Bản án về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề số 99/2023/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 99/2023/DS-PT NGÀY 22/03/2023 VỀ TRANH CHẤP RANH GIỚI GIỮA CÁC BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ

Trong các ngày 21 và 22 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 252/2022/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Tranh giới giữa các bất động sản liền kề”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 77/2022/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Toà án nhân dân quận T bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 107/2023/QĐ - PT ngày 10 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trịnh Văn K, sinh năm: 1955; Trú tại: khu vực T, phường T, quận T, thành phố C.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị B, sinh năm 1958; Trú tại: khu vực T, phường T, quận T, thành phố C (theo văn bản ủy quyền ngày 20/12/2022).

2. Bị đơn:

2.1/. Ông Trịnh Văn X, sinh năm 1948 (chết ngày 19/6/2021) Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:

2.1.1/. Bà Phạm Thị X1, sinh năm 1954 2.1.2/. Ông Trịnh Minh N, sinh năm 1981

2.1.3/. Ông Trịnh Quang T, sinh năm 1983

2.1.4/. Ông Trịnh Hoàng A, sinh năm 1979

2.1.5/. Bà Trịnh Thị Yến O, sinh năm 1985 Cùng địa chỉ: khu vực T, phường T, quận T, C

2.1.6/. Bà Trịnh Thị Yến P, sinh năm 1978 Trú tại: khu vực Thới Bình 2, phường Thuận An, quận T, thành phố C.

2.1.7/. Ông Trịnh Thanh L, sinh năm 1975 Trú tại: khu vực Thới An 3, phường Thuận An, quận T, TP.C.

2.2/. Ông Trịnh Văn T1, sinh năm 1972; Trú tại: khu vực T, phường T, quận T, thành phố C.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông T1: Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1977; Trú tại: khu vực Lân Thạnh 1, phường Trung Kiên, quận T, thành phố C (theo văn bản ủy quyền ngày 07/11/2022).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T1: Bà Hồ Thị Thu Tr là Luật sư – Văn phòng Luật sư T thuộc Đoàn luật sự thành phố C.

3. Người làm chứng:

3.1/. Ông Trinh Văn B1 – sinh năm: 1940

3.2/. Ông Trinh Văn K1 – sinh năm: 1966

3.3/. Ông Trinh Văn Y – sinh năm: 1958

3.4/. Ông Lê Văn D – sinh năm: 1962

3.5/. Ông Lê Quang Đ– sinh năm: 1966

3.6/. Ông Lê T H – sinh năm: 1976

3.7/. Ba Nguyên Thi P1 – sinh năm: 1959 Cung trú tại: khu vực T, phường T, quận T, thành phố C.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Trịnh Văn T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Văn K và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ba Vo Thi Bı trong quá trình tố tụng:

Ông Trịnh Văn K kê khai đứng tên trong Sổ mục kê đất đai diện tích 460m2, loại thổ cư, thửa 1364, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố C. Nguồn gốc đất do gia đình ông K nhận chuyển nhượng của đia chu là ông T2 và đã sử dụng hơn 100 năm qua. Đến nay, ông K vẫn chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do có phat sinh tranh châp về ranh giới vơi 02 hô sử dụng đất liên kê là ông Trịnh Văn X và ông Trịnh Văn T1 (con ông Trịnh Văn X2). Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm theo đo đac thưc tê, cụ thể:

Ông Trinh Văn Thức 26,7m2 tại vị trí A và 22,8m2 vị trí B, tổng cộng 49,5m2; ông Trinh Văn X 43,9m2 tại vị trí C theo Bản trích đo địa chính số 139/TTKTTNMT ngày 13/11/2020 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.

- Bị đơn ông Trịnh Văn T1 trình bày:

Ông đang sử dụng đất tại thửa 1365, diện tích 1.253m2, loại đất ODT+CLN do ông Trịnh Văn X2 (cha ông T1) đưng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000124, được Uy ban nhân dân huyện Thốt Nốt (cu) cấp ngày 25/12/1995, được chınh ly chủ sử dụng cho ông Trinh Văn T1 vào ngày 03/12/2019 do nhận thừa kế.

