TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
BẢN ÁN 166/2024/DS-ST NGÀY 12/09/2024 VỀ TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ TÀI SẢN
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 402/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp về thừa kế tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953 (Có mặt). Trú tại: Số C, Tổ I, Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1962 (Có mặt). Hộ khẩu thường trú: Số A, Tổ E, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Tạm trú: Số C, ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956 (Có mặt). Trú tại: Số D, Tổ B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1959 (Vắng mặt). Trú tại: Số I, L, Khu phố C, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Chị Tống Thị Tuyết H, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
- Anh Tống Nguyễn Gia B1, sinh năm 2016
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tống Nguyễn Gia B1: Chị Tống Thị Tuyết H trú tại số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang là người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Chị Huỳnh Thị Ngọc Y, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
- Anh Trần Văn P, sinh năm 1977 (Vắng mặt).
Cùng trú tại: Số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Anh Võ Tấn H1, sinh năm 1977 (Vắng mặt). Trú tại: Số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 3 năm 2023, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:
Mẹ bà là cụ Nguyễn Thị B2 (sinh năm 1928 - chết năm 2002) và cha của bà là cụ Nguyễn Văn G1 (sinh năm 1929 - chết năm 1961). Cụ G1 và cụ B2 có 04 người con, gồm: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Hai cụ không có người con riêng nào khác. Cha của cụ B2 là cụ Trần Văn L1 (chết khoảng năm 1956), mẹ của cụ B2 tên Trần Thị C (chết khoảng năm 1976). Cha của cụ G1 là cụ Nguyễn Văn T1 (chết trước khi bà B sinh ra), mẹ của cụ G1 tên Phạm Thị T2 (chết khoảng năm 1976). Cụ G1 chết không có để lại di sản. Cụ B2 chết không để lại di chúc. Di sản của cụ B2 để lại là phần đất có nhà thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và phần đất lúa diện tích 3.200m2 địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Phần đất ruộng hiện bà G đang quản lý, sử dụng. Phần đất có nhà hiện do bà L đang quản lý, sử dụng. Bà L tự ý đập phần nhà thờ để xây dựng 02 dãy nhà trọ cho thuê mà không thông qua các chị em. Các tài sản này cụ B2 chưa phân chia cho các con. Bà B không đồng ý với nội dung tại 02 giấy ủy quyền của cụ Trần Thị B3 để ngày 14/6/2001 lý do chữ ký không phải của bà B3 và giấy ủy quyền không có mộc dấu của chính quyền địa phương. Bà B yêu cầu Tòa án tiến hành giám định chữ ký của bà Trần Thị B3 tại 02 giấy ủy quyền để ngày 14/6/2001. Ngày 14/8/2024, bà Nguyễn Thị B có đơn yêu cầu giám định chữ ký của bà Trần Thị B3 trong giấy ủy quyền ngày 14/6/2001. Ngày 20/8/2024, bà B có đơn xin rút lại yêu cầu giám định chữ ký của bà Trần Thị B3. Bà B đồng ý giá trị nhà và đất theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá.
Bà Nguyễn Thị B khởi kiện chị Nguyễn Thị Bích L yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ B3 để lại là phần đất có nhà thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Yêu cầu chia làm 04 kỷ phần, yêu cầu được nhận 01 kỷ phần bằng giá trị. Bà B yêu cầu bà L là người đang quản lý, sở hữu nhà hoàn kỷ phần cho bà. Bà B không yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần đất ruộng hiện do bà G quản lý.
