Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 27/2025/DS-PT ngày 06/08/2025

TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 27/2025/DS-PT NGÀY 06/08/2025 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 06 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 22/2025/TLPT- DS ngày 20 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy P 1964; địa chỉ: Lô C, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh HòaĐịachỉ liên hệ: F Â, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là F Â, phường N, tỉnh Khánh Hòa Vắng mặt

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn L 1968; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk Có mặt

-Bị đơn: Ông Bùi Văn X (Bùi Văn X1 - sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lý Mạnh D 1971; địa chỉ: B D, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên (nay là số B D, Phường T, Đắk Lắk Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị T 1972; địa chỉ: Tổ B, V, phường V, thành Phố N, tỉnh Khánh HòaNgười đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn L 1968; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T (nay là thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

+ Ông Trần T1T1sinh năm 1974; địa chỉ: A, V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòađạidiện theo ủy quyền: Ông Lê Văn L 1968; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

+ Bà Lê Thị T2sinh năm 1943; địa chỉ: Tổ H, khu phố E, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là tổ H, khu phố E, Phường P, tỉnh Lâm Đồng Vắng mặt.

+ Bà Bùi Thị X2sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

+ Bùi Thị X3sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

+ Bà Trương Thị T3sinh năm 1927 (chết); có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm: Nguyễn Văn N(sinh năm 1949), Nguyễn Văn N1(sinh năm 1952), Nguyễn Văn N2(sinh năm 1955), Nguyễn Văn N3(sinh năm 1959), Nguyễn Văn N4(sinh năm 1961), Nguyễn Thị H(sinh năm 1964), Nguyễn Thị N5(sinh năm 1966); địa chỉ: Tổ G, khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là tổ G, khu phố F, phường P, tỉnh Lâm Đồng Vắng mặt.

+ Ông Bùi Tấn D1sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

+ Bà Bùi Thị Kim Y 1978; địa chỉ: Khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố F, phường P, tỉnh Lâm Đồng Vắng mặt.

+ Ông Bùi Tấn T4sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (nay là khu phố A, phường B, tỉnh Lâm Đồng Vắng mặt.

+ Bà Bùi Thị KN6sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Ngọc C 1979; địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

+ UBND huyện T11(nay là UBND xã T Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Chi nhánh V2(nay là Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – khu vực T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

+ UBND xã A (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là xã T, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Trong đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là bà

Trần Thị T1 P1người đại diện theo ủy quyền trình bày được tóm tắt như sau:

Nguyên nguồn gốc thửa đất số 68, tờ bản đồ 12A, tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yênlà của ông Lê Bá C1 cho vợ chồng con trai là ông L2T5chết năm 1955, bà D2chết năm 2013. Ông T5bà D2có 04 người con: Lê Thị C2Lê Thị T2và 02 người con chết nhỏ. Sau khi ông T5chết, thì bà D2tái hôn sinh ra Bùi Văn XBùi Thị X3, Bùi Thị X2Đến ngày 20/01/2004, bà Lê Thị D1 ông Bùi Văn X2 làm “Giấy duy bằng” xác định bà Lê Thị T2 thửa đất 68 cho ông X(1/2 thửa đất 68 về phía tây), còn lại ½ thửa đất 68 về hướng đông là của bà Lê Thị C2 chứng kiến con trai ông X3ông Bùi Tấn D2

Ngày 24/02/2005, ông Bùi Văn X4ông Đỗ Quốc V(trú A, huyện T thuê đất kéo ghe của bà Lê Thị C3 thửa đất số 68, tờ bản đồ 12A, tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yêncó sự xác nhận của ông Nguyễn Trọng T3 thôn) ngày 07/3/2005.

Bà Lê Thị C4 30/6/2009. Bà C2có 03 người con gồm: T12 T1 Bà Trần Thị T1 P2kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Buộc ông Bùi Văn X(tên khác Bùi Văn X1phải trả lại diện tích lấn chiếm là ½ thửa đất số 68, tờ bản đồ 12A, tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú YênDiện tích lấn chiếm là ½ của 1.005m2 (về hướng đông); yêu cầu ông X5dỡ các công trình trên đất trả lại đất trống.

-Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828061 ngày 18/7/2003 do UBND huyện T ông Bùi Văn X

*Bị đơn là ông Bùi Văn X3 người đại diện theo uỷ quyền trình bày được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn Trần Thị T1 P2kiện đòi lại quyền sử dụng đất nhưng thửa đất này có nguồn gốc do ông Bùi Văn X4 ½ của bà Lê Thị T4 bà Lê Thị D2 từ năm 1986; đã được bản án dân sự phúc thẩm số 236/2021/DS-PT ngày 07/12/2021 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng xác lập quyền sử dụng đất cho ông Bùi Văn X Bà P3có tài liệu chứng minh nguồn gốc đất của bà Lê Thị D3 cho bà Lê Thị C5 có quyền đòi lại quyền sử dụng đất. Theo bà P4cứ vào Giấy duy bằng lập năm 2004 và hợp đồng thuê mướn đất kéo ghe để xác định nguồn gốc đất của bà D2cho bà C2là không có cơ sở. Bản thân bà Lê Thị D4 bất kỳ giấy tờ nào giao đất cho bà C7 Hiện nay, thửa đất này đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Ngọc C6 8 năm 2023. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị T1 P5

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

-Bà Bùi Thị X5: thửa đất này trước đây của ông Lê B C7con trai là Lê Văn T5và con dâu là Lê Thị D2Sau đó, ông Lê Văn T6bà Lê Thị D5 hai người con gái là Lê Thị C7(hiện nay đã chết) và Lê Thị T2mỗi người một nữa, một nữa phía trên hướng tây giáp đất của ông T7thì bà T2đã bán cho ông Bùi Văn X6 còn lại về hướng đông giáp suối nước là của bà Lê Thị C7(mẹ đẻ của bà Trần Thị T1 P6 hoàn toàn đúng sự thật. Vậy, bà X2viết bản trình bày này để làm cơ sở cho Tòa án giải quyết đúng pháp luật, chịu trách nhiệm về lời trình bày của mình trước pháp luật. Bà X2đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

-Các ông bà Trần Thị TTrần Thanh T1do người đại diện theo uỷ quyền trình bày: Thống nhất như nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Thúy P1

-Các ông bà Bùi Tấn D6 Kim Y Bùi Tấn T4 Bùi Thị Kim N6 trình bày:

Thống nhất như trình bày bị đơn Bùi Văn X

-Bà Trương Thị T5 do những người thừa kế trình bày: Không liên quan đến tranh chấp trong vụ án.

- Bà Bùi Thị X7 trình bày: Không có ý kiến gì với vụ án.

-UBND xã Atrình bày: (Không có lời trình bày).

-UBND huyện Ttrình bày: tại Công văn số 972/UBND ngày 05/4/2024 có nội dung như sau:

Kết quả kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bản đồ địa chính qua các thời kỳ; các loại giấy tờ đất liên quan:

1.Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ngày 18/7/2003, ông Bùi Văn X8 tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yênđược UBND huyện Tcấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828061, gồm 02 thửa: Thửa đất số 67, tờ bản đồ số 12A (đo đạc năm 1995), diện tích 760m², trong đó: đất nhà ở diện tích 200m² và đất trồng màu diện tích 560m² và thửa đất số 68, tờ bản đồ số 12A (đo đạc năm 1995), diện tích 1.005m², loại đất trồng màu.

2.Về bản đồ địa chính qua các thời kỳ: Theo Bản đồ đo đạc năm 1995: thửa đất số 68, tờ bản đồ số 12A, diện tích 1.005m², loại đất thổ cư (T), chủ sử dụng bà Bùi Thị X11đồ đo đạc năm 1997, thửa đất số 166, tờ bản đồ số 21, diện tích 915m², loại đất ở nông thôn (ONT), chủ sử dụng hộ bà Bùi Thị X9 đo đạc năm 2012, thửa đất số 139, tờ bản đồ số 21, diện tích 3.010,1m², trong đó: loại đất ở nông thôn (ONT) diện tích 200m² và đất bằng trồng cây hàng năm khác (B2diện tích 2.810,1m², chủ sử dụng hộ ông Bùi Văn X

