Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 36/2025/DS-ST ngày 29/09/2025

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 36/2025/DS-ST NGÀY 29/09/2025 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ HUỶ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 349/2022/TLST- DS ngày 22 tháng 12 năm 2022, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 09 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 27/2025/QĐST-DS ngày 18/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà H’ B  M, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Lê Duy B, sinh năm 1977 (có mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn E, xã E, tỉnh Đắk Lắk)

- Bị đơn: Bà H’ N  M, ông Y D Ê Ban (còn gọi là Y B Êban) ( có mặt).

Ông Y Kh  M (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

Người phiên dịch cho bà H’ N  M và ông Y D Ê Ban có ông Y Th Êban.

Địa chỉ: Buôn T, xã E tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Y Đ Niê (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Bà H-D  M (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) Cùng địa chỉ: Buôn T, xã E tỉnh Đắk Lắk.

+ Uỷ ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng: chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)

- Người làm chứng: Ông Y B  M.

Địa chỉ: Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 14/02/2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà H’ B  M và người đại diện theo uỷ quyền là ông Lê Duy B trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 183, tờ bản đồ số 08, diện tích 560m2 toạ lạc tại buôn T, xã E (sau đây gọi tắt là thửa đất số 183) là một phần đất nằm trong diện tích khoảng 4000m2 trước đây do ông Y H  M, tên thường gọi Ama Mrĭm (là chồng của bà H’ J Êban) sử dụng, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 1990 ông Y H  M chết thì bà H’ J Êban tiếp tục sử dụng, năm 1994 thì xãy ra tranh chấp với bà H’ B  M (tên thường gọi Amĭ Khoan). Tại biên bản hoà giải ngày 04/8/1994, gia đình bà H’ J Êban và bà H’ B  M đã thoả thuận: Giao cho bà H’ B  M được sử dụng khoảng 2,5 sào và giao cho bà H’ J Êban được sử dụng 1,5 sào. Sau khi hoà giải thì hai gia đình đã tiến hành phân chia, lập ranh giới sử dụng, sau đó bà H’ J đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất đã được chia cho người khác, còn bà H’ B thì tiếp tục sử dụng 2,5 sào đất đã được chia được một thời gian thì bà H’ B chuyển nhượng một phần đất cho ông V, phần còn lại là thửa đất 183 tờ bản đồ số 08 có diện tích 560m2 gia đình bà H’ B đã tiến hành xây nhà ở ổn định từ năm 1994 cho đến nay không có tranh chấp.

Đến năm 2009 bà H’ J Êban tiến hành làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V đối với phần diện tích đất mà gia đình bà H’ J và bà H’ B đã bán cho ông V trước đó, phần đất còn lại là thửa đất số 183 diện tích 560m2 thì bà H’ B tiếp tục kê khai và được Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện E cấp giấy chứng nhận quyền sử đất số AP 481xxx ngày 01/12/2009 đứng tên bà H’ J. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H’ J đã giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên cho bà H’ B quản lý. Đến năm 2010 khi bà H’ B chưa kịp làm thủ tục sang tên đất cho mình thì bà H’ J chết. Bà H’ B đã yêu cầu hàng thừa kế thứ nhất là các con của bà H’ J là chị H’ N  M, anh Y Kh  M, anh Y D Êban làm thủ tục sang tên Thửa đất số 183 cho bà H’ B nhưng họ không đồng ý, do đó bà H’ B  M có đề nghị buôn T, và UBND xã E giải quyết nhưng không thành.

Vì vậy bà H’ B  M khởi kiện yêu cầu: Công nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 183 cho bà H’ B  M.

Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/7/2023 nguyên đơn bà H’ B  M yêu cầu: Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 481xxx của UBND huyện E cấp cho bà H’J Êban ngày 01/12/2009 đối với thửa đất số 183, tờ bản đồ số 18, diện tích 560m2 Tại Buôn T, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà H’ N  M, ông Y Kh  M, ông Y D Ê Ban trình bày: Bà H’ N  M, ông Y Kh  M và ông Y D Ê Ban là con của ông Y H  M (chết năm 1990) và bà H’ J Êban (chết 2010), ngoài ra thì hàng thừa kế thứ nhất của bà H’ J Êban và ông Y H  M không còn ai khác.

