Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 920/2023/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 920/2023/DS-PT NGÀY 07/09/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong ngày 24/8/2023, ngày 07/9/2023 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã mở phiên tòa xét xử công khai đối với vụ án dân sự phúc thẩm đã thụ lý số 207/2023/TLPT-DS ngày 25/5/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 115/2023/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2666/2023/QĐPT-DS ngày 05/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 10552/2023/QĐ-PT ngày 07/8/2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 11442/2023/QĐPT-DS ngày 24/8/2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4038/2023/QĐPT-DS ngày 07/9/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm: 1922 (chết năm 2016) Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:

1.1. Bà Trần Thị T, sinh năm: 1960 (có mặt) 1.2. Bà Trần Thị L, sinh năm: 1956 (Có Đơn xin vắng mặt ngày 05/7/2019) Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.3. Bà Trần Thị N, sinh năm: 1963

1.4. Bà Trần Thị P, sinh năm: 1965

1.5. Bà Trần Thị C, sinh năm: 1973 (Có Đơn xin vắng mặt ngày 19/11/2018)

Địa chỉ: Số F N, ấp N, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.6. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1967 Người đại diện theo ủy quyền của bà N, P, L1: Bà Trần Thị T (có mặt) Theo Giấy ủy quyền số 17, 19 ngày 19/01/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy ủy quyền số 024624 ngày 20/7/2022 tại Văn phòng C1.

Địa chỉ: Số 785 Nguyễn Thị R, ấp C, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.7. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1959 (chết năm 2021) Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H:

1.7.1. Bà Nguyễn Hải Y, sinh năm: 1986; (Có đơn xin vắng mặt 25/4/2022) 1.7.2. Ông Nguyễn Hữu P1, sinh năm: 1991 Cùng địa chỉ: Số nhà C đường T, Ấp M, xã T, huyện C, Thành phố tiếp tục Hồ Chí Minh.

1.7.3. Bà Nguyễn Thị Tố N1, sinh năm: 1989 Địa chỉ: 3 đường V, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông P1, bà N1 có Đơn xin vắng mặt 11/7/2022).

- Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm: 1935.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm: 1967 (có mặt) Địa chỉ: Số E đường N, Tổ E, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Giấy ủy quyền ngày 20/8/2009, số chứng thực 269 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Huỳnh Thị Ê, sinh năm: 1940 (chết năm 2021).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Ê:

1.1. Ông Trần Văn T1, sinh năm: 1935;

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Huỳnh Thị D, sinh năm: 1967 (có mặt) Theo Giấy ủy quyền ngày 20/8/2009, số chứng thực 269 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.2. Bà Huỳnh Thị D, sinh năm: 1967 (có mặt) 1.3. Bà Trần Hoàng L2, sinh năm: 1979 (vắng mặt) 2. Bà Huỳnh Thị D, sinh năm: 1967 (có mặt) 3. Bà Trần Hoàng L2, sinh năm: 1979 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: Số E đường N, Tổ E, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Ông Trần Văn Đ1, sinh năm: 1966 (có mặt tại phiên tòa ngày 24/8/2023, vắng mặt tại phiên tòa ngày 07/9/2023).

Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C (vắng mặt) Địa chỉ: Số G Tỉnh lộ 8, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh Địa chỉ: Số G Tỉnh lộ 8, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh P2 (vắng mặt) Theo Giấy ủy quyền số 1500/UQ-UBND ngày 25/02/2022.

Do có kháng cáo của: Bà Huỳnh Thị D - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn T1, Đơn kháng cáo để ngày 10/4/2023, nội dung kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 16/5/2007, đơn khởi kiện bổ sung ngày 23/7/2010 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Đ trình bày:

Nguyên trước đây, ông nội bà là ông Trần Văn G (đã chết) có đứng bộ 02 thừa ruộng tại ấp B, xã N, huyện C khoảng 01 ha. Vào khoảng năm 1990, chú ruột bà là ông Trần Văn N2 có đứng ra đại diện thân tộc chia số diện tích đất nói trên thành 05 phần cho con cháu: Bà Trần Thị G1 (con ruột ông G); ông Trần Văn Q (con ruột ông G); ông Trần Văn Đ1 (cháu nội ông G); ông Trần Văn N2 (con ruột ông G); ông Trần Văn S (con ruột ông G). Bà Đ được hưởng thừa kế của cha là Trần Văn S tại thừa đất 440 vì khi đo đạc có ông Trần Văn Đ1 đứng ra kéo dây đo đất cắm nọc ranh đất rõ ràng để lại cho bà. Từ năm 1990 đến năm 1991, bà có cho ông Võ Văn L3 thuê thừa đất này và làm giấy hợp đồng thuê đất từ năm 1991 đến năm 1995 là hết hạn, ông L3 trả lại đất cho bà tiếp tục canh tác, quản lý, sử dụng nhưng ông T1 đã lợi dụng đất chia cho bà chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T1 đã đăng ký không trên phần đất của bà. Đến năm 2006, bà có đi đo đạc để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện ông T1 đã đăng ký kê khai phần đất của bà trong khi bà không ký chuyển nhượng hay ký giáp ranh cho ông T1.