Theo các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Bích L trình bày:
Mẹ bà là cụ Nguyễn Thị B2 (sinh năm 1928 - chết năm 2002) và cha của bà là cụ Nguyễn Văn G1 (sinh năm 1929 - chết năm 1961). Cụ G1 và cụ B2 có 04 người con, gồm: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Hai cụ không có người con riêng nào khác. Cha của cụ B2 là cụ Trần Văn L1, mẹ của cụ B2 tên Trần Thị C. Cha của cụ G1 là cụ Nguyễn Văn T1, mẹ của cụ G1 tên Phạm Thị T2. Các cụ chết khi bà L còn nhỏ. Cụ G1 chết không có để lại di sản. Cụ B2 chết không để lại di chúc. Di sản của cụ B2 để lại là phần đất có nhà thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và phần đất lúa diện tích 3.200m2 địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Phần đất ruộng hiện bà G đang quản lý, sử dụng. Phần đất có nhà hiện do chị L đang quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, phần đất có nhà thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang cụ B2 đã làm giấy ủy quyền cho chị được thừa hưởng toàn bộ và chị L đã được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005. Bà B2 là người ký tên vào 02 giấy ủy quyền ngày 14/6/2001. Chị L là người trực tiếp chăm sóc bà B2 từ năm 1978 cho đến khi bà B2 chết là năm 2002, tuy nhiên chị L không yêu cầu tính công sức chăm sóc mẹ và công sức giữ gìn tài sản.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà B và yêu cầu độc lập của bà T, bà L đồng ý chia nhưng với điều kiện khi nào bà L bán được nhà, bà sẽ chia cho bà B và bà T. Trường hợp bà B yêu cầu nhận nhà và đất thì phải trả cho bà kỷ phần thừa kế bà được hưởng và giá trị nhà trọ do bà xây dựng theo giá Hội đồng định giá đã định. Hiện trên phần đất đang tranh chấp, bà L có xây dựng dãy nhà trọ và cho các anh chị thuê gồm: Anh Trần Văn P, chị Huỳnh Thị Ngọc Y, anh Võ Tấn H1, chị Tống Thị Tuyết H, anh Tống Nguyễn Gia B1.
Theo đơn yêu cầu về việc chia di sản thừa kế ngày 28/10/2023, các bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Mẹ bà là cụ Nguyễn Thị B2 (sinh năm 1928 - chết ngày 23/3/2002) và cha của bà là cụ Nguyễn Văn G1 (sinh năm 1929 - chết năm 1961). Cụ G1 và cụ B2 có 04 người con, gồm: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Hai cụ không có người con riêng nào khác. Cha của cụ B2 là cụ Trần Văn L1 (chết khoảng năm 1956), mẹ của cụ B2 tên Trần Thị C (chết khoảng năm 1976). Cha của cụ G1 là cụ Nguyễn Văn T1 (chết trước khi bà B sinh ra), mẹ của cụ G1 tên Phạm Thị T2 (chết khoảng năm 1976). Cụ B2 chết không để lại di chúc. Cha mẹ của bà để lại di sản là bất động sản tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, mục đích sử dụng: V+T (Trước khi cập nhật là thửa đất số 419, tờ bản đồ số 03, địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang diện tích 236m2, mục đích sử dụng: T+Q. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00663 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 19/6/1997). Trên thửa đất này có căn nhà kiên cố dài 12m, ngang 6m. Sau khi cụ B2 chết, bà L tự ý đập nửa căn nhà (dãy L) để xây dựng dãy nhà trọ cho thuê mà không thông qua các thành viên gia đình. Nay bà T yêu cầu chia di sản thừa kế là thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang diện tích 241,2m² làm 04 kỷ phần, yêu cầu được nhận 01 kỷ phần.
Theo các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị G trình bày:
Mẹ bà là cụ Nguyễn Thị B2 (sinh năm 1928 - chết ngày 23/3/2002) và cha của bà là cụ Nguyễn Văn G1 (sinh năm 1929 - chết năm 1961). Cụ G1 và cụ B2 có 04 người con, gồm: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Hai cụ không có người con riêng nào khác. Cha của cụ B2 là cụ Trần Văn L1 (chết khoảng năm 1956), mẹ của cụ B2 tên Trần Thị C (chết khoảng năm 1976). Cha của cụ G1 là cụ Nguyễn Văn T1 (chết trước khi bà B sinh ra), mẹ của cụ G1 tên Phạm Thị T2 (chết khoảng năm 1976). Cụ B2 chết không để lại di chúc. Cha mẹ của bà để lại di sản là bất động sản tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, mục đích sử dụng: V+T (Trước khi cập nhật là thửa đất số 419, tờ bản đồ số 03, địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang diện tích 236m2, mục đích sử dụng: T+Q. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00663 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 19/6/1997). Trên thửa đất này có căn nhà kiên cố dài 12m, ngang 6m. Sau khi cụ B2 chết, bà L tự ý đập nửa căn nhà (dãy L) để xây dựng dãy nhà trọ cho thuê mà không thông qua các thành viên gia đình. Nay bà T yêu cầu chia di sản thừa kế là thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang diện tích 241,2m² làm 04 kỷ phần, yêu cầu được nhận 01 kỷ phần.