Về nguồn gốc đất tranh chấp: Vào khoảng năm 1983 bố mẹ chúng tôi khai hoang, sử dụng khoảng 4000m2 đất tọa lạc tại Buôn T, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Năm 1990, ông Y H  M chết, đến năm 1994 thì bà H’ B có tranh chấp thửa đất trên, theo phong tục tập quán của người Ê Đê thì khi bố chúng tôi qua đời để lại một phần tài sản cho họ hàng, cụ thể bà H’ B  M là cháu họ của ông Y H, nên ngày 04/08/1994, hai bên có lập biên bản hòa giải bằng tiếng Ê Đê đã thống nhất giao lại 2.500m2 cho gia đình bà H’ B  M quản lý sử dụng, còn 1.500m2 giữ lại cho gia đình chúng tôi quản lý sử dụng. Sau đó gia đình chúng tôi đã chuyển nhượng phần đất 1.500m2 cho người khác đồng thời đã bàn giao lại phần đất khoảng 2.500m2 cho gia đình bà H’ B sử dụng ổn định từ đó đến nay. Đến năm 2009 bà bà H’ J làm thủ tục giấy tờ sang tên cho ông V (là người nhận chuyển nhượng đất của gia đình tôi và gia đình bà H’ B trước đó), phần còn lại là thửa đất số 183, tờ bản đồ số 08 điện tích 560m2 vẫn đứng tên bà H’ J nhưng đây là phần đất đã chia cho bà H’ B sử dụng từ năm 1994 nên bà H’ J đã bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho bà H’ B quản lý.

Trong quá trình sử dụng đất gia đình bà H’ B có chuyển nhượng cho người khác 2 lần đối với thửa đất được chia, lúc đó bà H’ J còn sống thì bà H’ J đều đồng ý làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giúp bà H’ B để chuyển nhượng cho ông V. Sau hai lần chuyển nhượng thì phần đất còn lại của gia đình bà H’ B sử dụng là thửa đất số 183 nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên bà H’ J. Trong quá trình sử dụng đất gia đình bà H’ B đã tiến hành xây dựng nhà ở ổn định từ năm 1994 đến nay, khi xây dựng nhà ở và các công trình trên đất gia đình chúng tôi đều biết và không có ý kiến phản đối. Các bị đơn đều thừa nhận thửa đất số 183 thuộc quyền sử dụng đất của bà H’ B, nhưng do hiện nay hai bên gia đình đang xảy ra mâu thuẩn nên các bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các bị đơn chỉ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn khi nguyên đơn hỗ trợ cho phía bị đơn số tiền 300.000.000 đồng thì bị đơn sẽ hỗ trợ làm các thủ tục để sang tên cho bà H’ B đối với thửa đất nói trên.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Y Đ Niê và chị H-D  M trình bày: anh Y Đ Niê và chị H-D  M là con ruột và con dâu của bà H’ B, Hiện nay anh chị đang sinh sống cùng với bà H’ B trên thửa đất số 183, tờ bản đồ số 08. Anh chị đều thống nhất như lời trình bày của phía nguyên đơn và đề nghị Toà án xem xét giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND huyện E và người thừa kế quyền và nghĩa vụ của UBND huyện Ea Kar là chủ tịch UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk nhưng đều vắng mặt nên Toà án không tiến hành ghi nhận được ý kiến.