Phần đất của bà giữ nguyên sử dụng, còn 04 phần đất kia bán cho ông Trần Văn T1. Ông T1 canh tác, sản xuất lấn qua phần đất của bà do thời điểm đó bà chưa canh tác. Bà có quản lý sử dụng phần đất diện tích 6.412m² tại thửa 436 và diện tích 3.124m² tại thửa 440 do ông bà để lại được chia cho bà sử dụng. Vì hoàn cảnh đơn chiếc khó khăn nên chưa có điều kiện đăng ký quyền sử dụng đất cho đến năm 2006 bà đi đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C thì phát hiện trên thửa 440 do bà quản lý sử dụng bị ông Trần Văn T1 là bà con thân tộc đã đăng ký.

Bà Trần Thị T là đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị Đ (chết năm 2016) trình bày:

Theo đơn khởi kiện, bà Trần Thị Đ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết buộc ông Trần Văn T1 phải trả lại quyền sử dụng đất diện tích 700m² thuộc một phần thửa 440, tờ bản đồ số 5; đất tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi đo đạc sơ bộ, bà Đ khởi kiện bổ sung yêu cầu ông T1 trả lại diện tích đất 1.300,26m² (đã hòa giải lại tại Ủy ban nhân dân xã N) thì năm 2016 bà Đ chết. Sau khi có kết quả đo đạc theo Bản đồ hiện trạng vị trí của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/8/2019 thì diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 1.211,9m².

Ngày 29/12/2021, bà là người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng bà Đ có làm Đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết:

1/ Buộc ông Trần Văn T1 phải trả lại cho bà Trần Thị Đ quyền sử dụng đất diện tích 1.211,9m² tại phần chiết thửa 79-1; 82-1: 83-1, thuộc tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo tài liệu 2004).

2/ Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phát hành số: 139/QSDĐ ngày 02/11/1994 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T1 dựa trên cơ sở ông T1 nhận chuyển nhượng lại của ông Trần Văn N2. Theo Giấy sang nhượng hoa màu và giao quyền sử dụng ruộng đất ký ngày 14/4/1992 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N, huyện C chỉ có 4 người gồm bà Trần Thị G1, ông Trần Văn Q (chết), ông Trần Văn N2 và ông Trần Văn Đ1 đồng ý chuyển nhượng cho ông Trần Văn T1 nhưng bà Trần Thị Đ không đồng ý chuyển nhượng cho ông Trần Văn T1 và không ký tên trong Giấy sang nhượng hoa màu và giao quyền sử dụng ruộng đất ký ngày 14/4/1992.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án bà phát hiện ông Trần Văn T1 đã làm tờ có mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phát hành số 139/QSDĐ ngày 02/11/1994 nhưng những người kế thừa của bà Đ không hề hay biết Ủy ban nhân dân xã N đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai việc ông T1 mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên.

Sau đó, ông Trần Văn T1 đã được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03517 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 19/8/2014 (cấp lại từ giấy chứng nhận từ giấy chứng nhận số 139/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 02/11/1994) với diện tích 3.295,1m² thuộc thửa đất số 925, tờ bản đồ số 54, Bộ địa chính xã N (tài liệu kỹ thuật số). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi đã gộp các thửa đất số 234, 235, 236, 237, 238 thành thửa 925, tờ bản đồ số 54 và cập nhật ranh dự án Trạm biến áp 220kV C và dự án đường dây đấu nối 110Kv Bàu Đưng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03518 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 19/8/2014 (cấp lại giấy chứng nhận từ giấy chứng nhận số 139/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 02/11/1994) với diện tích 2.646,3m² thuộc thửa đất số 550, tờ bản đồ số 48, Bộ địa chính xã N (tài liệu kỹ thuật số). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi đã gộp các thửa đất số 77, 78, 79, 82, 83 thành thửa 550, tờ bản đồ số số 48 và cập nhật ranh dự án Trạm biến áp 220kV C và dự án đường dây đấu nối 110Kv Bàu Đưng.

Ngày 19/7/2022, bà có Đơn bổ sung Đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 29/12/2021 như sau:

1/ Giữ nguyên yêu cầu buộc ông Trần Văn T1 phải trả lại cho bà Trần Thị Đ quyền sử dụng đất diện tích 1.211,9m² tại phần chiết thửa 79-1; 82-1; 83-1, thuộc tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (theo tài liệu 2004).

Bổ sung yêu cầu được nhận tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ là 112.875.683 đồng mà phần đất bị thu hồi diện tích bị ảnh hưởng bởi dự án đầu tư xây dựng công trình Trạm biến áp 220Kv là 345,4m² thuộc một phần các thửa 82, 83, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N do nằm trong phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của bà Trần Thị Đ.

2/ Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03517 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 19/8/2014 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03518 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 19/8/2014.