Theo các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị G trình bày:
Mẹ bà là cụ Nguyễn Thị B2 (sinh năm 1928 - chết năm 2002) và cha của bà là cụ Nguyễn Văn G1 (sinh năm 1929 - chết năm 1961). Cụ G1 và cụ B2 có 04 người con, gồm: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Cha của cụ B2 là cụ Trần Văn L1 (chết khoảng năm 1956), mẹ của cụ B2 tên Trần Thị C (chết khoảng năm 1976). Cha của cụ G1 là cụ Nguyễn Văn T1 (mất trước năm 1959), mẹ của cụ G1 tên Phạm Thị T2 (chết khoảng năm 1976). Cụ G1 chết không có để lại di sản. Cụ B2 chết không để lại di chúc. Di sản của cụ B2 để lại đất ở tại thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Đối với phần đất ruộng diện tích 3368m2, thửa số 128, tờ bản đồ số 02, địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, cụ B2 và các chị em của bà đồng ý thừa kế để lại cho bà được sử dụng và bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận H03064 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 20/12/2004 cho hộ Nguyễn Thị G. Bà G đồng ý với sự phân chia tài sản theo Luật đất đai của Toà án Theo bản tự khai ngày 11/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Huỳnh Thị Ngọc Y và anh Trần Văn P trình bày: Chị Y và chồng là anh P là người thuê nhà của bà L. Đối với vụ án chia di sản thừa kế giữa bà B và bà L, anh chị không có ý kiến. Anh chị sẽ ký hợp đồng thuê nhà ở với người được chia tài sản.
Theo bản tự khai ngày 02/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Võ Tấn H1 trình bày: Anh H1 là người thuê nhà của bà L ở để đi làm ăn. Anh xin được vắng mặt khi Toà án xét xử.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Tống Thị Tuyết H không có bản khai thể hiện ý kiến.
Tại công văn số 554/CNVPĐKĐĐ-ĐKCG-LT ngày 04/6/2024, chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp: Thửa đất số 8, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,1m2, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm và đất ở tại nông thôn, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là Giấy chứng nhận), số vào sổ 00045, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/4/2004 cho hộ bà Trần Thị B3. Đến năm 2005, hộ bà Trần Thị B3 xin đổi tên chủ sử dụng đất lại là hộ bà Nguyễn Thị Bích L được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C xác nhận ngày 25/8/2005 vào trang 4 của Giấy chứng nhận, số vào sổ 00045 cấp ngày 13/4/2004. Hiện tại, qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ, Chi nhánh chưa tìm thấy hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cho hộ bà Trần Thị B3 và toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc đổi tên từ hộ bà Trần Thị B3 cho hộ bà Nguyễn Thị Bích L. Nguyên nhân là do trước đây, hồ sơ Đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình và cá nhân được lưu trữ, bàn giao qua nhiều thời kỳ, Chi nhánh là đơn vị kế thừa hồ sơ lưu trữ và thực hiện cung cấp thông tin dựa trên hồ sơ được bàn giao hiện có. Do đó, Chi nhánh không thể cung cấp theo yêu cầu của cơ quan Toà án nhân dân huyện Châu Thành. Chi nhánh cung cấp bản photocopy tài liệu như sau: Trang số Mục kê đất đai số trang 172, quyển số 01; Tờ số địa chính số trang 91, quyển số 03.
Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị B2 để lại là thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang diện tích 241,2m2 làm 04 kỷ phần, yêu cầu được nhận 01 kỷ phần bằng giá trị tương đương số tiền là 656.391.000 đồng (theo giá Hội đồng định giá đã định). Yêu cầu bà L là người đang quản lý, sở hữu nhà hoàn tiền cho bà B, thời gian là 02 tháng sau khi án có hiệu lực pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T yêu cầu được nhận 01 kỷ phần thừa kế bằng giá trị tương đương số tiền là 656.391.000 đồng, thời gian là 02 tháng sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ai là người quản lý di sản sẽ là người hoàn giá trị cho bà T. Bà L không đồng ý chia di sản thừa kế.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử là chưa thực hiện đúng. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 676 của Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị T khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Bích L yêu cầu chia di sản của cụ Trần Thị B3 để lại là quan hệ tranh chấp về thừa kế tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
[2] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị G, chị Tống Thị Tuyết H (đồng thời là người đại diện theo pháp luật của anh Tống Nguyễn Gia B1), chị Huỳnh Thị Ngọc Y, anh Trần Văn P, anh Võ Tấn H1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ thì việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên, khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng mà hợp đồng đó vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận nội dung biến động thì Hội đồng xét xử không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
[4] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự 2015 thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với bất động sản là 30 năm. Cụ Trần Thị B3 chết năm 2002 nên vẫn còn trong thời hạn khởi kiện.