- Người làm chứng ông Y B  M trình bày: ông là chồng của bà H’ N  M từ năm 1991 nên ông biết nguồn gốc thửa đất số 183 là một phần diện tích nằm trong 4.000 m2 mà trước đây của ông Y H  M và bà H’ J Êban sử dụng. Khoảng năm 1994 ông có mượn lại toàn bộ thửa đất này để canh tác. Trong thời gian ông đang canh tác thì có xãy ra tranh chấp với bà H’ B, sau đó hai bên đã thoả thuận phân chia giao cho bà H’ B  M được sử dụng khoảng 2,5 sào và giao cho bà H’ J Êban được sử dụng 1,5 sào. Trên phần đất chia cho bà H’ B thì ông đã trồng 26 cây cà phê nên gia đình bà H’ B đã bồi thường cho tôi số tiền 200.000 đồng và ông đã trả lại đất cho bà H’ B sử dụng từ năm 1994 đến nay, trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Phần tranh luận: Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà H’ B là ông Lê Duy B trình bày: Thửa đất số 183 được bà H’ J Êban giao cho bà H’ B sử dụng, xây dựng nhà ở và các công trình kiên cố trên đất từ năm 1994 đến nay không có ai tranh chấp. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: công nhận thửa đất Thửa đất số 183, tờ bản đồ số 18, diện tích 560m2 thuộc quyền sử dụng của bà H’ B và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 481xxx đối với thửa đất số 183, tờ bản đồ số 18, diện tích 560m2 do Uỷ ban nhân dân huyện E cấp cho bà H’J Êban ngày 01/12/2009.

Bị đơn chị H’ N  M, anh Y B Êban tranh luận: Bị đơn thừa nhận thửa đất 183 có nguồn gốc là của bố mẹ bị đơn nhưng đã được giao cho bà H’ B sử dụng từ năm 1994 đến nay hai bên không có tranh chấp. Tuy nhiên phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì hiện nay hai gia đình đang có mâu thuẩn nên không đồng ý làm thủ tục sang tên cho bị đơn và bị đơn chỉ đồng ý làm thủ tục sang tên cho nguyên đơn với điều kiện nguyên đơn phải hỗ trợ cho bị đơn số tiền 300.000.000 đồng.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk - Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm; việc chấp hành pháp luật của các đương sự khi tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Đối với nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn, bị đơn chị H’ N  M, anh Y D Ê Ban và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh anh Y Đ Niê và chị H-D chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Đối với bị đơn anh Y Kh  M, người thừa kế quyền và nghĩa vụ của UBND huyện E là chủ tịch UBND xã E không thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS.

- Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 221, khoản 7 Điều 237 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ khoản 3 Điều 36 của Luật đất đai năm 1993; Điều 166, khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H’ B  M: Công nhận quyền sử dụng thửa đất số 183, tờ bản đồ số 08, diện tích 560m2, địa chỉ thửa đất Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk cho bà H’ B  M và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 481xxx đối với thửa đất số 183, tờ bản đồ số 18, diện tích 560m2 do Uỷ ban nhân dân huyện E cấp cho bà H’J Êban ngày 01/12/2009.

Bà H’ B  M được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất và thực hiện các nghĩa vụ về tài chính theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phần trình bày của nguyên đơn, bị đơn, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định đây là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và các điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1, khoản 3 Điều 2 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án thì Tòa án nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Y Kh  M, Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện E là chủ tịch UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai; anh Y Đ Niê và chị H-D  M có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 183.

[3.1.] Xét về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận thửa đất thửa đất số 183, tờ bản đồ số 18, diện tích 560m2 toạ lạc tại Buôn T, xã E nằm trong phần diện tích đất khoảng 2.500m2 do gia đình bà H’ B  M sử dụng từ năm 1994 theo biên bản hoà giải ngày 04/8/1994. Sau khi hoà giải thì hai bên tiến hành phân chia, lập ranh giới sử dụng đất và gia đình bà H’ J đã bàn giao cho bà H’ B sử dụng diện tích đất 2500m2, gia đình bà H’ B đã tiến hành xây nhà và sử dụng ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp.

[3.2]. Mặc dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên bà H’ J nhưng Bà H’ J đã thừa nhận quyền sử dụng đất là của bà H’ B được thể hiện tại biên bản hoà giải ngày 04/8/1994; trong quá trình sử dụng đất khi bà H’ B chuyển nhượng cho ông V thì bà H’ J là người trực tiếp làm thủ tục chuyển nhượng giúp bà H’ B mà không đưa ra bất cứ điều kiện nào. Mặt khác gia đình bà H’ B đã nhận đất sử dụng đã hơn 30 năm, đã tiến hành xây dựng nhà ở trên đất nhưng phía bị đơn biết nhưng không có ý kiến phản đối, không có tranh chấp. Quá trình giải quyết vụ án các bị đơn đều thừa nhận quyền sử dụng thửa đất số 183 là của nguyên đơn, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.3]. Xét ý kiến của các bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do giữa nguyên đơn với các bị đơn có mâu thuẫn với nhau, các bị đơn chỉ đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn nếu nguyên đơn hỗ trợ bị đơn 300.000.000 đồng là không hợp lý. Mặt khác các bị đơn không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở pháp luật.