Chứng cứ cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gồm:

- Ông Trần Văn Đ1 là người đứng ra đo đạc cùng ông N2 để cùng bán đất cho ông T1;

- Ông Võ Văn L3 là người mướn đất và canh tác đất của bà Đ;

- Công văn trả lời của Trung tâm thông tin Tài nguyên - Môi trường và đăng ký nhà đất Thành phố H;

- Các biên bản hòa giải cơ sở tại Ban N5 và các biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C đều yêu cầu ông T1 trả lại đất cho bà Đ.

Trong vụ án này phía nguyên đơn đã nhiều lần nộp tiền tạm ứng chi phí đo vẽ vị trí hiện trạng đất tranh chấp, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp nên không nhớ đã nộp chi phí tạm ứng số tiền bao nhiêu. Vì vậy, phía nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đo vẽ vị trí hiện trạng đất tranh chấp, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp.

Bị đơn ông Trần Văn T1 trình bày:

Nguyên vào tháng 8/1992, ông có mua lại thừa ruộng số 436 và 440 thuộc tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C do ông Trần Văn N2 đứng ra ký bán cho ông. Khi mua đất ông và ông N2 có lập giấy sang nhượng và giao quyền sử dụng đất, trong giấy này có Trưởng ban nhân dân ấp Bầu Tròn và Phó Chủ tịch xã N xác nhận ký tên đóng dấu rõ ràng. Sau đó, cán bộ địa chính xã có đến đo đạc với sự chứng kiến của bà Trần Thị Đ (là người có đất giáp ranh với thừa ruộng ông mua) và ông đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139 với diện tích 7.670m². Từ đó đến nay ông đã canh tác trên thừa ruộng này và hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp cho Nhà nước. Đến tháng 6/2006, bà D đến nhà ông chửi mắng ông là lấn đất của bà D nên ông rất bất bình vì từ ngày mua đất đến nay đã mấy mươi năm rồi ông vẫn canh tác trên thừa ruộng này đúng với ranh và bờ ruộng đã mua.

Bà Huỳnh Thị D là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Huỳnh Thị Ê, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà D không đồng ý yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bổ sung yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, yêu cầu Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và các bên cung cấp để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Bà D cam kết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03517 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03518 cùng ngày 19/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 (cấp lại 02 giấy chứng nhận từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 02/11/1994) hiện tại ông Trần Văn T1 quản lý cất giữ và không cầm cố tặng cho, chuyển nhượng mua bán, hay thế chấp, thừa kế cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Bà Huỳnh Thị Ê, sinh năm 1940, mất theo giấy chứng từ số 01 ngày 04/01/2021. Bà Ê có chồng là Trần Văn T1, có cha ruột là Huỳnh Văn L4 chết năm 1995 và mẹ ruột là Lê Thị M chết khoảng năm 2003 (không nhớ rõ). Bà Ê, ông T1 có 02 người con chung là bà Huỳnh Thị D và bà Trần Hoàng L2, không có con riêng.

Bà Trần Hoàng L2 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Huỳnh Thị Ê, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà L2 là con ruột của ông Trần Văn T1 và bà Huỳnh Thị Ê, em ruột của Huỳnh Thị D. Bà L2 thống nhất với lời khai của ông T1, bà D, không bổ sung gì và xin xét xử vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn H (chết năm 2021) là ông Nguyễn Hữu P1, bà Nguyễn Thị Tố N1 và bà Nguyễn Hải Y thống nhất trình bày:

Ông P1, bà N1 là con ruột của ông Nguyễn Văn H (chết năm 2021) và bà Nguyễn Thị B (chết năm 2011). Ông H, bà B có 03 người con chung Nguyễn Hải Yến, Nguyễn Thị Tố N1 và Nguyễn Hữu P1, không có con riêng. Ông H là con ruột của bà Trần Thị Đ. Trước đây, ông H đã ủy quyền cho bà Trần Thị T. Vì vậy ông P1, bà N1 thống nhất nội dung đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai của bà D và bà T, không có ý kiến, nếu sau này có tranh chấp thì sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ1, theo nội dung lời khai trong quá trình giải quyết trình bày thể hiện:

Vào năm 1991, ông Trần Văn N2 gọi ông Đ1 về tại ấp B, xã N, huyện C để chia đất của ông G để lại làm 05 phần cho 05 người con Trần Thị G1, Trần Văn S (chết), Trần Văn Q (chết), Trần Văn Q1 (chết), Trần Văn N2.

Sau đó, ông N2 bán cho ông Trần Văn T1 số ruộng tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C với diện tích khoảng 01 ha chia ra làm 05 phần bán cho ông T1 diện tích 04 phần tức là 04 người bán còn 01 phần của ông Trần Văn S để lại cho người con Trần Thị Đ hưởng 01 phần từ hàng tre trở lên tức là 02 đám ruộng và 01 cái nền nhà của bà D với số vàng 1.2 chỉ vàng 09 tuổi rưỡi. Ông Đ1 và ông Trần Văn N2, bà Trần Thị G1 về tại ấp B bán cho ông T1 từ hàng tre trở xuống và ông Đ1 là người kéo dây do số ruộng trên.

Ông Đ1 là cháu nội ông Trần Văn Q1 được thỏa thuận phân chia thừa kế đất từ ông cổ Trần Văn G để lại chia thành 05 phần tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. 05 phần đất được chia đều nhau: Ông Trần Văn N2, bà Trần Thị G1 (đã chết); ông Trần Văn Q (đã chết); bà Trần Thị Đ và ông Đ1.

