng đất L thửa số 06, tờ bản đồ cũ số 08, diện tích 157 m2 , tại Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Thửa đất của bố mẹ ông vẫn còn 203 m2 chưa chia cho ai. Năm 1990, mẹ ông có xây dụng 01 ngôi nhà 3 gian cấp IV trên phần đất còn lại cho ông T sinh sống. Năm 1998, ông T có phá ngôi nhà cấp IV và xây dựng lại 01 ngôi nhà 2 tầng và 01 lán lợp tôn.

Khoảng năm 2008, nhà nước có Lm lại đường sau khi bị thu hồi thì phần còn lại có diện tích 168,2 m2 nay L thửa số 1076, tờ bản đồ số 50, diện tích 168,2 m2 (gọi tắt L thửa đất số 1076) tại Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh được UBND xã ĐĐ đo đạc năm 2021. Hiện nay thửa đất Đ được ông Nguyễn Thế T quản lý và sử dụng.

Trên đất hiện nay có ông Nguyễn Thế T và bà Nguyễn Thị Q (vợ ông T), A Nguyễn Thế T. Ông T và bà Q có 01 con gái tên L Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990 lấy chồng năm 2014 và sinh sống tại nhà chồng tại thôn L, xã Tri P, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Tài sản trên đất gồm có: 01 ngôi nhà 2 tầng do ông T và bà Q xây dựng năm 1998 và 01 lán lợp tôn. Trị giá thửa đất khoảng 500.000.000 đồng; các tài sản trên đất tổng trị giá khoảng 200.000.000 đồng. Sau khi bà Tám chết thì A em có tranh  chấp, ông T kiện ông năm 2022 và ông kiện ông T năm 2023, trước đó không ai có đơn thư ra UBND xã lần nào.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của bố mẹ ông L thửa số 1076, do ông Nguyễn Thế T Đ quản lý và sử dụng cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị chia B hiện vật. Đối với phần diện tích đã bị thu hồi Lm đường ông T nhận bồi thường ông không có ý kiến, yêu cầu gì. Đối với thửa đất của ông S Đ quản lý sử dụng ông không có ý kiến yêu cầu gì.

Ngoài ra ông không có ý kiến yêu cầu gì khác.

*Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án của bị đơn ông Nguyễn Thế T, tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của ông T L bà Nguyễn Thị Q trình bày:

Bố mẹ ông L ông Nguyễn Thế B và bà Đào Thị Tám, có các 08 người con như ông K trình bày L đúng, trước khi chết bố mẹ ông không để lại di chúc. Bố mẹ ông không nhận ai Lm con nuôi, không Lm con nuôi ai.

Bố mẹ ông có 01 thửa đất diện tích 245 m2, ở xóm G, ĐV, xã ĐĐ (Đất ở trong Lng), các ông sinh ra và lớn lên đều ở trên thửa đất này hiện nay ông K Đ sử dụng.

Năm 1960, cải cách ruộng đất bố mẹ ông, ông S, bà N, bà T, T được chia ruộng phần trăm ngoài đồng, mỗi người được 3 thước bắc bộ B 72 m2, gia đình ông được 6 định xuất B nhau tổng diện tích L 432 m2, tuy nhiên thực tế không được như vậy. Năm 1970, theo chính sách địa P gia đình ông được đổi đất từ G đồng về gần Lng, theo tỷ lệ 1:1. Đến năm 1980, do chính sách mở rộng dân cư nên ông S có Lm đơn để xây dựng nhà trên đất gần Lng được chia phần của ông S và của bố mẹ ông. Năm 1988, địa P chia lại ruộng phần trăm thì phần của bố mẹ ông đã chuyển ra ngoài đồng, ông S bị trừ ruộng ở ngoài đồng, ông cũng bị trừ ruộng và không được chia ở ngoài đồng. Năm 1985, ông xây dựng gia đình với vợ L bà Nguyễn Thị Q, bố mẹ ông cho vợ chồng ra ở trên thửa đất này. Năm 1992, vợ chồng ông Lm đơn xin được xây dựng nhà trên đất, phần định suất của ông và của bà N, bà T. Bà T, bà N cho ông ruộng từ đó đến nay không có ý kiến gì. Ông L người phải đóng thuế đất hàng năm, tuy nhiên L thuế đất phần trăm, không phải L đất ở như hiện nay. Từ tháng 12/1992 thì bắt đầu chuyển thành đất ở, ông bắt đầu đóng thuế đất ở. Năm 2001, ông được bố mẹ cho đứng tên trên sổ mục kê cùng với ông S. Khi bắt đầu ra ở vợ chồng ông xây dựng xưởng mộc, năm 2003 vợ chồng xây dựng 01 ngôi nhà 2,5 tầng.

Khoảng năm 2008, nhà nước có Lm lại mở rộng đường trước cửa nhà bị thu hồi phần còn lại có diện tích L 168,2 m2 nay L thửa số 1076, được UBND xã ĐĐ đo đạc năm 2021. Hiện nay thửa đất vợ chồng ông Đ quản lý và sử dụng.

Trên đất hiện nay có vợ chồng ông, con tranh i L A Nguyễn Thế T, con dâu L chị Nguyễn Thị P và hai cháu nhỏ. Con gái ông tên L Nguyễn Thị Q, đã kết hôn năm 2014. Khi ông xây dựng nhà năm 2003 thì các con còn nhỏ không có công sức gì, đến nay không xây dựng thêm tài sản gì.

Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của bố mẹ ông L thửa số 1076, do bố mẹ ông đã cho ông Đ quản lý và sử dụng và đất trên L do vợ chồng ông phải đổi ruộng, mua đất nên ông không đồng ý chia. Tài sản trên L tài sản của vợ chồng bà, không L quan đến tài sản của cụ B và cụ Tám. Trong trường hợp chia thừa kế của các cụ thì do cụ B chết năm 1988 nên hết thời hiệu chia thừa kế, còn đối với cụ Tám chết năm 2018, khi chia đề nghị chia theo pháp luật, phần của các cô, các bà cho ông gia đình ông xin nhận, còn đối với công sức của vợ chồng bà do ra ở từ năm 1985, đề nghị chia thêm cho gia đình 1 phần. Khi chia gia đình ông xin lấy B hiện vật.