Quá trình sử dụng, ông không có lấn chiếm đât của ông K ma ngược lại ông K lấn chiếm qua thửa đất 1365 của ông. Trước đây khi ông X2 con sống, vao tháng 04/2014, hai bên co thống nhât cắm tru đá làm ranh mốc nhưng sau đó, ông K tự y nhô bỏ tru đá rôi lam đơn khởi kiện cho răng gia đınh ông lân chiêm đât. Ông cho răng, phân đât tranh châp tại vi trı A do gia đınh ông nhận chuyển nhượng cua ông T2. Còn phân đât ở vi trí B, trươc đây cha của ông (ông X2) cho gia đình ông K sư dung nên ông X2 không kê khai đăng ký phần đât nay vao thưa 1365. Nay ông không đông y xac đinh ranh mốc giữa 02 thửa đất theo yêu cầu khơi kiện cua nguyên đơn.

- Ông Trịnh Thanh L là con ruột của ông Trịnh Văn X trình bày:

Ông Trịnh Văn X đưng tên quyền sư dụng đất, diện tích đât 616m2, loại ODT+CLN, thửa 1363, được Uy ban nhân dân huyện Thốt Nốt (cu) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “H”01951 ngày 04/01/2007. Nguồn gốc đất do ông bà để lại, gia đình ông X đa sử dụng ổn định từ trước đến nay, có ranh mốc rõ ràng. Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông X không đồng ý vì không có lấn chiếm đất.

- Nhưng người làm chứng Trinh Văn B, Trinh Văn K1, Trinh Văn Y, Lê Văn D, Lê Quang Đ, Lê T H, Nguyên Thị P1 trình bày:

Các ông bà sông ơ gân nha ông K, ông T1 nên co biêt phân đât tranh châp tai vi trı A ở phía trước nhà ông K trước đây là cái hầm do gia đình ông Trịnh Văn X2 (cha ông T1) sử dụng, dùng làm ao chưa nươc sinh hoạt hằng ngày. Đến năm 2000, khi có xáng cạp múc đất ở dưới con rạch đắp lên lộ để làm đường giao thông thì ông X2 nhờ san lấp luôn cái hầm cho bằng phẳng như hiện nay. Trươc đây, ông X2 co trông bui tre tai vi trı A, sau đo ông K tư y đôn bo đê lam nha chưa cui. Ông K chı sư dung phân đât tranh châp ở vị trí A cach nay khoang 10 năm. Đôi vơi phân đât tranh châp tai vi trı B la do ông X2 luc con sông đông y cho ông K sử dụng khoang 2m đê mơ rông nha ơ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2022/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận T, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Công nhận ông Trinh Văn K được quyền sử dung diện tıch đất tranh chấp 26,7m2 loai đât ODT (ky hiệu A) va diện tıch đât 22,8m2 loai đât ODT (ký hiêu B) tại thửa số 1364, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc khu vực Thơi Thanh 2, phường Thơi Thuận, quận T, thành phố C, do ông Trinh Văn K đứng tên trong Sổ Muc kê ruông đât.

Đôi vơi phân đất tranh châp tại vi trı ky hiêu C: ông Trinh Văn K đươc quyên sư dung chiều ngang 0,5m, chiêu dai đên hết thưa đât.

Vị trí, diện tích đất cụ thể được xác định căn cứ theo Bản trích đo địa chính số 139/TTKTTNMT do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập ngày 13/11/2020.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định, định giá tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự.

- Ngày 08/8/2022, bị đơn ông Trịnh Văn T1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm để xét xử phúc thẩm theo hướng, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận phần đất tranh chấp diện tích 26,7m2 (ky hiêu A) va diện tích đât 22,8m2 (ky hiệu B) thuộc quyền sử dụng của bị đơn; Yêu cầu đo đạc lại các thửa đất 1364, 1365 và 1366.

