TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
BẢN ÁN 77/2025/DS-PT NGÀY 04/08/2025 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, YÊU CẦU CHẤM DỨT HÀNH VI CẢN TRỞ TRÁI PHÁP LUẬT QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Trong các ngày 30 tháng 7 năm 2025 và 04/8/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2025/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6-Gia Lai) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 84/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ông Võ Ngọc T.
Cư trú tại: Khu phố D, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là phường B, tỉnh Gia Lai).
2.Bị đơn:
-Ông Đặng Ngọc X; có mặt.
-Bà Đinh Thị Đ; có mặt.
Cùng cư trú tại: Khu phố D, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là phường B, tỉnh Gia Lai).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đặng Ngọc X: Luật sư Bùi Văn P, hoạt động tại Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G; địa chỉ: F N, phường Q, tỉnh Gia lai.
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là phường B, tỉnh Gia Lai).
-Bà Nguyễn Thị H.
-Bà Trịnh Thị T1.
-Ông Đặng Ngọc T2.
-Ông Đặng Ngọc N.
-Bà Đặng Thị Ngọc H1.
-Ông Đặng Ngọc N1.
-Ông Võ Minh T3.
-Bà Võ Thị Thùy N3.
-Ông Võ Minh H2.
-Bà Võ Thị Kim H3.
Cùng cư trú tại: Khu phố D, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là phường B, tỉnh Gia Lai).
Đại diện hợp pháp của ông Võ Ngọc T và bà Nguyễn Thị H: Ông Võ Nhật N2; cư trú tại: Khu phố D, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là phường B, tỉnh Gia Lai) là đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 25/01/2024 và ngày 15/5/2024).
- Người kháng cáo: Ông Đặng Ngọc X là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Võ Ngọc T trình bày:
Thửa đất số 942, tờ bản đồ số 7 tại Khu phố D, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là phường B, tỉnh Gia Lai) có nguồn gốc là của vợ chồng ông nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Nguyễn An C và bà Võ Thị H3. Sau khi nhận chuyển nhượng thì vợ chồng ông tiến hành làm thủ tục sang tên, đổi sổ. Thời gian khoảng năm 2023, vì có nhu cầu sử dụng đất nên vợ chồng ông nâng cấp đổ đất nâng nền tại phần đất nói trên thì bị ông Đặng Ngọc X, bà Đinh Thị Đ ngăn cản, tranh chấp. Ông X cho rằng phần đất phía đuôi của thửa đất là của ông X, còn bà Đ cho rằng phần đất phía đầu của thửa đất là của bà Đ. Ông đã gửi đơn lên UBND phường H để hòa giải nhưng không thành.
Nay ông yêu cầu Tòa án buộc ông X, bà Đ chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng đất, trả lại cho ông phần diện tích đất lấn chiếm và yêu cầu dọn dỡ cây trồng có trên thửa đất số 942, tờ bản đồ số 7 để trả lại đất cho ông. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 25 tháng 02 năm 2025, ông T đề nghị nhận các tài sản có trên phần diện tích đất ông X đang sử dụng, trả lại tiền cho ông X theo giá trị tài sản.
Bị đơn ông Đặng Ngọc X trình bày:
Ông và vợ là bà Trịnh Thị T1, có 04 người con là Đặng Ngọc T2, Đặng Ngọc N, Đặng Thị Ngọc H1, Đặng Ngọc N1. Vợ chồng ông được nhà nước cấp quyền sử dụng đất ngày 02/8/1997 với tổng diện tích là 3272m2, trong đó có thửa đất số 580, tờ bản đồ số 5, đất trồng lúa tại Khu phố D, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là phường B, tỉnh Gia Lai). Thửa đất trên được cấp đổi ngày 17/10/2007 thành thửa số 400, tờ bản đồ số 36, diện tích 622m2, chính là thửa đất mà ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vợ chồng ông sử dụng ổn định từ năm 1986 cho đến nay. Nay không biết vì lý do gì ông T tự ý đổ đất nâng nền trên đất của vợ chồng ông khoảng 6m hay 7m gì đó và ông T lại yêu cầu Tòa án buộc ông trả lại đất và chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng đất, dọn dở tài sản có trên đất đối với thửa đất số 942, tờ bản đồ số 7. Ông không đồng ý vì thửa số 400, tờ bản đồ số 36, diện tích 622m2 là đất của ông đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông, ranh giới thửa đất sử dụng ổn định, không có ai tranh chấp, trước đây vợ chồng ông trồng lúa, hiện tại thì vợ chồng ông trồng rau muống, rau lang, chuối.