Ngoài ra ông bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

*Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án, tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan bà Q trình bày:

Năm 1984, ông T đi bộ đội về, L thương binh được Nhà nước công nhận, sau khi kết hôn với bà thì ông T có Lm đơn lên hợp tác xã, thôn ĐV và UBND xã để xin cấp đất để ở tuy nhiên do thời gian này xã không có quỹ đất dư để cấp cho ông T nên đã chấp thuận cho ông T được ở và xây dựng nhà trên diện tích đất 5% (diện tích đất của Hợp tác xã chia cho ông T cA tác); cùng năm này sau khi được sự chấp thuận thì vợ chồng ông bà có xây xưởng, nhà vệ sinh sống trên phần đất từ đó cho đến nay. Năm 1992, khi Nhà nước chia ruộng cho những định suất trong thôn thì ông T có bị trừ phần đất này vào phần đất nông nghiệp được chia. Phần đất 5% ông T sử dụng sau này L thửa đất số 576, tờ bản đồ số 8, diện tích 176m2 tại thôn ĐV (nay L thửa số 1076 tờ bản đồ số 50, diện tích 168,2m2). Từ thời điểm sinh sống trên thửa đất gia đình ông T vẫn thực hiện đóng thuế, các nghĩa vụ tài chính khác đối với thửa đất đầy đủ.

Về quá trình sử dụng đất: Sau khi được sự chấp thuận của chính quyền G đoạn đó, ông T cùng một số hộ cạnh nhà có ra ở tại khu đất như hộ ông Xa, ông S… Gia đình ông T sử dụng ổn định và xây dựng các công trình nhà gồm nhà cấp IV, nhà xưởng mộc, nhà khác như bếp, chuồng lợn, chuồng gà…Đến năm 1992, sau khi nhà nước có chủ trương cấp GCNQSDĐ cho các hộ dân cư tại khu đất diện 5% có giấy mời ra để công bố quyết định thì gia đình ông T có thuộc diện này. Tuy nhiên, do việc chỉnh lý số liệu bản đồ nên tại hồ sơ gia đình ông còn lại 152m2 (lệch nhiều so với diện tích gia đình đã nộp thuế L 180m2) nên gia đình đã không đồng ý và chưa được cấp sổ. Ngoài ra đây L tài sản của gia đình ông T nên tại sổ mục kê, sổ bản đồ địa chính của xã đều xác nhận đây L tài sản riêng của ông T.

Từ những căn cứ trên khẳng định thửa đất 576 nay L thửa 1067 L tài sản của gia đình ông bà, không L quan gì đến di sản thừa kế của cụ B và cụ Tám.

Về tài sản trên đất có căn nhà 2,5 tầng xây dựng tầng 1 năm 1998, xây tầng 2 năm 2003 và một số công trình phụ xây dựng năm 2008 do vợ chồng bà xây dựng, con tranh i có đóng góp công sức nhưng không Đ kể. Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế L thửa đất do gia đình bà Đ quản lý, sử dụng thì bà không đồng ý.

Bà nhất trí với ý kiến của ông T về nguồn gốc thửa đất đối với thửa số 1076, được UBND xã ĐĐ đo đạc năm 2021 bà công nhận những gì ông T khai L đúng. Ông K yêu cầu khởi kiện bà đại diện cho ông T không nhất trí, đề nghị bác toàn bộ đơn khởi kiện của ông K. Tài sản trên L tài sản của vợ chồng bà, không L quan đến tài sản của cụ B và cụ Tám. Trong trường hợp chia thừa kế của các cụ thì do cụ B chết năm 1988 nên hết thời hiệu chia thừa kế, còn đối với cụ Tám chết năm 2018, khi chia đề nghị chia theo pháp luật, phần của các cô cho ông T gia đình xin nhận, còn đối với công sức của vợ chồng bà do ra ở từ năm 1985, đề nghị chia thêm cho gia đình 1 phần. Khi chia gia đình bà xin lấy B hiện vật. nếu được chia bà đồng ý giao phần của bà ông T quản lý, sử dụng.

Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

*Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan Nguyễn Thế T trình bày:

A L con tranh i ông T, bà Q. Đối với nguồn gốc thửa đất số 1076 tờ bản đồ 50 đo đạc năm 2021 từ khi sinh ra A đã sinh sống trên thửa đất còn nguồn gốc thửa đất A không rõ nay được bố A nói L đất phần trăm của bố A. Trên đất hiện nay có bố mẹ A, A và vợ L chị P cùng 2 con nhỏ Đ sinh sống.

Về tài sản trên thửa đất có căn nhà 2,5 tầng xây dựng tầng 1 năm 1998, xây tầng 2 năm 2003 và một số công trình phụ xây dựng năm 2008 do bố mẹ A xây dựng, khi xây dựng A có đóng góp công nhưng không nhiều. Vợ A L chị P không có công sức gì. Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của ông bà A L thửa đất do gia đình A Đ quản lý, sử dụng thì A không đồng ý. Do có việc bận nên A xin được vắng mặt tại các buổi Lm việc, các phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa. Ngoài ra A không có ý kiến yêu cầu gì.

*Tại lời khai có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan chị Nguyễn Thị Lan P trình bày:

Chị kết hôn với A Nguyễn Thế T L con của ông T, bà Q từ năm 2014. Sau khi kết hôn chị và A T sinh sống tại gia đình A T đến cuối năm 2015 thì vợ chồng ra ở riêng tại thành phố Bắc Ninh. Đối với thửa đất 1076 tờ bản đồ 50 thì sau khi kết hôn chị đã được sinh sống trên thửa đất khoảng hơn 1 năm, về nguồn gốc thửa đất thì từ khi chị về Lm dâu gia đình A T đã sinh từ lâu trên thửa đất. Trên đất hiện nay có bố mẹ chồng chị sinh sống còn chị và A T đã chuyển ra ở riêng từ năm 2015.

Về tài sản trên thửa đất có căn nhà 2,5 tầng xây dựng và một số công trình phụ xây dựng năm nào chị không rõ, khi về Lm dâu thì đã có các tài sản trên. Chị không có công sức đóng góp gì. Đối với quan điểm khởi kiện của ông K chị không đồng ý. Do công việc bận nên chị xin được vắng mặt tại các buổi Lm việc, các phiên họp, phiên tòa. Ngoài ra A không có ý kiến yêu cầu gì.

*Tại lời khai có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Chị L con gái ông T, bà Q. Đối với nguồn gốc thửa đất số 1076 tờ bản đồ 50 đo đạc năm 2021 từ khi sinh ra chị đã sinh sống trên thửa đất còn nguồn gốc thửa đất chị không rõ nay được ông T nói L đất phần trăm của ông T. Trên đất hiện nay có bố mẹ chị, A T và vợ L chị P cùng 2 cháu nhỏ ở một thời gian.