Vì hoàn cảnh cũng như không trực tiếp canh tác trên phần đất này nên 04 phần của ông Đ1, ông N2, ông Q, bà G1 đồng ý chuyển nhượng phần đất cho ông Trần Văn T1. Việc bán 04 phần đất trên do ông Đ1 và ông N2 trực tiếp do vẽ và chỉ rõ ràng ranh giới lấy hàng tre làm cột mốc; bán cho ông T1 là từ hàng tre trở xuống, còn đất của bà Đ từ hàng tre trở lên. Sau đó, ông T1 phá hàng tre không còn ranh giới phân cách giữa bà Đ và ông T1 nên phát sinh tranh chấp ở thời điểm hiện tại.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C trình bày:

Năm 1994, ông Trần Văn T1, địa chỉ tại ấp B, xã N, huyện C được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139/QSDĐ ngày 02/11/1994, diện tích là 7.670m², thuộc thừa 436, 436-1, 440, tờ bản đồ số 05 (tài liệu bản đồ 02/CT-UB); bộ địa chính xã N, huyện C.

Năm 2013, ông Trần Văn T1 có đơn có mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139/QSDĐ cấp ngày 02/11/1994. Năm 2014, ông Trần Văn T1 lập thủ tục Cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bị mất giấy. Cùng năm 2014, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 9093/QĐ-UBND ngày 14/8/2014 về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện C2 ngày 02/11/1994 cho ông Trần Văn T1 và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139/QSDĐ ngày 02/11/1994 thành 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03518 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 19/08/2014, diện tích là 2.646,3m², thuộc thừa 550, tờ bản đồ số 48 (tài liệu bản đồ kỹ thuật số); bộ địa chính xã N, huyện C.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03517 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 19/08/2014, diện tích là 3.295,1m², thuộc thừa 925, tờ bản đồ số 54 (tài liệu bản đồ kỹ thuật số); bộ địa chính xã N, huyện C.

Nguồn gốc, quá trình sử dụng và các tài liệu bản đồ qua các thời kỳ, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi liên hệ với Ủy ban nhân dân xã N để được cung cấp thông tin trên theo quy định của pháp luật. Đối với nội dung trình tự thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T1 có đúng quy định pháp luật hay không thì đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi căn cứ thông tin trên hồ sơ lưu trữ cung cấp để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Ủy ban nhân dân xã N, huyện C:

Phần đất diện tích 1.211,9m² thừa phân chiết 79-1, 82-1, 83-1; tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N, huyện C (theo Tài liệu năm 2004) tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh được Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thực hiện ngày 07/8/2019.

- Theo tài liệu trước năm 1975 thì hiện nay UBND xã N không còn lưu trữ.

- Theo tài liệu Chi thị 299/TTg thì khu đất thuộc thừa 440; tờ bản đồ số 5 do bà Trần Thị Đ kê khai.

- Theo Tài liệu Chi thị 02/CT-UB khu đất thuộc thừa 607, 623, 624; tờ bản đồ số 6 không có người kê khai.

- Theo Tài liệu bản đồ địa chính năm 2004 khu đất thuộc thừa 79, 82, 83 tờ 48 do ông Trần Văn T1 kê khai.

Về trình tự thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T1 có đúng quy định pháp luật hay không thì đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C hỗ trợ trích lục cung cấp để giải quyết theo quy định. Hiện tại **Ủy ban nhân dân xã không còn lưu trữ hồ sơ địa chính có liên quan đến việc cấp giấy đất, thu hồi giấy đất và cấp đổi giấy đất cho ông Trần Văn T1.

Ngày 15/12/2022, Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H - Chi nhánh huyện C Công văn số 1545/TAHCC ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi yêu cầu cung cấp thông tin về trình tự thủ tục cấp GCN QSDĐ cho ông Trần Văn T1 đối với diện tích 1.211,9m² tại thừa 79-1; 82-1; 83-1, thuộc tờ bản đồ số 48 (theo tài liệu 02), thuộc bộ địa chính xã N, huyện C: Không tìm thấy hồ sơ lưu trữ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C trình bày:

Ông Trần Văn T1 đã được Ủy ban nhân dân C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 139/QSDĐ ngày 02/11/1994 với diện tích 7.670m², bao gồm các thửa đất số 436, 436-1, 440, tờ bản đồ số 5 (theo tài liệu bản đồ 299). Theo tài liệu đo đạc năm 2004, phần đất nêu trên thuộc các thửa đất số 77, 78, 79, 82, 83, 234, 235, 236 237, 238, tờ bản đồ số 48, 54, bộ địa chính xã N, huyện C.

Phần đất nêu trên ảnh hưởng trong 02 dự án là: Trạm biến áp 220kV C và các đường dây 220-110kV đấu nối tại xã N và dự án Đường dây đấu nối 110kV Bàu Đưng tại xã A và xã N.