3.Các giấy tờ đất có liên quan: Theo Giấy duy bằng lập ngày 20/01/2004 do ông Lê Xuân M ký tên của ông Bùi X1(Xiếp) và con là Bùi Tấn D1theo đó có nội dung: ông Bùi X1(Xiếp) có mua 1 khoảng đất trồng dừa của bà Lê Thị T6 tích 375m², có vị trí: Đông giáp biển, Tây giáp suối, Nam giáp đất Bùi Xếp,

Bắc giáp đất của bà Lê Thị C8 tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn). Vậy kể từ nay về sau tôi là người mua trọn quyền sử dụng vĩnh viễn trên diện tích đất 375m² nói trên. Phần đất thuộc quyền nghiệp chủ của chị tôi là Lê Thị C2trước kia khoảng đất bao gồm 750m² của ông bà nội chị L2 để lại cho 2 cháu. Như vậy phần đất của chị Lê Thị T7 đoạn cho Bùi Xếp .Phần còn lại chị Lê Thị C9 làm chủ vĩnh viễn, nếu sau này có ai nói qua lại điều gì tôi là người chịu làm giấy nay thuộc thửa đất số 68, tờ bản đồ số 12A (đo đạc năm 1995), diện tích 1.005m².

Theo Giấy hợp đồng thuê đất kéo ghe giữa ông Bùi Văn Xông Đỗ Quốc

V1 bà Lê Thị C10 24/02/2005.

Vậy, nguồn gốc thửa đất số 68, tờ bản đồ số 12A (đo đạc năm 1995), diện tích 1.005m² là do cha mẹ của ông Bùi Văn X10 lại cho bà L3 ông X13chuyển nhượng một phần diện tích đất của bà Lê Thị T8 lại là của bà Lê Thị C7(mẹ của bà Trần Thị T1 P7ông X14 khai một phần diện tích do cha mẹ để lại và một phần diện tích nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị T12đến UBND huyện Tchứng nhận quyền sử dụng đất số G 828061, ký ngày 18/7/2003, tại thửa đất số 68, tờ bản đồ số 12A (đo đạc năm 1995), diện tích 1.005m² là không đúng quy định của pháp luật.

Do đó, bà Trần Thị T1 P8 nghị hủy thửa đất số 68, tờ bản đồ số 12A (đo đạc năm 1995), diện tích 1.005m² trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828061 do UBND huyện T11 ngày 18/7/2003 là có cơ sở.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên quyết định:

Căn cứ vào:

+ Khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; các điều 157, 165; các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.

+ Luật Đất đai năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2015;

+ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

[1]Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị T1 P9đòi quyền sử dụng đất đối với thửa 68, tờ bản đồ số 12A (đo đạc năm 1995), tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên

[2]Bác yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828061 ngày 18/7/2003 do UBND huyện T ông Bùi Văn X(Đã đăng ký cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 328013 ngày 01/8/2023 cho ông Bùi Văn X11 biến động sang tên ông Nguyễn Ngọc C11).

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/10/2024 nguyên đơn bà Trần Thị T1 P10cáo yêu cầu được nhận ½ diện tích thửa 68, tờ bản đồ số 12A về hướng đông của thửa đất tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Tại phiên toà phúc thẩm:

-Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Trần Thị T1 P5 là ông

Lê Văn L1 nội dung kháng cáo.

-Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên (nay là Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của các bên đương sự; ý kiến về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc thửa đất số 68, tờ bản đồ số 12A (đo đạc năm 1995), tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú YênQua kiểm tra, đo đạc theo chỉ dẫn của nguyên đơn có diện tích 1.293,5m2. Căn cứ theo hồ sơ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Văn X12 tích 1.005m2, loại đất BHK.

[2]. Năm 2016, bà Bùi Thị X13 tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Bùi Văn X14 Thị N7tại các thửa 67, 68 tờ bản đồ 12A, tọa lạc tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú YênTại bản án sơ thẩm số 08/2021/DSST ngày 06/5/2021 của TAND tỉnh Phú Yên và bản án phúc thẩm số 236/2021/DSPT ngày 07/12/2021 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X2về việc “Buộc vợ chồng ông Bùi Văn X15 Nguyễn Thị N6ngày 15/8/2017) phải trả lại diện tích đất màu 1.005m2 tại thửa 68 và 200m2 đất ở tại thửa 67 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 828061 ngày 18/7/2003 do UBND huyện T cho ông Bùi Văn X”.