Tài sản trên thửa đất có căn nhà 2,5 tầng xây dựng tầng 1 năm 1998, xây tầng 2 năm 2003 và một số công trình phụ xây dựng năm 2008 do bố mẹ chị xây dựng, khi xây dựng chị còn nhỏ không đóng góp công sức gì. Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của ông bà L thửa đất do gia đình chị Đ quản lý, sử dụng thì chị không đồng ý. Do có việc bận nên chị xin được vắng mặt tại các buổi Lm việc, các phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa. Ngoài ra chị không có ý kiến yêu cầu gì.

*Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan chị P, A T, chị Q do bà Nguyễn Thị Q đại diện trình bày:

Trên đất hiện nay có vợ chồng bà Đ quản lý, sử dụng; con tranh i Nguyễn Thế T, con dâu Nguyễn Thị Lan P và hai cháu nhỏ ở một thời gian san đó lên ở thành phố Bắc Ninh. Con gái tên L Nguyễn Thị ThA Q, kết hôn năm 2014, khi vợ chồng bà xây dựng nhà 2,5 tầng, xây dựng tầng 1 năm 1998, xây tầng 2 năm 2003 và một số công trình phụ xây dựng năm 2008 do vợ chồng bà xây dựng, con tranh i có đóng góp công sức nhưng không Đ kể, con gái không có đóng góp gì, đến nay không xây dựng thêm gì.

Trong vụ án này đối với bà L người đại diện cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan trên. Bà đại diện cho A T, chị P, chị Q không có ý kiến yêu cầu gì thêm.

*Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà Người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan ông S trình bày:

Về thành phần gia đình bố mẹ ông, cùng các A em như ông K, ông T trình bày L đúng. Bố mẹ ông không nhận ai Lm con nuôi, cũng không Lm con nuôi ai.

Năm 1970, gia đình ông gồm có: bố, mẹ, ông, bà T, bà N, ông T, ông K, bà L, bà L L những người được chia ruộng và được Nhà nước cho phép đổi ruộng 5% từ ruộng ngoài đồng về gần Lng (ruộng rau) còn bà A sinh sau năm 1970 chưa được chia ruộng. Tỷ lệ đổi và mất bao nhiêu ruộng ở ngoài đồng thì ông không nhớ rõ nhưng gia đình ông được 1 sào bắc bộ (360 m2) ở gần Lng.

Năm 1976, ông lập gia đình; đến năm 1981, địa P cho phép các gia đình đông con được Lm nhà ở trên đất gần Lng đó, ông xin bố mẹ cho ra đất đó để Lm 01 ngôi nhà 3 gian, cấp IV trên 1 phần thửa đất, phần còn lại bố mẹ ông trồng Xoan.

Năm 1988, chủ trương của địa P lại chuyển đất gần Lng ra đồng, những cô đi lấy chồng thì địa P nào trả về địa P đó gồm có: Bà N, T, L còn L chưa lấy chồng. Để được cả thửa đất 360 m2 thì khi đó các gia đình phải trả tiền hoặc trừ ruộng. Gia đình ông gồm: ông, vợ L bà Nguyễn Thị Định, con Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thế Đ, Nguyễn Thị Đ. Gia đình ông phải trừ 129 m2 ngoài đồng để được cả thửa đất ở với tỷ lệ 1 thước ngoài đồng được 3 thước gần Lng. Bố mẹ ông bị chuyển ruộng ra ngoài đồng nhưng không bị trừ và hiện nay vẫn còn. Gia đình ông đóng thuế từ năm 1988 thuế đất ở đối với phần diện tích đất của gia đình ông, phần còn lại ông T đóng.

Đến năm 2001, gia đình ông được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất L thửa số 06, tờ bản đồ cũ 08, diện tích 157 m2 , tại Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Gia đình ông T chưa được cấp.

Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của bố mẹ ông L thửa số 1076, do ông Nguyễn Thế T Đ quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật.

Ông trình bày về việc đổi ruộng như vậy để Toà án biết, nay do L A em trong gia đình nên ông không có ý kiến yêu cầu gì. Ông K đề nghị giải quyết vụ án thừa kế, ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật, ông không có ý kiến yêu cầu gì, trong trường hợp phải chia phần của bố mẹ ông, toàn bộ phần của ông cho ông T. Ngoài ra ông không có ý kiến yêu cầu gì.

* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà Người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan bà A trình bày:

Bà nhất trí về thành phần gia đình bố mẹ, năm sinh năm mất và A em như ông T, ông K trình bày L đúng. Bố mẹ bà năm 1970 được cấp 1 thửa đất diện gia đình đông con. Sau này bố mẹ chia cho ông K thửa trong Lng, ông S, ông T mỗi người ½ đất được cấp. Hiện nay, ông S, ông T và ông K mỗi người Đ sinh sống trên 01 thửa đất của bố mẹ để lại các bà không có ý kiến gì.

Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế cả bố mẹ ông L thửa đất 1076 gia đình ông T Đ quản lý sử dụng, bà không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Trường hợp chia thừa kế phần của bà đề nghị Toà án giữ nguyên phần đất ông nào sử dụng, giữ nguyên gia đình đó. Ai sử dụng phần đất nào ở nguyên phần đất đó để giữ tình cảm A em. Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác. Trường hợp phải chia thừa kế tài sản, phần của bà cho ông T để đất của ai Đ sử dụng người đó tiếp tục sử dụng. Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án Người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan bà L trình bày:

Bà nhất trí về thành phần gia đình bố mẹ, năm sinh năm mắt và A em như ông T, ông K trình bày L đúng. Bố mẹ bà năm 1970 được cấp 1 thửa đất diện gia đình đông con. Sau này bố mẹ chia cho ông K thửa trong Lng, ông S, ông T mỗi người ½ đất được cấp. Hiện nay, ông S, ông T và ông K mỗi người Đ sinh sống trên 01 thửa đất của bố mẹ để lại các bà không có ý kiến gì.

Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế cả bố mẹ ông L thửa đất 1076, bà không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật, ai sử dụng phần đất nào giữ nguyên phần đất đó. Nếu được chia bà cho ông T được quản lý sử dụng. Do bận công việc nên ông xin vắng mặt tại các buổi Lm việc, phiên hòa giải và các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.

Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án Người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan bà L trình bày:

Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của bố mẹ các bà L thửa số 1076, do ông Nguyễn Thế T Đ quản lý và sử dụng L tài sản hợp pháp của ông T, bà Q, nguồn gốc được cấp trước năm 1993, kể từ khi được cấp đất gia đình ông T, bà Q đã sử dụng ổn định từ đó đến nay, không phải L di sản thừa kế của cụ B, cụ Tám do vậy không L quan gì đến tài sản này, từ chối tham gia tố tụng và đề nghị Tòa án không triệu tập. Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án bà T trình bày:

Thửa đất số 576, tờ bản đồ số 8, diện tích 176m2 (theo hồ sơ cũ, hiện nay L thửa đất số 1076, tờ bản đồ số 50) tại địa chỉ: Thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh L tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Thế T, bà Nguyễn Thị Q. Nguồn gốc đất L do ông T, bà Q được cấp trước năm 1993, kể từ khi được cấp đất ông T, bà Q vẫn sử dụng ổn định từ đó đến nay, bà khẳng định đây không phải thừa kế của cụ Nguyễn Thế B và cụ Đào Thị Tám; do vậy bà không có L quan gì đến tài sản này, trong trường hợp phải chia thừa kế đối với phần đất được bà hưởng, bà sẽ cho ông T toàn bộ. Bà xin từ chối tham gia tố tụng và đề nghị Tòa án không triệu tập bà tại các phiên Lm việc và các phiên toà. Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan bà N trình bày:

Bố mẹ bà L ông Nguyễn Thế B và bà Đào Thị Tám đã chết, khi chết không để lại di chúc, bố mẹ bà có 08 người con L: ông S, bà N, bà T, ông T, bà L, bà L, ông K, bà A. Bố mẹ bà không nhận ai Lm con nuôi, không Lm con nuôi ai.

Năm 1970, gia đình bà có 6 khẩu được chia ruộng phần trăm gồm có: cụ B, cụ Tám, ông S, bà N, bà T, ông T mỗi người được 03 thước đổi ruộng phần trăm để lấy thửa đất ở rìa Lng (Xóm G, thôn ĐV) diện tích khoảng 01 sào L 360 m2.

Đến năm 1973, bà lập gia đình thì đất nông nghiệp của bà vẫn để cùng gia đình bố mẹ không chuyển về gia đình nhà chồng.

Năm 1981, gia đình bà chủ yếu L bố mẹ và gia đình ông S có xây dựng 01 ngôi nhà 3 gian cấp IV trên phần đất nhà ông S.

Năm 1984, ông T đi bộ đội về đã Lm đơn xin mua đất ở địa P do địa P chưa giải quyết vì chưa có đất nên ông T đã ở trên phần đất còn lại. Ông T mua của địa P phải nộp tiền hay giấy tờ gì thì bà không rõ. Ông T đã mua đất của địa P thì không bị trừ đất phần trăm ở ngoài đồng và vẫn được chia đất nông nghiệp. Phần đất Đ tranh  chấp thì gia đình nhà ông T sử dụng đến nay.

Đối với phần trăm đất bị trừ theo 6 khẩu đổi đất bà không có có ý kiến, yêu cầu gì.

Năm 1998, vợ chồng ông T có xây dựng 01 ngôi nhà, ngoài ra từ trước không ai xây dựng gì và xây dựng thành ngôi nhà như hiện nay.

Đối với phần đất ông S Đ quản lý, sử dụng thì tôi không có ý kiến, yêu cầu gì.

Nay ông K yêu cầu chia thửa đất ông T Đ quản lý, sử dụng quan điểm của bà phần đất này ông T đã mua nên ông T, bà N, bà T vẫn có đất phần trăm ngoài đồng. Ngoài ra năm 1988, bà vẫn được chia ruộng phần trăm khi chuyển về nhà chồng.

Còn đối với phần đất của ông S thì ông S cũng đã mua và ông S, bố mẹ bà vẫn có đất phần trăm ở ngoài đồng.

Trong trường hợp phải chia thừa kế đối với phần đất được chia của bà, bà sẽ cho ông T toàn bộ. Do đã nhiều tuổi, sức khỏe yếu nên bà xin vắng mặt tại các buổi Lm việc, các phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa. Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan bà Nguyễn Thị Định trình bày:

Bà L vợ công S, bà đã biết nội dung ông S trình bày tại Tòa án, bà nhất trí, không có ý kiến gì đối với diện tích đất nông nghiệp của gia đình cũng như của bà. Nay ông K đề nghị giải quyết vụ án thừa kế bà đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, bà không có yêu cầu gì. Do bận công việc nên bà từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt tại các buổi hòa giải và phiên tòa. Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.

* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Chị L con gái ông S, chị đã biết nội dung bố chị trình bày tại Tòa án, chị nhất trí, không có ý kiến gì đối với diện tích đất nông nghiệp của gia đình cũng như của chị. Nay ông K đề nghị giải quyết vụ án thừa kế chị đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, chị không có yêu cầu gì. Do bận công việc nên chị từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt tại các buổi hòa giải và phiên tòa. Ngoài ra chị không có ý kiến yêu cầu gì khác.

* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan A Nguyễn Thế Đ trình bày:

A L con ông S, A đã biết nội dung ông S trình bày tại Tòa án, A nhất trí, không có ý kiến gì đối với diện tích đất nông nghiệp của gia đình cũng như của A. Nay ông K đề nghị giải quyết vụ án thừa kế A đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, A không có yêu cầu gì. A đề nghị đất nhà ai giữ nguyên nhà đó như hiện nay. Ngoài ra A không có ý kiến yêu cầu gì khác.

* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án Người có quyền lợi và nghĩa vụ L quan chị Nguyễn Thị Đ trình bày: Chị L con gái ông S, chị đã biết nội dung bố chị trình bày tại Tòa án, chị nhất trí với ý kiến của ông, không có ý kiến gì đối với diện tích đất nông nghiệp của gia đình cũng như của chị. Nay ông K đề nghị giải quyết vụ án thừa kế chị đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, chị không có yêu cầu gì. Do bận công việc nên chị từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt tại các buổi hòa giải và phiên tòa. Ngoài ra chị không có ý kiến yêu cầu gì khác.

* Toà án tiến hành xác minh với cán bộ địa chính xã ĐĐ cung cấp:

Thửa đất số 1076, tờ bản đồ số 50, diện tích 168,2 m2 tại xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh hiện nay gia đình ông Nguyễn Thế T Đ quản lý sử dụng.

Thửa đất số 06, tờ bản đồ số 8, diện tích 157 m2 nay L thửa đất số 1079, tờ bản đồ số 50, diện tích 176,2 m2 (gọi tắt L thửa đất số 1079, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 mang tên hộ ông Nguyên Thế S theo số thửa cũ L thửa số 06, tờ bản đồ số 08).