Bị đơn bà Đinh Thị Đ trình bày:
Bà và chồng là ông Võ Văn Y (chết năm 2023), có 04 người con là Võ Minh T3, Võ Thị Thùy N3, Võ Minh H2, Võ Thị Kim H3. Vợ chồng bà tự khai hoang vỡ hóa khoảng 1000m2 đất tại Khu phố D, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là phường B, tỉnh Gia Lai) năm 1993 và sử dụng ổn định liên tục từ đó cho đến nay. Sau khi Nhà nước mở đường thì còn lại tầm khoảng 300m2 hiện bà đang canh tác, sử dụng. Sau khi khai hoang, vợ chồng bà trồng lúa 1 vụ, sau đó trồng mì, trồng lan, hiện nay bà đang trồng cỏ cho bò. Nay không biết vì lý do gì ông T tự ý đổ đất nâng nền trên đất của bà đang canh tác và ông T yêu cầu Tòa án buộc bà chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng đất với thửa đất số 942, tờ bản đồ số 7 và dọn dỡ tài sản, trả lại đất cho ông T. Bà không đồng ý vì thửa đất của bà mặc dù chưa được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bà đã sử dụng liên tục ổn định từ năm 1993 đến nay không ai tranh chấp, có ranh giới rõ ràng, bản thân bà vì thiếu hiểu biết nên không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo bà hiểu khi nhà nước muốn lấy đất của bà thì cũng phải hỏi ý kiến, thông báo công khai hoặc gửi giấy mời để bà biết thông tin. Từ trước đến nay, bản thân bà chưa nhận được quyết định thu hồi đất nào của Nhà nước, nay ông T lại cho rằng ông được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phần đất mà bà sử dụng là không hợp lý.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H là ông Võ Nhật N2 trình bày:
Bà H là vợ của ông Võ Ngọc T, bà thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông T, bà không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị T1 trình bày:
Bà là vợ ông Đặng Ngọc X, bà thống nhất với ý kiến trình bày của ông X và không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông, bà Võ Minh Tịnh Võ Thị Thùy N3, Võ Minh H2, Võ Thị Kim H3 cùng trình bày:
Các ông, bà là con của bà Đinh Thị Đ và ông Võ Văn Y. Phần diện tích đất mà hiện nay ông T tranh chấp với bà Đ có nguồn gốc là do cha mẹ các ông, bà tự khai hoang. Mặc dù chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà Đ đã sử dụng từ năm 1993 cho đến nay không ai tranh chấp. Do đó, các ông, bà thống nhất với trình bày và ý kiến của bà Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông, bà Đặng Ngọc T2, Đặng Ngọc N, Đặng Thị Ngọc H1 và Đặng Ngọc N1 cùng trình bày:
Các ông, bà là con của ông Đặng Ngọc X và bà Trịnh Thị T1. Ngày 02/8/1997, hộ gia đình các ông, bà được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 3272m2, trong đó có thửa đất số 580, tờ bản đồ số 05, đất trồng lúa. Thửa đất trên được cấp đổi thành thửa đất số 400, tờ bản đồ số 36, diện tích 622m2 vào ngày 17/10/2007. Gia đình các ông, bà sử dụng ổn định thửa đất nói trên từ năm 1986 cho đến nay không ai có ý kiến gì. Do đó, các ông, bà thống nhất với trình bày và ý kiến của ông X và bà T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường H (nay là phường B, tỉnh Gia Lai) trình bày:
Ông Võ Văn Y (chết) và bà Đinh Thị Đ là công dân có hộ khẩu thường trú tại khu phố D, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Tại thời điểm cân đối giao quyền sử dụng đất, hộ ông Y, bà Đ được cân đối giao quyền theo quyết định số 434/QĐ-UB ngày 07/8/1996 của Ủy ban nhân dân huyện H. Hộ ông X cũng được cân đối cấp đất đủ định suất.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2025/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Ngọc T. Buộc ông Đặng Ngọc X chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng đất và phải trả lại diện tích 104,5m2 thuộc thửa đất số 947, tờ bản đồ số 7 cho ông T được quyền sử dụng. Có giới cận và kích thước: Đông giáp thửa 62, dài 6m, Tây giáp phần đất kí hiệu (1), dài 6,18m, Nam giáp thửa đất 62, dài 18,16m, Bắc giáp thửa đất số 62, dài 18,16m.
Buộc bà Đinh Thị Đ phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng đất và trả lại diện tích 126,9m2 thuộc thửa đất số 947, tờ bản đồ số 7 cho ông T được quyền sử dụng. Có giới cận và kích thước: Đông giáp phần đất có kí hiệu (2), dài 6,18m, Tây giáp đường Quốc lộ, dài 6m, Nam giáp thửa đất số 449, dài 14,78m + 7,15m, Bắc giáp thửa đất 448, dài 14,56m + 5,79m. (Có sơ đồ kèm theo).