1. Về quá trình lập hồ sơ và chiết tính bồi thường, hỗ trợ cho ông Trần Văn T1 có đất ảnh hưởng trong dự án Trạm biến áp 220kV C và các đường dây 220-110kV đấu nối:

Trong dự án đầu tư xây dựng Trạm biến áp 220kV C và đường dây 220-110kV đấu nối, ông Trần Văn T1 bị ảnh hưởng với tổng diện tích 1.175,4m² thuộc một phần các thửa đất số 77, 78, 79, 82, 83, 234, 235, 236, 237, tờ bản đồ số 48 và 54 (tài liệu đo đạc năm 2004), bộ địa chính xã N. Ngày 22 tháng 3 năm 2012, Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C tổ chức kiểm kê hiện trạng phần đất ảnh hưởng dự án do ông Trần Văn T1 sử dụng và kê khai. Tuy nhiên sau đó bà Trần Thị Đ cung cấp thông tin thửa đất số 82, 83 đang tranh chấp và nộp bản phó tổ Quyết định số 15/2009/QĐXX ngày 03/3/2009 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Ngày 12/11/2012, Ủy ban nhân dân xã N ban hành giấy xác nhận nguồn gốc và thời gian sử dụng đất có nội dung xác nhận thửa đất số 82, 83 tờ bản đồ số 48 đang tranh chấp giữa ông Trần Văn T1 với bà Trần Thị Đ.

Căn cứ nội dung các tài liệu nêu trên, Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C đã lập thành 02 hồ sơ bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất ảnh hưởng trong dự án Trạm biến áp 220kV C và các đường dây 220-110kV đấu nối, cụ thể như sau:

a) Mã hồ sơ TBA-43:

Đối với hồ sơ này, Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C đã lập chủ sử dụng đất là: ông Trần Văn T1 (tranh chấp Trần Thị Đ), với diện tích ảnh hưởng là 345,4 m²/1.175,4m² thuộc một phần các thửa đất số 82, 83, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N.

Ngày 12/4/2013, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 3676/QĐ-UBND về việc thu hồi đất bị ảnh hưởng bởi dự án đầu tư xây dựng công trình Trạm biến áp 220kV C và các ĐDK 220-110kV đấu nối tại xã N, huyện C đối với ông Trần Văn T1, trong đó có nội dung: “tại Điều 1 thu hồi 345,4m² đất của ông Trần Văn T1 thuộc một phần các thửa đất số 82, 83 tờ bản đồ số 48, và xác định phần đất này hiện đang tranh chấp giữa ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị Đ”.

Ngày 09/7/2013, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 6752/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong dự án đầu tư xây dựng công trình Trạm biến áp 220kV C và các ĐDK 220-110kV đấu nối tại xã N, huyện C đối với ông Trần Văn T1, trong đó có nội dung: “tại Điều 1 xác định tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ là 112.875.683 đồng, phần đất này hiện đang tranh chấp giữa ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị Đ”. Do tranh chấp chưa được giải quyết nên số tiền bồi thường nêu trên đã được Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C gửi tiết kiệm tại Ngân hàng N6 Chi nhánh C3 cho đến nay.

b) Mã hồ sơ TBA-41:

Đối với hồ sơ này, Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C đã lập chủ sử dụng đất là: Ông Trần Văn T1, với diện tích ảnh hưởng là 830m²/1.175,4m², thuộc một phần các thửa đất số 77, 78, 79, 234, 235, 236, 237, tờ bản đồ số 48, 54 (tài liệu đo đạc năm 2004), bộ địa chính xã N.

Ngày 12/4/2013, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 3670/QĐ-UBND về việc thu hồi đất bị ảnh hưởng bởi dự án đầu tư xây dựng công trình Trạm biến áp 220kV C và các ĐDK 220-110kV đấu nối tại xã N, huyện C đối với ông Trần Văn T1.

Ngày 28/6/2013, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 6384/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong dự án đầu tư xây dựng công trình Trạm biến áp 220kV C và các ĐDK 220-110kV đấu nối tại xã N, huyện C đối với ông Trần Văn T1 với tổng số tiền 321.263.510 đồng.

Do phần diện tích 830m² ảnh hưởng trong dự án nêu trên không nằm trong phần đất tranh chấp với bà Trần Thị Đ, nên ngày 04/7/2013 Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện đã lập thủ tục chi trả số tiền bồi thường, hỗ trợ 321.263.510 đồng cho ông Trần Văn T1.

2. Về quá trình lập hồ sơ và chiết tính bồi thường, hỗ trợ cho ông Trần Văn T1 có đất ảnh hưởng trong dự án Đường dây đấu nối 110kV B:

Trong dự án đầu tư xây dựng Đường dây đấu nối 110kV Bàu Đưng tại xã A và xã N, huyện C, ông Trần Văn T1 bị ảnh hưởng với diện tích 508,9m² thuộc một phần các thửa đất số 77, 236, 237, 238, tờ bản đồ số 48, 54 (tài liệu đo đạc năm 2004), bộ địa chính xã N.

Ngày 01/12/2014, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 18089/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong dự án đầu tư xây dựng Đường dây đấu nối 110kV Bàu Đưng tại xã A và xã N, huyện C đối với ông Trần Văn T1 với tổng số tiền là 61.068.000 đồng.