Nguồn gốc hai thửa đất trên do UBND xã giao năm 1970 cho hai cụ sinh ra ông S và ông T. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ S năm 2001 có thể hiện nguồn gốc sử dụng đất: Đất cấp năm 1970. Thửa đất Đ tranh  chấp thửa số 1076 gia đình ông T Đ quản lý sử dụng hiện nay L đất ở nông thôn phù hợp với quy hoạch. Thửa đất trên hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguồn gốc thửa đất số 1076 và thửa đất số 1079 nguồn gốc 2 thửa đất trên L do UBND xã ĐĐ giao cho bố mẹ ông S, ông T diện được cấp cho các cụ như thế nào thì UBND xã không còn lưu trữ. Tại thời điểm năm 1970 vị trí 2 thửa đất trên L đất nông nghiệp hay đất ở không có tài liệu nào thể hiện. Việc giao hay cấp đất ở có phải thu tiền hay đổi ruộng phần trăm thì không có tài liệu nào chứng minh. Năm 2018, gia đình ông T có Lm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông T không có giấy nộp tiền cũng như giấy tờ đổi ruộng phần trăm. Do gia đình nhà ông T chưa hoàn thiện đầy đủ hồ sơ nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Buổi Lm việc tháng 12 năm 1992 đến nay UBND xã không còn lưu trữ tài liệu gì.

Theo sổ mục kê năm 2001 thửa đất diện tích 152 m2 mang tên ông Nguyễn Thế T ngoài ra không còn sổ mục kê nào cũ hơn. Để mở rộng đường giao thông L xã Phù Chẩn- Tri P (đoạn qua xã ĐĐ) gia đình ông Nguyễn Thế T tổng tiện tích 176,9m2 diện tích thu hồi 10,3m2 đối với gia đình ông Nguyễn Thế S (Tuy nhiên trên giấy tờ ghi Nguyễn Văn S) có tổng diện tích 177,3m2 diện tích thu hồi 5,1m2.

Ngoài ra ông không cung cấp gì thêm.

* Toà án tiến hành xác minh với ông Nguyễn Gia Côn L trưởng xóm G cung cấp:

Ông Lm trưởng xóm G từ năm 2019 được tiếp quản hồ sơ đất nông nghiệp từ ông Bình. Theo sổ sách hồ sơ diện tích tính thuế từ năm 1999:

1. Đất nông nghiệp của bà Tám (mẹ ông S) tính xứ đồng Đường Không (đất 5%) diện tích đất của hộ hiện nay còn lại L 291 m2 theo ông được biết năm 1988 thì hộ nhà bà Tám được chia 4 định suất gồm: bà Tám, chồng bà Tám, cô L và cô A. Mỗi định suất dược chia 3 thước B 72 m2.

2. Đất nông nghiệp của hộ ông Nguyễn Thế K xứ đồng Đường Không (đất 5%) hiện nay còn 108m2 và 36m2 chuyển từ ruộng cao sản hộ ông Nguyễn Thế T cho đủ 2 định suất.

3. Đất nông nghiệp của hộ ông Nguyễn Thế T xứ đồng Đường Không (đất 5%) hiện nay còn 144m2 gồm có 2 định suất gồm ông T và cháu T. Còn bà Q Lm ở trường học nên không được chia và cháu Q sinh năm 1990 nên năm 1988 không được chia.

4. Đất nông nghiệp của hộ ông Nguyễn Thế S tại xứ đồng Đường Không (đất 5%) hiện nay còn 297m2 gồm có 5 định suất được chia gồm có: ông S, bà Định, chị Đ, A Đ, chị Đ. Ruộng cao sản hộ ông S có 78 m2 đã chuyển cho ông K còn 42 m2. Gia đình nhà ông S lẽ ra được 360 m2 đất 5% nhưng nay chỉ còn 297 m2, phần diện tích đất thiếu không có thể hiện L phần đất bị trừ. Về nguyên tắc để đổi lấy đất ở thì các hộ phải trừ đất ruộng 5% ở ngoài đồng ngoài ra không được trừ đất nông nghiệp ở sứ đồng nào khác.

* Toà án tiến hành xác minh với ông Nguyễn Đăng Kim L nguyên Phó chủ tịch UBND xã ĐĐ cung cấp:

Ông Lm Phó trưởng Công an xã ĐĐ từ năm 1979-1987 và Lm Phó Chủ tịch UBND xã ĐĐ từ 1987-1990. Theo ông được biết năm 1970 gia đình bà Tám và ông B đã được địa P cấp đất, không thu tiền. Thửa đất hiện nay ông S và ông T Đ sử dụng theo diện gia đình đông con, đất ở trong Lng hẹp và gia đình có nhu cầu.

Đối với việc sau này để được sử dụng thửa đất các gia đình có phải nộp tiền thêm hay không thì ông không biết, không nhớ.

Ông S ra ở trước, ông T sau đó đi bộ đội về và lập gia đình thì bố mẹ cho ra ở trên thửa đất hiện nay.

* Toà án tiến hành xác minh với ông Nguyễn Gia Tranh ng L nguyên trưởng thôn ĐV, xã ĐĐ cung cấp:

Ông trưởng thôn ĐV từ năm 1990-1995. Thời điểm ông Lm trưởng thôn thì nhà ông Nguyễn Thế T, ông Nguyễn Thế S đã ra ở trên thửa đất hiện nay. Thời điểm ông Lm trưởng thôn thì 2 thửa đất trên hai hộ gia đình trên không phải nộp tiền hoặc bị trừ ruộng phần trăm.

Nội dung giấy mời các hộ ra nhà văn hóa đình ĐV ngày 22/12/1992 đối với hộ gia đình ông Nguyễn Thế T để bàn về nội dung nộp tiền cho mượn đất có thời hạn 5 năm (1992-1997) số tiền 500.000 đồng và 1000 Gch đối với đất lòng mương mặt tiền 6m, chiều sâu 3m vị trí đối diện nhà ông T và nhà ông S.

* Toà án tiến hành xác minh với bà Nguyễn Thị Hà L thành viên trong hộ gia đình giáp rA đối với thửa đất Đ tranh  chấp cung cấp:

Bà L vợ ông Nguyễn Đăng Tý, sinh năm 1938 (Đã chết năm 2018). Vợ chồng bà được UBND xã ĐĐ cấp cho thửa đất 4, tờ số 8, diện tích 172 m2, tại Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 1970, theo diện gia đình đông con, ban đầu vợ chồng bà ở trong Lng đất ở hẹp. Trước năm 1990, vợ chồng bà bị trừ ruộng phần trăm tỷ lệ 1 thước ruộng lấy 3 thước đất ở như hiện nay. Năm 2001, gia đình bà đã được được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Toà án tiến hành xác minh với ông Nguyễn Đình Hiệp và bà Nguyễn Thị Huấn L thành viên trong hộ gia đình giáp rA đối với thửa đất Đ tranh  chấp cung cấp:

Vợ chồng bà có thửa đất số 3, tờ số 8 diện tích 358 m2, nguồn gốc do UBND xã cấp cho bố mẹ ông bà L ông Nguyễn Đình C, bà Nguyễn Thị L, năm 1971.