- Ngày 23/12/2022, bà Phạm Thị X1 là vợ của ông Trịnh Văn X cùng các con của ông X, bà Xẩm gồm: ông Trịnh Minh N, ông Trịnh Quang T, ông Trịnh Hoàng A, bà Trịnh Thị Yến O và bà Trịnh Thị Yến P có đơn khiếu nại gửi đến Tòa án nhân dân thành phố C cho rằng:

Quá trình giải quyết vụ án ông X ủy quyền cho ông Trịnh Thanh L tham gia, đến ngày 19/6/2021 thì ông X chết. Ngày 26/7/2022, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án, quyết định giao ½ diện tích đất tranh chấp tại vị trí C theo Bản trích đo địa chính số 139/TTKTTNMT ngày 13/11/2020 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C cho nguyên đơn được sử dụng thì các ông bà không đồng ý. Do từ khi xét xử sơ thẩm đến nay, ông bà không tiếp cận được bản án sơ thẩm và ông L là người đại diện theo ủy quyền cho ông X nhưng làm nghề tài xế lái xe, đi làm suốt nên cũng không thông báo gì về kết quả xét xử cho gia đình biết. Sau khi tiếp cận được bản án sơ thẩm, các ông bà không đồng ý, vì quyết định của bản án làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của gia đình ông X. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét công nhận toàn bộ phần đất tranh chấp tại vị trí C theo Bản trích đo địa chính nêu trên thuộc về gia đình ông X, do không có việc lấn chiếm đất của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn trình bày, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn thống nhất như bản án sơ thẩm tuyên xử.

Những người làm chứng là ông Trịnh Văn B, ông Trịnh Văn K1, ông Trịnh Văn Y, ông Lê Văn D, bà Nguyễn Thị P1 do bị đơn cung cấp trình bày: Đất của nguyên đơn ông K sử dụng do ông Trịnh Văn X2 (cha của bị đơn ông Trịnh Văn T1) cho ở nhờ, chỉ có phần nền nhà nên không thể xác định ranh mốc giữa hai bên; phần đất tranh chấp gần đường giao thông (tại vị trí A) trước đây là cái ao do gia đình ông T1 sử dụng để nuôi cá, lấy nước sinh hoạt; khi Nhà nước làm đường giao thông thì cái ao này được Nhà nước lấy đất dưới kênh lên để sang lấp và di dời đường giao thông ra vị trí phía ngoài nên đất tranh chấp này không thuộc về gia đình ông K.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Trịnh Văn T1 trình bày, tranh luận:

Theo kết quả đo đạc tại Bản trích đo địa chính số 139/TTKTTNMT ngày 13/11/2020 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C ghi nhận thì cách tuyên án của cấp sơ thẩm giao cho nguyên đơn được sử dụng các phần đất tranh chấp tại vị trí A, B và ½ vị trí C là không hợp lý, vì cộng với phần đất mà nguyên đơn đang sử dụng thì có sự chênh lệch về diện tích đất so với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Đất của nguyên đơn sử dụng chưa được cấp giấy, nguyên đơn cũng không biết đất mình sử dụng ranh mốc đến vị trí nào và chỉ khởi kiện khi trích lục Sổ mục kê đất đai vì tên đăng ký, cấp sơ thẩm công nhận phần đất tranh chấp tại vị trí A và B cho nguyên đơn là không phù hợp; khi giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, những người làm chứng do phía bị đơn ông T1 cung cấp trình bày ý kiến tại phiên tòa nhưng không được Hội đồng xét xử ghi nhận nên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T1; Do không hiểu biết pháp luật nên ông Trịnh Thanh L - người đại diện theo ủy quyền cho ông X không báo lại cho gia đình ông X biết về kết quả xét xử sơ thẩm sau khi ông X chết.