Trong quá trình lập thủ tục chi trả tiền bồi thường, ông Trần Văn T1 liên hệ và cung cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất cụ thể như sau:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03517 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 19/8/2014 (cấp lại giấy chứng nhận từ Giấy chứng nhận số 139/QSĐĐ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 02/11/1994) với diện tích 3.295,1m², thuộc thửa đất số 925, tờ bản đồ số 54, bộ địa chính xã N (tài liệu bản đồ kỹ thuật số). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi đã gộp các thửa đất số 234, 235, 236, 237, 238 thành thửa đất số 925, tờ bản đồ số 54 và cập nhật ranh dự án Trạm biến áp 220kV C và dự án Đường dây đấu nối 110kV Bàu Đưng.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03518 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 19/8/2014 (cấp lại giấy chứng nhận từ Giấy chứng nhận số 139/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 02/11/1994) với diện tích 2.646,3m², thuộc thửa đất số 550, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N (tài liệu bản đồ kỹ thuật số). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi đã gộp các thửa đất số 77, 78, 79, 82, 83 thành thửa đất số 550, tờ bản đồ số 48 và cập nhật ranh dự án Trạm biến áp 220kV C và dự án Đường dây đấu nối 110kV Bàu Đưng.

Do hồ sơ kỹ thuật của các thửa đất ảnh hưởng trong dự án đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C kiểm định và có xác nhận với nội dung: “Đang có bản vẽ giải quyết tranh chấp với bà Trần Thị Đ”. Nên Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C phải chờ kết quả giải quyết tranh chấp về đất giữa ông Trần Văn T1 với Trần Thị Đ của cơ quan có thẩm quyền theo quy định, trước khi thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ.

Căn cứ theo quy định tại Điều 49 Quyết định số 35/2010/QĐ-UBND ngày 28/5/2010 của Ủy ban nhân dân Thành phố quy định về xử lý tiền bồi thường, hỗ trợ trong trường hợp có phát sinh tranh chấp, khiếu nại có nội dung: “Những trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở chi bồi thường hỗ trợ sau khi tranh chấp đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết bằng quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật. Trong khi chờ giải quyết tranh chấp và khiếu nại thì người bị thu hồi đất phải chấp hành di chuyển, giải phóng mặt bằng và giao đất đúng kế hoạch cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. Số tiền bồi thường, hỗ trợ đã được xác định, giao tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng liên hệ ngân hàng thương mại để mở số tiền gửi tiết kiệm theo hình thức lãi suất bậc thang cho người bị thu hồi đất; các số tiền gửi tiết kiệm này do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng quản lý. Khi người bị thu hồi đất đồng ý nhận tiền bồi thường, hỗ trợ thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập thủ tục chi trả số tiền bồi thường, hỗ trợ cộng với lãi suất phát sinh theo quy định”. Căn cứ quy định nêu trên, Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C đã gửi tiết kiệm số tiền bồi thường 61.068.000 đồng tại Ngân hàng N6 Chi nhánh C3 cho đến nay.

Nay đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi căn cứ theo các quy định của pháp luật để tiến hành giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị Đ và ông Trần Văn T1. Đại diện Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C xin phép được vắng mặt trong suốt quá trình xét xử vụ án. Sau khi bản án có hiệu lực người được công nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất bị ảnh hưởng dự án nêu trên liên hệ Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C để lập thủ tục chi trả bồi thường, hỗ trợ theo quy định.

Người làm chứng ông Trần Văn N3, theo nội dung lời khai thể hiện:

Ông N3 là con ruột của ông Trần Văn N2 xác nhận như sau: Vào năm 1992, trong thân tộc có chia 05 phần đất tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh chia cho Trần Thị G1, Trần Văn S, Trần Văn Q, Trần Văn Q1, Trần Văn N2. Phần đất của ông Trần Văn S để lại cho bà Trần Thị Đ không bán cho ông Trần Văn T1, chỉ bán 04 phần của những người còn lại từ bụi tre trở xuống.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị A, theo nội dung lời khai thể hiện: Năm 1992, trong thân tộc có chia 05 phần đất tọa lạc tại ấp B, xã N cho Trần Thị G1, Trần Văn S, Trần Văn Q, Trần Văn Q1, Trần Văn N2. Bà A là con ruột của bà Trần Thị G1 xác nhận: Thừa hưởng phần đất của ông Trần Văn S để lại là bà Trần Thị Đ từ bụi tre trở lên, từ năm 1992 đến nay không bán.

Người làm chứng ông Phạm Văn T2, theo nội dung lời khai thể hiện: Trước đây, nguyên vào năm 1992 ông T2 làm Trưởng Ban N5, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có ký xác nhận vào Giấy sang nhượng hoa màu và giao quyền sử dụng ruộng đất ngày 14/4/1992 giữa ông Trần Văn N2 với ông Trần Văn T1 khẳng định phần đất ruộng của bà Trần Thị Đ không có bán.