Vợ chồng ông bà kết hôn năm 1984, đến năm 1988 vợ chồng ông bà phải trừ ruộng phần trăm tỷ lệ 1 thước ruộng phần trăm được 3 thước đất ở để giữ đất ở như hiện nay. Năm 2001 gia đình ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký L đúng pháp luật, việc chấp hành pháp luật của các đương sự L đúng quy định pháp luật.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các điều 26, 39, 93, 147 BLTTDS; Các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 650, 651, 652 và điểm b, khoản 1, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thế T đối với yêu cầu chia di sản thừa kế L quyền sử dụng đất nằm trong thửa đất số 1076, tờ bản đồ 50, diện tích 168,2 m2, tại thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh của cụ Nguyễn Thế B và cụ Đào Thị Tám theo pháp luật. Giao cho ông Nguyễn Thế T được tiếp tục quản lý, sử dụng phần của cụ B có diện tích 16,82 m2 tại thửa đất nêu trên thời hiệu khởi kiện đã hết (nguyên đơn có yêu cầu áp dụng thời hiệu).

+ Xác định khối di sản của cụ Tám để lại gồm: 16,82 m2, tại thửa đất nêu trên.

+ Giao cho ông Nguyễn Thế T được quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất số 1076, tờ bản đồ số 50, diện tích 168,2 m2, toạ lạc tại xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ. Ông T có quyền L hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Lm thủ tục, để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Thế T phải có trách nhiệm trích trả cho ông Nguyễn Thế K số tiền 662.200.000 đồng.

Các đương sự phải chịu án phí DSST và chi phí thẩm định định giá theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tranh  tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh  luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền, quan hệ tranh  chấp, thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền, quan hệ tranh  chấp: Nguyên đơn L ông Nguyễn Thế K nộp đơn khởi kiện đối với bị đơn ông Nguyễn Thế T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giải quyết chia di sản thừa kế của bố mẹ ông L thửa số 1076, tờ bản đồ số 50, diện tích 168,2 m2 tại Xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Thế T Đ quản lý và sử dụng cho theo quy định của pháp luật, ông K đã nộp tiềm tạm ứng án phí theo đúng quy định của pháp luật.

Toà án xác định đây L vụ án dân sự có quan hệ tranh  chấp L “Tranh  chấp về thừa kế tài sản” do đó căn cứ Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Toà án nhân dân huyện Tiên Du đã thụ lý và giải quyết L đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa người có quyền lợi và L quan bà N, bà T, bà L, bà L, bà Định, chị Đ, chị Đ vắng mặt, đã được tống Đ văn bản tố tụng. Toà án đã tiến hành xét xử và hoãn phiên toà vào ngày 15/7/2024, tại phiên toà hôm nay các đương sự vẫn vắng mặt. Vì vậy Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên theo quy định pháp luật theo thủ tục chung.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại điều 623 BLDS 2015 thì thời hiệu chia di sản thừa kế L 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Cụ B mất năm 1988, cụ Tám mất năm 2018, khi chết không ai để lại di chúc.

Cụ B chết năm 1988, thời điểm nguyên đơn khởi kiện đã quá 30 năm. Theo hướng dẫn tại mục I, về dân sự; Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của TANDTC giải đáp 1 số vấn đề nghiệp vụ: Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế L bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36, Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/1990/HĐTP- TANDTC ngày 19/10/1990 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế, cụ thể L: Thời hiệu được tính từ ngày 10/9/1990.

Trong vụ án đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có đơn đề nghị áp dụng thời hiệu chia thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ B (chết năm 1988) và đề nghị giao phần tài sản trên cho ông T tiếp tục quản lý, sử dụng, trước khi mở phiên toà ngày 09/8/2024, đúng với quy định pháp luật; Do vậy tính đến ngày Toà án nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn tháng 10/2023 thời hiệu khởi kiện vụ án tranh  chấp về thừa kế tài sản đã hết. Còn đối với phần di sản thừa kế của cụ Tám (chết năm 2018) vẫn còn thời hiệu chia thừa kế di sản.

[3] Về nguồn gốc di sản thừa kế và hiện trạng:

Về nguồn gốc thửa đất: Năm 1970, hộ gia đình cụ Nguyễn Thế B và cụ Đào Thị Tám được cấp 360 m2 đất ngoài Lng theo diện nhà đông con. Quá trình sử dụng, năm 1981, cụ B và cụ Tám xây dựng 01 ngôi nhà 3 gian nhà cấp IV trên một phần thửa đất và cho ông S quản lý và sử dụng. Năm 2001, ông S được cấp GCNQSDĐ L thửa số 06 tờ bản đồ cũ 08, diện tích 157 m2 (nay L thửa số 1079) tại xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Tòa án tiến hành xác minh đối với cán bộ địa chính xã ĐĐ xác nhận về nguồn gốc 2 thửa đất trên do UBND xã cấp năm 1970 cho cụ B và cụ Tám. Hơn nữa, theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hộ ông S năm 2001, bản thân ông S kê khai nguồn gốc sử dụng đất L đất được cấp năm 1970. Mặt khác, Tòa án đã thu thập hồ sơ cấp GCNQSĐ của các hộ đất liền kề, xung quA như của các hộ ông Nguyễn Đình Hiệp, ông Nguyễn Đăng Tý… đều ghi trong đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: nguồn gốc đất được cấp năm 1971; theo diện gia đình đông con, đất ở trong Lng hẹp.... Toà án tiến hành xác minh nguồn gốc đất với nguyên trưởng thôn ông Tranh ng, nguyên phó Chủ tịch UBND xã ĐĐ ông Kim xác nhận: Đất cấp cho hộ gia đình ông B, bà Tám vào khoảng năm 1970, theo diện đông con, đất ở diện tích nhỏ, hẹp, có nhu cầu mở rộng đất ở và không thu tiền. Thời điểm trên gia đình bà Tám có 9 người: ông B, bà Tám, ông S, bà N, bà T, ông K, ông T, bà L, bà L.