Từ những vấn đề nêu trên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại vụ án về thủ tục tố tụng và tuyên xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự tham gia phiên tòa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về kháng cáo: Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đóng tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung kháng cáo:

Đất của nguyên đơn sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận nhưng cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ để làm rõ phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn ông T1 tại vị trí A và B theo Bản trích đo địa chính số 139/TTKTTNMT ngày 13/11/2020 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thuộc về thửa nào. Trên đất có tài sản là hàng rào, cây nước do bị đơn tạo lập nhưng không xử lý những tài sản này sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án. Tương tự, phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn với ông X có một phần căn nhà và mái che phía trước của ông X nhưng khi giải quyết, cấp sơ thẩm quyết định công nhận một phần diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn được sử dụng nhưng lại không xử lý những tài sản trên đất nên sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án. Theo trình bày của đương sự, bị đơn ông Trịnh Văn X có vợ và 06 người con nhưng khi ông X chết, cấp sơ thẩm không đưa hàng thừa kế thứ nhất vào tham gia là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Do cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ, cấp phúc thẩm không thể bổ sung tại phiên tòa được và có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Đất của nguyên đơn sử dụng thửa 1364 tiếp giáp với đất của các bị đơn ông ông Trịnh Văn T1 thửa 1365 và Trịnh Văn X (đã chết) thửa 1363 nhưng các bên không thống nhất được việc xác định mốc giới ngăn cách giữa các thửa đất dẫn đến phát sinh tranh chấp nên xác định đây là vụ án dân sự về “tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề”. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là có căn cứ, đúng thẩm quyền.

[2] Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm có những sai sót:

+ Đối với phần đất giữa ông K với ông T1:

Thứ nhất, cấp sơ thẩm sử dụng kết quả đo đạc lần thứ nhất, kết quả thể hiện tại Bản trích đo địa chính số 139/TTKTTNMT ngày 13/11/2020 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C để làm căn cứ giải quyết vụ án và tuyên xử, công nhận cho nguyên đơn ông Trịnh Văn K đươc quyên sư dung diện tıch đất tranh chấp 26,7m2 loai đât ODT (ky hiêu A) va diện tıch đât 22,8m2 loai đât ODT (ky hiêu B), tổng cộng 49,5m2. Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày 30/7/2020 (Bút lục 77 – 78) ghi nhận: trên phần đất tranh chấp có hàng rào của ông Trịnh Văn T1, kết cấu: cột bê tông cốt thép, lưới B40, xây tường lững. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho ông T1 còn cung cấp thêm hình ảnh và cho rằng, phần đất tranh chấp ở phía sau (tại vị trí B) có cây nước do bị đơn sử dụng. Do đó, trường hợp công nhận đất tranh chấp cho nguyên đơn được sử dụng thì phải xử lý tài sản, vật kiến trúc trên đất do bị đơn tạo lập, nếu không xử lý sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án hoặc không thể thi hành nhưng cấp sơ thẩm lại không X2 xét xử lý.

Thứ hai, sau khi có kết quả đo đạc lần thứ nhất, bị đơn yêu cầu đo đạc lại, cấp sơ thẩm chấp nhận và tiến hành lập Hội đồng đo đạc lại lần thứ hai, kết quả thể hiện tại Bản trích đo địa chính số 122/TTKTTNMT ngày 14/10/2021 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Theo ý chí của các đương sự khi chỉ ranh đo đạc thì xác định được phần đất tranh chấp kéo dài từ ngoài giáp lộ giao thông trở vào trong tại các vị trí A diện tích 16,8m2 và B diện tích 57,1m2, tổng cộng 73,9m2. Như vậy, đất tranh chấp có sự chênh lệch tăng thêm 24,4m2 giữa lần đo thứ nhất và thứ hai. Trường hợp này, Tòa án phải lập biên bản giải thích cho các đương sự biết làm đơn khởi kiện bổ sung hoặc phản tố để giải quyết trong cùng vụ án. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm căn cứ vào kết quả đo đạc lần thứ nhất nên chỉ giải quyết phần đất 49,5m2, phần còn lại 24,4m2 không được xem xét là giải quyết không đầy đủ nội dung tranh chấp, triệt để vụ án.