Người làm chứng bà Trần Thị P3, theo nội dung lời khai thể hiện: Trước đây, cha bà P3 tên là Trần Văn S có thừa hưởng của ông Trần Văn G một phần đất khoảng 2.000m² tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi ông S chết có để lại phần đất này cho 03 người con là Trần Thị Đ, Trần Thị P4 và Trần Thị P3. Bà P3 đồng ý tặng cho bà Trần Thị Đ toàn quyền sử dụng canh tác phần đất nói trên và có đơn xin vắng mặt.

Người làm chứng bà Trần Thị P4, theo nội dung lời khai thể hiện: Trước đây, cha bà P4 tên là Trần Văn S có thừa hưởng của ông Trần Văn G một phần đất khoảng 2.000m² tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi ông S chết có để lại phần đất này cho 03 người con là Trần Thị Đ, Trần Thị P3 và Trần Thị P4. Bà P4 đồng ý tặng cho bà Trần Thị Đ toàn quyền sử dụng canh tác phần đất nói trên và có đơn xin vắng mặt.

Người làm chứng ông Võ Văn L3, theo nội dung lời khai thể hiện: Phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mà bà Đ khởi kiện yêu cầu ông T1 trả lại là của bà Đ. Trước đây vào năm 1991, ông L3 có mướn số đất ruộng của bà Đ từ hàng tre trở lên 02 đám ruộng rồi tới nền nhà (từ hàng tre trở lên diện tích đất là 20 cao), có làm hợp đồng mướn đất. Sau khi canh tác thất mùa nên đến năm 1995 ông L3 không làm nữa, đề nghị ông T1 trả đất lại cho bà Đ.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn M1, theo nội dung lời khai thể hiện: Theo ông M1 biết, số đất của bà Trần Thị Đ ranh đất từ bụi tre trước đây bờ rào xã chiến đấu hồi chống Pháp mà cũng là mặt gác dân quân. Bây giờ bụi tre không còn nữa bị phá phi tang mất tích bụi tre.

Người làm chứng ông Trần Văn N4, theo nội dung lời khai thể hiện: Diện tích đất của bà Trần Thị Đ là từ bụi tre đến miếng ruộng trở lên nền nhà.

* Tại bản án số 115/2023/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

- Căn cứ vào Điều 5, khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các điều 165, 170, 256 và 688 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Căn cứ vào Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ vào các điều 50, 105, và 107 của Luật Đất đai năm 2003;

- Căn cứ vào Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ vào Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào Nghị định số 70-CP ngày 12 tháng 6 năm 1997 của Chính phủ quy định về Ấn phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu được nhận tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ là 112.875.683 đồng mà phần đất bị thu hồi, diện tích bị ảnh hưởng bởi dự án đầu tư xây dựng công trình Trạm biến áp là 345,4m² thuộc một phần các thửa 82, 83; tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N, huyện C.

Ông Trần Văn T1 được quyền liên hệ Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C để tiến hành thủ tục chi trả bồi thường, hỗ trợ cộng với lãi suất phát sinh theo quy định.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công nhận quyền sử dụng đất diện tích theo đo đạc thực tế 1.211,9 m² tại phân chiết thửa 79-1; 82-1; 83-1, thuộc tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu năm 2004) thuộc là tài sản của bà Trần Thị Đ khi còn sống (bây giờ là những người thừa kế của bà Đ). Được xác định theo Bản đồ hiện trạng vị trí bổ túc hồ sơ xin giải quyết tranh chấp do Trung tâm đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H lập ngày 28/6/2022. (Đính kèm theo) 3. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03517 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03518 cùng ngày 19/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 (cấp lại 02 giấy chứng nhận từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139/QSĐĐ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 02/11/1994).

- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BU 187557, số vào sổ cấp GCN: CH03517 ngày 19/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 đứng tên.

- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BU 187556, số vào sổ cấp GCN: CH03518 ngày 19/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 đứng tên.

Ông Trần Văn T1 có trách nhiệm giao cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03517 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03518 cùng ngày 19/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã được công nhận cho những người thừa kế của bà Trần Thị Đ như trên.

Trường hợp ông Trần Văn T1 không thực hiện việc giao cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì những người thừa kế của bà Trần Thị Đ được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành thủ tục sang tên phần đất đã được công nhận.

4. Án phí dân sự sơ thẩm là 50.000 đồng buộc ông Trần Văn T1 phải nộp.

- Hoàn trả cho những người thừa kế của nguyên đơn bà Trần Thị Đ:

+ Số tiền tạm ứng án phí là 262.500 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 009993, quyển số 0200 ngày 22/5/2007 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh;

+ Số tiền tạm ứng án phí là 1.362.825 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2011/00554 ngày 19/4/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Số tiền tạm ứng án phí là 2.822.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0045101 ngày 22/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bà Huỳnh Thị D - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn T1, Đơn kháng cáo để ngày 10/4/2023, nội dung kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bà Huỳnh Thị D - người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn T1, bà D đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người kế thừa quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Ê trình bày:

Bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì bị đơn ông Trần Văn T1 có quyền sử dụng đất diện tích theo đo đạc thực tế 1.211,9 m² tại phân chiết thửa 79-1; 82-1; 83-1, thuộc tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03517 và số CH03518 cùng ngày 19/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 (cấp lại 02 giấy chứng nhận từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 02/11/1994).