Tại phần nhận định của Bản án phúc thẩm số 236 thể hiện: “Tại “Giấy bán đứt đoạn đất thổ cư viết tay năm 1979 (bút lục 29) thể hiện bà T9(em cùng mẹ khác cha với ông X19nhượng cho ông X20đất có tứ cận: Đông giáp Tiểu khê và đất ông Nguyễn Đgiáp Tiểu K và đất bà Hồ Thị C12 mé biển ÔBắc giáp đất cụ Lê Thị D7 nay bà T2khẳng định lại việc Bđã chuyển nhượng đất cho ông X16 bà X2từ Nvề ở xin ông X22làm nhà và ở đến nay. Tại Giấy hứa quyền thừa kế đất thổ cư ghi ngày 20/6/1986 (bút lục 28) thể hiện cụ L4 X23tích đất "1 sào 5 thước tọa lạc xứ Đồng Trôi thuộc bộ AĐông giáp tiểu khê, Tây giáp đất Nguyễn Thị C4Nam giáp đất Lê Thị T2B1giáp hương lộ". Người làm chứng là ông Lê Xuân M1(ở gần nhà đất tranh chấp) xác nhận năm 2003 ông X24lại địa phương xây dựng nhà ở và canh tác trên đất (thừa 67, 68); năm 2007 ông M2 bà X2giấy tay xin ông X25dựng nhà ở trên thửa 67 kích thước (28m x 7m) = 196m², ông Lê Xuân M3 làm chứng. Đến năm 2011 ông X26giấy tặng cho bà X2196m² đất gắn liền nhà ở của bà X2như hiện nay, giấy ông M cụ L3ông Lê Xuân M2tên làm chứng”. Như vậy có căn cứ xác định, Quyền sử dụng đất đang tranh chấp có nguồn gốc của vợ chồng ông bà L4khi ông T5chết năm 1955, thì bà D2quản lý, sử dụng, cho bà Lê Thị T10, còn lại ½ cho ông Bùi Văn X17 hứa quyền thừa kế đất thổ cư ghi ngày 20/6/1986 (nhận định tại bản án phúc thẩm số 236).

[3]. Nguyên đơn căn cứ vào Giấy duy bằng và Hợp đồng thuê đất kéo ghe để xác định tài sản tranh chấp của bà Lê Thị C13 thừa kế từ mẹ Lê Thị D8dù, nội dung Giấy duy bằng thể hiện ông X16xác nhận tài sản của bà Lê Thị C14 thực tế ông X3người trực tiếp quản lý, sử dụng, và đã được UBND huyện Tcấp giấy chứng nhận, xác lập quyền sử dụng đất cho ông XTrong Giấy duy bằng không có ý kiến của bà D2về việc thay thế, hủy bỏ Giấy hứa quyền thừa kế đất thổ cư ghi ngày 20/6/1986. Như vậy, Giấy hứa quyền thừa kế đất thổ cư ghi ngày 20/6/1986 do bà D2lập vẫn đang còn giá trị pháp lý. Mặt khác, ngày 24/5/2023, ông Bùi Văn X18 đề nghị cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được UBND huyện Tcấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 328013 ngày 01/8/2023 thuộc thửa đất số 523, tờ bản đồ 21 (cũ là thửa 68, tờ bản đồ 12A) với diện tích 1.005m2 tại thôn P, xã A, huyện T chứng nhận QSD đất thì 1.005m2 đất ông X28cấp có 502,5m2 đất là do công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất và 502,5m2 đất là nhận thừa kế đất được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ nêu trên cũng như trình bày của các bên đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.

[4]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị T1 P11Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng; giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên (nay là Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk).

[5]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần Thị T1 P5 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[6]. Những nội dung khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

1.Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị T1 P12nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên (nay là Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk).

2.Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

-Bà Trần Thị T1 P5 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004489 ngày 09/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đ).

3.Những nội dung khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên (nay là Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk) không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4.Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

34
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 27/2025/DS-PT ngày 06/08/2025

Số hiệu:27/2025/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/08/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về