[5] Về yêu cầu chia thừa kế: Cụ Trần Thị B3 chết ngày 23/3/2002, không để lại di chúc nên di sản thừa kế của cụ B3 để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật theo quy định tại Điều 677 của Bộ luật Dân sự 1995.
[6] Về hàng thừa kế của cụ Trần Thị B3: Các đương sự đều thống nhất hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trần Thị B3 gồm có: bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, bà Nguyễn Thị G sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1962. Chồng của cụ Trần Thị B3 là cụ Nguyễn Văn G1 (sinh năm 1929- chết năm 1961). Ngoài ra, cụ B3 và cụ G1 không có người con nào khác. Cha của cụ B3 là cụ Trần Văn L1 chết khoảng năm 1956 mẹ của cụ B3 tên Trần Thị C, chết khoảng năm 1976. Cha của cụ G1 là ông Nguyễn Văn T1 chết trước khi bà B sinh ra, mẹ của cụ G1 tên Phạm Thị T2 chết khoảng năm 1976. Tổng cộng có 04 kỷ phần thừa kế.
[7] Về di sản thừa kế: Các đồng thừa kế đều thống nhất di sản của cụ Trần Thị B3 để lại là quyền sử dụng đất và căn nhà thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 diện tích thực đo là 233,4m2 địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 17/7/2024). Cụ B3 chết không để lại di chúc. Cụ G1 chết không có để lại di sản. Phần di sản này hiện do chị L đang quản lý, sử dụng.
[8] Xét phần đất thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 diện tích thực đo là 233,4m2 địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang có nguồn gốc là của cụ Trần Thị B3 đã được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 19/6/1997. Đến ngày 17/10/2001, cụ B3 có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất. Ngày 13/4/2004, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Trần Thị B3 số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00045 QSĐĐ/451/QĐ.UB (13/4/2004). Theo công văn số 59/CAH-QLHC ngày 26/8/2024 của Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang xác nhận: Tại thời điểm ngày 03/4/2004 hộ bà Trần Thị B3 gồm có các nhân khẩu là bà Trần Thị B3, sinh năm 1928 chủ hộ. Tại phần những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận, thể hiện: Ngày 25/8/2005, người sử dụng đất được đổi tên là hộ Nguyễn Thị Bích L sinh năm 1962 HK số 434/1 HKTT ấp T, xã T-TG theo đơn xin được UBND huyện duyệt ngày 25/8/2005. Theo công văn số 31/CAH-QLHC ngày 09/5/2024 của Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang xác nhận: Tại thời điểm ngày 25/8/2005 đến nay hộ bà Nguyễn Thị Bích L gồm có các nhân khẩu là bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1962 chủ hộ. Ngày 25/8/2005, người sử dụng đất được đổi tên là hộ Nguyễn Thị Bích L mà chưa có sự đồng ý của các đồng thừa kế còn lại của cụ B3 là không đảm bảo thủ tục thừa kế về chuyển quyền sử dụng đất. Sau khi thụ lý vụ án, các đồng thừa kế là bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị T không có ý kiến về việc chuyển tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành hộ Nguyễn Thị Bích L. Tuy nhiên chỉ điều chỉnh ở trang 4 nên không cần thiết phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, di sản thừa kế của cụ Trần Thị B3 để lại là quyền sử dụng đất diện tích thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 diện tích thực đo là 233,4m2 (theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 17/7/2024) địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Các đương sự thống nhất giá thực tế chuyển nhượng tại địa phương đối với đất ở là 12.000.000 đồng/m2 đối với đất cây lâu năm là 10.000.000 đồng/m2 theo biên bản định giá ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá. Và căn nhà (nhà thờ) diện tích 8,2mx5m=41m2, kết cấu cột bêtông cốt thép, vách tường, nền gạch tàu, mái tôn xi măng, tỷ lệ còn lại 40% có giá trị là 65.764.000 đồng (Theo biên bản định giá tài sản ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản). Như vậy, di sản thừa kế của cụ Trần Thị B3 để lại có tổng giá trị 2.548.564.000 đồng.