[4]. Xét yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 481xxx đối với thửa đất số 183, tờ bản đồ số 18, diện tích 560m2 do UBND huyện E cấp cho bà H’J Êban ngày 01/12/2009, HĐXX thấy rằng: Tại thời điểm UBND huyện E cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 183 cho Bà H’ J thì thửa đất 183 đang được bà H’ B sử dụng, xây nhà ở ổn định trên đất, qúa trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H’ J, UBND huyện E không xác minh ai là người đang sử dụng đất là không đảm bảo về trình tự thủ tục cấp đất, dẫn đến việc cấp sai đối tượng sử dụng đất. Mặt khác do công nhận quyền sử dụng đất cho bà H’ B nên cần thiết phải huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 481xxx đối với thửa đất số 183, tờ bản đồ số 18, diện tích 560m2 do Uỷ ban nhân dân huyện E cấp cho bà H’J Êban ngày 01/12/2009 là phù hợp.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 183, tờ bản đồ số 08 cho bà H’ B  M đồng thời huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 481xxx đối với thửa đất số 183, tờ bản đồ số 18, diện tích 560m2 do Uỷ ban nhân dân huyện E cấp cho bà H’J Êban ngày 01/12/2009 là có căn cứ pháp luật.

[4]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp các khoản chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 800.000 đồng; tiền chi phí định giá là 1.200.000 đồng và tiền chi phí đo đạc là: 2.000.000 đồng và Toà án đã chi phí hết. Tại phiên toà phía nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ 4.000.000 đồng các chi phí nói trên nên cần chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên buộc bị đơn ông Y Kh  M và ông Y D Ê Ban mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Đối với bà H’ N  M thuộc diện hộ cận nghèo, có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí dân sự không có giá ngạch cho bà H’ N  M. Bà H’ B  M được miễn tiền tạm ứng án phí nên không xem xét giải quyết.

[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- tại phiên toà là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 35, các điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165; Điều 266, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 1, khoản 3 Điều 2 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp Người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại

- Căn cứ Căn cứ khoản 2 Điều 221, khoản 7 Điều 237 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ khoản 3 Điều 36 của luật đất đai năm 1993; Điều 166, khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

- Căn cứ Điều 12; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Công nhận cho bà H’ B  M được quyền sử dụng thửa đất số 183, tờ bản đồ số 8, diện tích 560m2 (trong đó 200m2 đất ở tại nông thôn và 360m2 đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thửa đất Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Thửa đất có số đo, vị trí tứ cận: Phía Đông giáp đất bà H’ B  M cạnh dài 56m; phía Tây giáp đất ông Phạm Văn V cạnh dài 56m; phía Nam giáp đất H’ B  M cạnh dài 10m; phía Bắc giáp đường đi dài 10m.

- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 481xxx, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H18XXX của UBND huyện E cấp cho bà H’J Êban ngày 01/12/2009 đối với thửa đất số 183, tờ bản đồ số 18, diện tích 560m2 Tại Buôn T, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

- Bà H’ B  M được quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất và thực hiện các nghĩa vụ về tài chính theo quy định.

2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và chi phí đo đạc: Ghi nhận việc nguyên đơn bà H’ B  M tự nguyện chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và chi phí đo đạc là 4.000.000 (Bốn triệu đồng), nguyên đơn đã nộp đủ và Toà án đã chi phí hết nên không đề cập giải quyết.

3. Về án phí: Buộc bị đơn ông Y Kh  M và ông Y D Ê Ban mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Đối với bà H’ N  M thuộc diện hộ cận nghèo, có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí dân sự không có giá nghạch cho bà H’ N  M.

Bà H’ B  M được miễn tiền tạm ứng án phí nên không xem xét giải quyết.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

81
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 36/2025/DS-ST ngày 29/09/2025

Số hiệu:36/2025/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/09/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về