Thứ ba, đất của nguyên đơn chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nên khi giải quyết, không chỉ căn cứ vào diện tích đất kê khai trên Sổ mục kê mà còn phải xem xét đến những vấn đề khác như: hàng rào của bị đơn xây kiên cố bằng gạch, trụ bê tông cốt thép, đã tồn tại hơn 15 năm vào thời điểm ông Trịnh Văn X2 (cha của bị đơn ông T1) còn sống nhưng gia đình nguyên đơn không tranh chấp, khiếu nại (tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng do hoàn cảnh khó khăn nên không quan tâm tranh chấp, khiếu nại) trong khi theo quy định tại khoản 2 Điều 176 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì cột mốc, hàng rào, cây lâu năm, xây tường ngăn cũng có thể được xác định để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá vấn đề này nhưng lại chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cũng là chưa có căn cứ vững chắc.

+ Đối với phần đất tranh chấp giữa ông K với ông X:

Ngày 25/3/2021, bị đơn ông Trịnh Văn X lập Giấy ủy quyền cho ông Trịnh Thanh L tham gia giải quyết tranh chấp. Đến ngày 19/6/2021 ông X chết, quan hệ ủy quyền giữa ông X và ông L chấm dứt theo quy định của pháp luật. Trường hợp này, các thừa kế của ông X phải tham gia kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 74 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì không được tham gia giải quyết vụ án từ giai đoạn sơ thẩm nên sau đó các thừa kế của ông X có đơn khiếu nại gửi đến Tòa án cấp phúc thẩm, không đồng ý kết quả xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, do các đương sự không ai khai báo với Tòa án về việc ông X đã chết nên cấp sơ thẩm không phát hiện và đưa vụ án ra xét xử, việc này là vi phạm nghiêm trọng tố tụng nhưng có nguyên nhân khách quan.

Cũng theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày 30/7/2020 (Bút lục 77 – 78) ghi nhận: căn nhà của ông X có kết cấu: cột bê tông, cốt thép, mái tole, vách tường, nền gạch men; Diện tích: 01m x 11,6m = 11,6m2 và mái che phía trước căn nhà, diện tích: 1m x 13m = 13m2. Trong khi phần đất tranh chấp tại trí C cũng có chiều ngang 01m, nếu căn cứ theo kết quả thẩm định này thì có một phần căn nhà của ông X (chiều ngang 01m) nằm trên phần đất tranh chấp (chiều ngang 01m) nhưng án sơ thẩm nhận định: chia đôi phân tranh chấp tại vị trí C cho môi bên đươc quyên sư dụng 0,5m để không anh hương đến vach nha cua ông K, ông X là không phù hợp với kết quả xem xét, thẩm định được ghi nhận tại Biên bản nêu trên. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trịnh Thanh L còn trình bày: phía ngoài giáp đường giao thông chạy dài vào trong hơn 10m còn có hàng rào của bị đơn xây kiên cố vào năm 2004 (tồn tại trên 15 năm). Việc Tòa án cấp sơ thẩm phân chia cho mỗi bên được sử dụng một phần diện tích đất tranh chấp như vậy sẽ ảnh hưởng đến tài sản của bị đơn, nhưng khi quyết định lại không xử lý nên sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án hoặc không thể thi hành án.

[3] Do cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng khi giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phúc thẩm tại phiên tòa về việc hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại là phù hợp.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông T1 được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định “về mức thu, miễm, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

- Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

- Điều 166, 175, 176 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Văn T1.

1/. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2022/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận T và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.

2/. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định, định giá tài sản: Được quyết định khi giải quyết lại vụ án.

3/. Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.

Ông Trịnh Văn T1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004572 ngày 08/8/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận T, thành phố C.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày được tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

93
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề số 99/2023/DS-PT

Số hiệu:99/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về