Ghi nhận sự tự nguyện của ông T trả cho ông X giá trị tài sản có trên đất với số tiền 255.000 đồng (hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng)
Ông T được quyền sở hữu tài sản có trên đất gồm 03 cây dừa xiêm chưa có thân cây, các cây hoa màu khác như chuối, sả, rau muống có trên đất.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 25 tháng 02 năm 2024, ông Đặng Ngọc X kháng cáo không đồng ý trả lại một phần diện tích đất cho ông Võ Ngọc T, vì phần đất này ông đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông đã sử dụng ổn định từ năm 1986 đến nay.
Luật sư Bùi Văn P trình bày luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông X: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Ngọc X, hủy Bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
-Về Tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.
-Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Ngọc X, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]Xét kháng cáo của ông Đặng Ngọc X, HĐXX thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã có những vi phạm như sau:
[1.1] Thứ nhất, Theo hồ sơ quản lý đất đai năm 1984 thì thửa đất số 942, tờ bản đồ số 7 được hình thành từ một phần của các thửa đất số: 333, 334, 335, 342, 344 tờ bản đồ số 07, nhưng cấp sơ thẩm không xác minh, thu thập chứng cứ để xác định thửa đất này có diện tích bao nhiêu, có bao nhiêu mét vuông thuộc mỗi thửa đất nêu trên nên không thể xác định được diện tích thửa đất số 942, tờ bản đồ số 7 vào thời điểm năm 1984 là bao nhiêu.
[1.2] Thứ hai, theo hồ sơ quản lý đất đai năm 1997 thì thửa đất 942 có tổng diện tích là 330m2, là một phần của các thửa đất số: 105, 449, 62 tờ bản đồ số 49, nhưng cấp sơ thẩm cũng chưa xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ thửa đất 942 có bao nhiêu m2 thuộc thửa 105, bao nhiêu m2 thuộc thửa 449, bao nhiêu m2 thuộc thửa 62 và mặc dù UBND thị xã H (nay là phường B) cung cấp thông tin các thửa đất 105, 449, 62 tờ bản đồ số 49 chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai, nhưng thực tế các thửa đất này hiện nay vẫn có người đang canh tác. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm cũng chưa xác định rõ ông X, bà Đ là người đang quản lý, sử dụng thửa đất 105, 449 hay là thửa 62, diện tích của các thửa đất này là bao nhiêu nên cũng chưa có đầy đủ căn cứ để xác định Ông X, bà Đ có lấn đất của vợ chồng ông T hay không.
[1.3] Thứ ba, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: 00460/A16 ngày 27/11/2000 do UBND huyện H cấp cho hộ bà Võ Thị Bích H4 thì thửa đất 942, tờ bản đồ số 7 có diện tích là 330m2, nhưng sau khi chuyển nhượng cho vợ chồng ông T thì diện tích đất chỉ còn lại 210m2, cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ tại sao có sự biến động về diện tích, diện tích bị thu hồi là bao nhiêu, còn lại bao nhiêu nên cũng không có cơ sở xác định đất của ông tánh bị lấn chiếm là bao nhiêu.
[1.4] Thứ tư, trong đơn khởi kiện và trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông T4 đều yêu cầu ông X, bà Đ phải trả lại phần đất đã lấn chiếm của gia đình ông theo đúng diện tích đất hợp pháp mà Nhà nước cấp cho gia đình ông tức là 210m2 Tuy nhiên, cấp sơ thẩm lại buộc ông X phải hoàn trả 104, 5m2 và bà Đ phải hoàn trả cho ông tánh 126,9m2, tổng cộng 231,4m2 là vượt quá phạm vi của yêu cầu khởi kiện, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông X cũng như bà Đ.
[2]Từ những phân tích trên xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm chưa xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục được nên phải hủy Bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 6-Gia Lai giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Kháng cáo ông Đặng Ngọc X là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.
[3]Về án phí, chi phí tố tụng khác: Theo quy định tại khoản 3 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự thì án phí sơ thẩm sẽ được giải quyết khi giải quyết lại vụ án ông Đặng Ngọc X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Chi phí tố tụng khác sẽ được giải quyết khi giải quyết lại vụ án.
[4]Luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đặng Ngọc X của Luật sư Bùi Văn P là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[5]Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm là phù hợp với nhận định của HĐXX. Ý kiến về việc giải quyết vụ án là không phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Ngọc X. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2025/DS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6-Gia Lai).
2.Về án phí, chi phí tố tụng khác:
2.1.Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác sẽ được giải quyết khi giải quyết lại vụ án.
2.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả lại cho ông Đặng Ngọc X 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu tiền số; 007156 ngày 25/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6-Gia Lai).
3.Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 6-Gia Lai giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng đất số 77/2025/DS-PT ngày 04/08/2025
| Số hiệu: | 77/2025/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Gia Lai |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 04/08/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về