[9] Xét về công sức quản lý di sản: Theo Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 về được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế, không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức. Do bà L là người trực tiếp quản lý di sản này từ năm 2002 đến nay, có công sức quản lý di sản nên cần phải xem xét công sức giữ gìn và quản lý tài sản cho bà L. Do đó Hội đồng xét xử chia công sức giữ gìn di sản cho bà L bằng 1/5 giá trị tài sản là 509.712.800 đồng. Như vậy giá trị di sản thừa kế còn lại là 2.038.851.200 đồng. Cụ thể giá trị mỗi kỷ phần thừa kế là 509.712.800 đồng (2.038.851.200 đồng/4 kỷ phần = 509.712.800 đồng).
[10] Hiện tại, bà L là người đang quản lý di sản, trên đất bà L có xây dựng dãy nhà trọ và đăng ký kinh doanh nhà trọ, xây dựng thêm các công trình vật kiến trúc khác như sân, tường rào, mái che, nhà vệ sinh nên Hội đồng xét xử quyết định giao toàn bộ phần di sản là đất và nhà cho bà L tiếp tục quản lý, sở hữu, sử dụng. Buộc bà Nguyễn Thị Bích L có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị G mỗi người 01 kỷ phần thừa kế có giá trị là 509.712.800 đồng. Ghi nhận bà B và bà T đồng ý cho bà L thời gian 02 tháng sau khi án có hiệu lực pháp luật.
[11] Về chi phí tố tụng, gồm: Chi phí đo đạc, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 4.895.000 đồng, bà B đã tạm nộp. Tại phiên toà, phía nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị G được chia kỷ phần thừa kế nên phải chịu phần chi phí định giá này. Hội đồng xét xử buộc bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị G mỗi người phải hoàn trả chi phí tố tụng cho bà Nguyễn Thị B số tiền là 1.223.750 đồng.
[12] Đối với giấy ủy quyền của cụ Trần Thị B3 để ngày 14/6/2001 có nội dung để cho bà Nguyễn Thị Bích L được thừa hưởng toàn bộ tài sản gia đình gồm nhà cửa và ruộng đất đã có. Tuy nhiên giấy ủy quyền này không được công chứng, chứng thực theo quy định, không nói rõ nội dung số thửa, tờ bản đồ, diện tích và địa chỉ các bất động sản, không thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất. Phía bà L thừa nhận không có nộp giấy ủy quyền để thực hiện thủ tục chuyển tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà B có yêu cầu giám định chữ ký của cụ B3 trên giấy ủy quyền để ngày 14/6/2001, ngày 20/8/2024 bà B rút lại yêu cầu giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[13] Xét ý kiến của kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[14] Về án phí: bà Nguyễn Thị B, Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn Thị Bích L là người cao tuổi và các bà có đơn xin miễn án phí thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 634, 635, 636, 637, 638, 639, 641, 643, 673, 677, 679, 688 của Bộ luật Dân sự năm 1995.
- Căn cứ Điều 623 của Bộ luật dân sự 2015.
- Căn cứ các Điều 95, Điều 99, Điều 100, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013 - Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T.
1. Xác định người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của cụ bà Trần Thị B3 gồm có: bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1953, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, bà Nguyễn Thị G sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1962.
2. Xác định di sản thừa kế của cụ bà Trần Thị B3 để lại là giá trị quyền sử dụng phần đất và nhà thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 diện tích thực đo là 233,4m2 (theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 17/7/2024) địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang có tổng giá trị 2.548.564.000 đồng.
3. Bà Nguyễn Thị Bích L được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 12, diện tích 241,2m2 diện tích thực đo là 233,4m2 địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và căn nhà diện tích 8,2mx5m=41m2, kết cấu cột bêtông cốt thép, vách tường, nền gạch tàu, mái tôn xi măng, tỷ lệ còn lại 40% (Theo biên bản định giá tài sản ngày 11/4/2024).
(Kèm theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 17/7/2024) 4. Buộc bà Nguyễn Thị Bích L có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị G mỗi người 01 kỷ phần thừa kế có giá trị là 509.712.800 đồng.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị T đồng ý cho bà Nguyễn Thị Bích L thời gian 02 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai biến động quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 95 của Luật đất đai.
5. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị G mỗi người phải hoàn trả chi phí tố tụng cho bà Nguyễn Thị B số tiền là 1.223.750 đồng.
6. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn Thị Bích L.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp thừa kế tài sản số 166/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 166/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Tiền Giang |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 12/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về