Đối với việc ông T cho rằng nguồn gốc thửa đất Đ tranh  chấp L do ông xin hợp tác xã và UBND xã ĐĐ L không có căn cứ bởi lẽ như đã phân tích ở trên xác định thửa đất được cấp từ năm 1970, 1971 tại thời điểm này ông T mới 10 tuổi, hơn nữa phần diện tích được cấp cũng phù hợp với phần diện tích được chia cho 9 khẩu trong hộ gia đình cụ B và cụ Tám. Ngoài ra bản thân ông T và vợ cũng khai nhận năm 1989, ông có Lm đơn xin hợp tác xã và UBND xã cấp đất tuy nhiên quỹ đất tại địa P không còn nên địa P có cho ông được phép xây dựng trên phần diện tích đất phần trăm ngoài Lng ½ diện tích đất còn lại được cấp từ trước (L diện tích đất hiện tại) do vậy ông T ở trên phần diện tích đã được cấp trước đó của gia đình không phải diện tích đất ông được xã chia. Tòa án tiến hành kiểm tranh  sổ mục kê, sổ thuế đất nông nghiệp cũng như xác minh đối với ông Nguyễn Gia Côn L Trưởng xóm G từ năm 2019 được tiếp quản hồ sơ đất nông nghiệp từ ông Bình. Theo sổ sách hồ sơ diện tích tính thuế từ năm 1999, đất nông nghiệp của cụ Tám hiện nay còn 291 m2 không bị trừ; của hộ ông T thì tại xứ đồng Đường Không (đất 5%) diện tích của hộ ông T nay còn lại L 144m2 gồm 2 định suất gồm ông T và A T còn bà Q Lm ở trường học nên không được chia và chị Q sinh năm 1990 nên năm 1988 không được chia, mỗi định xuất theo địa P chia L 72 m2, như vậy gia đình ông không bị trừ ruộng phần trăm. Đất nông nghiệp của gia đình các bà con gái vẫn đủ; đất nông nghiệp 5% của gia đình ông S hiện nay còn 297 m2, trong khi gia đình ông được chia 360 m2, theo tờ khai thuế nông nghiệp đất nông nghiệp xứ đồng Đường Không (5%), gia đình ông đóng thuế 1 thửa 168m2 và 1 thửa 78 m2, tổng diện tích 240 m2, ông S khai ông bị trừ để được cả phần đất của ông và của ông T, nhưng diện tích bị trừ và diện tích còn lại theo như lời ông trình bày không khớp so với thực tế. Các hộ liền kề cung cấp họ phải bị trừ ruộng % để được đất ở, gia đình ông S bị thiếu đất nông nghiệp %, tuy nhiên bị trừ để được phần đất của gia đình ông hay vì lý do gì Hội đồng không xem xét, do trong vụ án này thửa đất của gia đình ông S không có tranh  chấp. Do vậy, không có việc ông T cũng như những người trong gia đình cụ Tám cụ B bị trừ diện tích đất % như ông T trình bày. Đối với việc ông T cung cấp thông báo mời họp L quan đến diện tích đất % Tòa án đã tiến hành xác minh với ông Nguyễn Gia Tranh ng L nguyên trưởng thôn ĐV G đoạn Năm 1990-1995 (L người ký giấy mời) xác nhận việc viết giấy mời gia đình ông T để bàn về nội dung nộp tiền cho mượn đất có thời hạn 5 năm (1992- 1997) số tiền 500.000 đồng và 1000 Gch đối với đất lòng mương mặt tiền 6m và chiều sâu 3m vị trí đối diện nhà ông T chứ không phải L quan đến việc nộp tiền L quan đến diện tích đất ở. Trong quá trình giải quyết, ông T còn cho rằng ông có nộp cho địa P số tiền 140.000 đồng để mua đất nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh, qua Lm việc tại địa P không còn lưu trữ tài liệu L quan. Từ những phân tích trên HĐXX xác định thửa đất 1076 có nguồn gốc L hộ gia đình cụ B và cụ Tám được cấp năm 1970 gồm có 09 thành viên.

Về quá trình sử dụng: Sau khi cụ B cụ Tám được cấp đất, năm 1981, cụ B và cụ Tám xây dựng 01 ngôi nhà 3 gian nhà cấp IV trên một phần thửa đất và cho ông S quản lý và sử dụng. Năm 2001, ông S được cấp GCNQSDĐ L thửa 1079. Phần diện tích đất còn lại các cụ để trồng xoan. Đến năm 1984, sau khi ông T đi bộ đội về, năm 1985 kết hôn với bà Q, năm 1989 thì vợ chồng ra ở trên phần diện tích đất còn lại của thửa đất.

Năm 2009 để mở rộng con đường giao thông L xã Phù Chẩn - Tri P đoạn qua xã ĐĐ thửa đất ông T Đ sử dụng có diện tích 176,9 m2, bị thu hồi và bồi thường 10,3 m2, nay còn 168,2 m2; các đương sự không ai có ý kiến gì về diện tích bị thu hồi ông T đã nhận bồi thường và đề nghị chia theo diện tích thực tế còn lại. Do đó diện tích đất L di sản có thể chia L 168,2 m2, mỗi người gồm có: Cụ B, cụ Tám, bà N, bà T, ông S, ông T, ông K, bà L, bà L mỗi người có 1/9 diện tích đất trên.

Tài sản trên đất: Vợ chồng ông T có xây dựng 01 ngôi nhà cấp IV, mang nếp nhà tre từ nhà trong ra để xây dựng. Năm 1998, ông T bà Q dỡ bỏ căn nhà cấp bốn để xây nhà 1 tầng, năm 2003 xây dựng tầng 2, năm 2008 xây dựng các công trình phụ, lán. Đối với nội dung về quá trình sử dụng thửa đất, tài sản trên đất các đương sự đều thừa nhận, do vậy L tình tiết không cần phải chứng minh theo Điều 92 BLTTDS.

[4] Về diện được hưởng thừa kế:

Cụ B mất năm 1988 không để lại di chúc, tài sản của cụ B không có tranh  chấp suốt thời gia 30 năm đến nay ông T Lm đơn đề nghị áp dụng thời hiệu trước khi Hội đồng xét xử ra bản án và đề nghị giao cho ông tiếp tục quản lý sử dụng L phù hợp quy định pháp luật nên HĐXX không chia di sản cụ B và giao cho ông T tiếp tục quản lý sử dụng. Cụ Tám mất năm 2018 không để lại di chúc.

Hàng thừa kế thứ nhất của Tám gồm có 08 người: Bà N, bà T, ông S, ông T, ông K, bà L, bà L, bà A.

Trong vụ án không có tài liệu, chứng cứ, chứng minh người thuộc diện thừa kế không được hưởng di sản thừa kế và ông B, bà Tám không phải thực hiện nghĩa vụ, thA toán đối với ai, các đồng thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ, thA toán gì cho ông B, bà Tám. Do vậy di sản của cụ Tám để lại sẽ được chia cho các đồng thừa kế sau khi xem xét đến quyền lợi, công sức của vợ chồng ông T bà Q.

[5] Về xác định quyền lợi và công sức đóng góp của ông T, bà Q. Theo lời trình bày của các đương sự ông T, bà Q ra ở trên đất phần đất tranh  chấp từ năm 1989 đến nay, có công tân tạo, giữ gìn, đóng thuế, nghĩa vụ tài chính với Nhà nước nên HĐXX quyết định trích cho bà Q phần công sức B một xuất giống như mọi người: Cụ B, cụ Tám, bà N, bà T, ông S, ông T, ông K, bà L, bà L, trước khi chia và xác định phần đất của mọi người.

Tại phiên toà các đương sự khác không yêu cầu gì về công sức đóng góp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Do đó xác định tài sản của mọi người như sau:

Cụ B, cụ Tám, bà N, bà T, ông S, ông T, ông K, bà L, bà L, bà Q B nhau = 168,2 m2/10 =16,82 m2. [6] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với việc chia di sản của các cụ B và cụ Tám di sản L phần của các cụ trong tài sản L thửa đất số 1076, gộp với phần của ông K được hưởng và khi chia đề nghị được lấy B hiện vật. Bị đơn ông T không đồng ý chia di sản đối với thửa đất nêu trên. Trường hợp chia: Ông S, bà N, bà T, bà L, bà L, bà A không có ý kiến yêu cầu gì, phần của các ông bà cho ông T, mọi người cho di sản thì ông nhận và gộp vào tài sản của ông T. Phần của bà Q đề nghị gộp vào tài sản của ông T.

Hội đồng xét xử xét thấy như trong phần nhận định về nguồn gốc di sản thừa kế và tài sản và yêu cầu của đương sự thì chỉ có tài sản của cụ Tám có thể chia theo quy định pháp luật còn phần của cụ B hết thời hiệu và giao cho ông T nên yêu cầu chia di sản thừa kế của ông K L có căn cứ chấp nhận 1 phần.

- Di sản của cụ Tám L 16,82 m2 đất.

- Hội đồng định giá đất có giá trị: 35.000.000 đồng/1 m2, không ai có ý kiến gì nên Lm căn cứ giải quyết.

Kỷ phần của các đương sự như sau:

Tài sản chung của cụ Tám tổng trị giá: 588.700.000 đồng.

Kỷ phần theo quy định pháp luật của cụ Tám gồm có: Bà N, bà T, ông S, ông T, ông K, bà L, bà L, bà A B nhau, như sau: 16,82 m2/8=2,1 m2.

Phần tài sản của ông K được nhận: 16,82 m2+2,1 m2= 18,92 m2.

Tổng tài sản ông T được nhận và mọi người cho gộp lại có diện tích L: 149,28 m2.

Ông K khi chia xin nhận B hiện vật tuy nhiên diện tích đất ông được nhận L 18,92 m2, rất nhỏ so với diện tích ông T được hưởng, không đủ điều kiện tách thửa, mặt khác ông T đã có 02 thửa đất tại địa P nên không chấp nhận yêu cầu trên của ông K về việc chia B đất. Giao phần đất trên cho ông T sử dụng và ông T có trách nhiệm trả cho ông K số tiền L 18,92 m2x35.000.000 đồng/1 m2=662.200.000 đồng.

Thửa đất trên phù hợp với quy hoạch nên ông T được quyền L hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại phiên toà đại diện VKS phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

đúng, đầy đủ, cách phân chia phù hợp, có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

[3] Về án phí: Yên cầu Nguyên đơn ông K được chấp nhận 1 phần và được hưởng kỷ phần nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Bị đơn ông T, người L quan bà N, T, L L người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm. Ông T được nhận phần của bà L, bà A nên phải chịu án phí DSST.

[4] Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Yêu cầu của ông K được chấp nhận 1 phần nên ông K, ông T mỗi người phải chịu ½ chi phí thẩm định và định giá tài sản. Xác nhận ông K đã đã nộp 15.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định tài sản.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 235, 262, 264, 266, 271 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Điều 36, Pháp lệnh thừa kế năm 1990.

Căn cứ điều 11, 36, 39, 40, 96, 100, 105, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ các điều 609, 611, 612, 613, 616, 623, 649, 650, 651, 660, 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thế T đối với yêu cầu chia di sản thừa kế L quyền sử dụng đất nằm trong thửa đất số 1076, tờ bản đồ 50, diện tích 168,2 m2, tại thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh của cụ Nguyễn Thế B và cụ Đào Thị Tám theo pháp luật. Giao cho ông Nguyễn Thế T được tiếp tục quản lý, sử dụng phần của cụ B có diện tích 16,82 m2 tại thửa đất nêu trên thời hiệu khởi kiện đã hết (nguyên đơn có yêu cầu áp dụng thời hiệu). Xác định khối di sản của cụ Tám để lại gồm:

16,82 m2, tại thửa đất nêu trên.

2. Giao cho ông Nguyễn Thế T được quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất số 1076, tờ bản đồ số 50, diện tích 168,2 m2, toạ lạc tại xóm G, thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; có tứ cận như sau:

Bắc giáp đường, Nam giáp thửa đất ông Nguyễn Gia Diễn, Đông giáp đất ông Nguyễn Gia Sa, Tây giáp thửa đất ông Nguyễn Thế S. (Có sơ đồ kèm theo bản án) Đương sự có quyền L hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Lm thủ tục, để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Thế T phải có trách nhiệm trích trả cho ông Nguyễn Thế K số tiền 662.200.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, người phải người thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Thế K phải chịu 30.488.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông Nguyễn Thế K đã nộp 16.000.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 0001275 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du. Miễn án phí DSST cho ông Nguyễn Thế T với phần của ông. Ông T phải chịu 33.428.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với phần của bà L, bà A cho ông.

3. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Nguyên đơn ông Nguyễn Thế K, ông Nguyễn Thế T mỗi người phải chịu 7.500.000 đồng tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản; xác nhận nguyên đơn ông Nguyễn Thế K đã nộp 15.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định và định giá. Ông T phải trả cho ông K số tiền 7.500.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

98
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp thừa kế tài sản số 23/2024/DS-ST

Số hiệu:23/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về