- Bà Trần Thị T - người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Trần Thị Đ, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của các bà Trần Thị N, Trần Thị P, Nguyễn Thị L1 trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

- Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật. Về hình thức đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên hợp lệ.

- Về nội dung vụ án đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, hủy một phần bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để giải quyết do: Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện áp ranh nên không có cơ sở xác nhận toàn bộ phần đất tranh chấp có thuộc giấy chứng nhận đã cấp cho ông T1 hay không, ngoài ra nhận định tại mục 2.2.1 của bản án sơ thẩm vẫn tuyên hủy giấy chứng nhận phần diện tích đất mà các bên không tranh chấp như vậy ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị D là người đại diện theo ủy quyền bị đơn ông Trần Văn T1 trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tố tụng:

Các đương sự: Trần Thị L, Trần Thị C, Nguyễn Thị Hải Y1, Nguyễn Hữu P1, Nguyễn Thị Tố N1, Trần Hoàng L2 có Đơn xin xét xử vắng mặt; Người đại diện hợp pháp của Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C và Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không rõ lý do, dù được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[3] Về nội dung kháng cáo:

[3.1] Xét thấy, phần diện tích đất theo đo đạc thực tế 1.211,9m² thửa phân chiết 79-1, 82-1, 83-1, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N (tài liệu năm 2004) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 ngày 02/11/1994. Nay thuộc một phần trong tổng diện tích đất 2.646,3m², thửa số 550, tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BU 187556, số vào sổ cấp GCN: CH03518 ngày 19/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận số CH03518). Tương ứng với các thửa phân chiết 607-1, 623-1, 624-1, thuộc tờ bản đồ thứ 06 (theo tài liệu 02/CT-UB); 440-1, thuộc tờ bản đồ thứ 05 (theo tài liệu 299/Ttg của TTCP); 237-1, 238-1, thuộc tờ bản đồ thứ 08 (theo tài liệu trước năm 1975) có nguồn gốc của ông Trần Văn G đứng bộ (theo sổ địa bộ trước năm 1975).

Sau giải phóng, phần diện tích đất trên do bà Trần Thị Đ đứng tên chủ sử dụng (theo sổ mục kê ruộng đất bộ sao chép tài liệu Chỉ thị 299/Ttg do Ủy ban nhân dân xã N lập ngày 08/10/1984 và Ủy ban nhân dân huyện C xét duyệt năm 1984) do bà Đ là người canh tác, quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 436 và thửa đất số 440, tờ bản đồ số 5, bộ địa chính xã N, huyện C đến khoảng năm 1991. Theo Điều 20 Hiến pháp 1980: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm. Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật” và Điều 1 Luật Đất đai 1987: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý ... Người đang sử dụng hợp pháp được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật này”. Như vậy phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị Đ khi còn sống.

Ngày 14/4/1992, ông Trần Văn N2, ông Trần Văn Đ1, bà Trần Thị G1 ký Giấy sang nhượng hoa màu và giao quyền sử dụng ruộng đất tại các thửa 436, 440 thuộc tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C cho ông Trần Văn T1. Ông Trần Văn G có 05 người con gồm: Ông Trần Văn Q (chết), ông Trần Văn N2, bà Trần Thị G1, ông Trần Văn Q1 (chết), ông Trần Văn S (chết) nhưng tại thời điểm chuyển nhượng chỉ ông N2, bà G1, ông Trần Văn Đ1 (cháu nội ông Q1) đứng ra giao dịch và ký tên trong giấy sang nhượng. Ông S có con là bà Trần Thị Đ đang quản lý, sử dụng một phần thửa đất số 440 không ký tên trong giấy sang nhượng là chưa đảm bảo đúng quy định tại Bộ luật dân sự 1995. Bị đơn cho rằng cán bộ địa chính xã có đến đo đạc với sự chứng kiến của bà Trần Thị Đ nhưng tuy nhiên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc bà Đ ký giáp ranh, bà Đ cũng không thừa nhận việc này. Ngoài ra, ngày 07/5/2013 ông Phan Văn L5 là cán bộ địa chính thời điểm đó xác nhận: “Hộ Trần Thị Đ ngụ T hiện đang sử dụng không có chuyển nhượng cho ai” (BL 320). Ngày 01/4/2014 Ủy ban nhân dân xã N, huyện C xác nhận: “Hộ bà Trần Thị Đ ngụ ấp B hiện sử dụng diện tích khoảng 2.000m² do ông bà để lại không có sang nhượng hay thế chấp” (BL 322). Vì vậy, lời trình bày của bị đơn là không có cơ sở xem xét.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào Điều 169, 170, 256, 688 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 50, 105, 107 Luật Đất đai 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003; Điểm b tiểu mục 2.4 mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở công nhận quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế diện tích 1.211,9m² tại phần chiết thửa 79-1; 82-1; 83-1, thuộc tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu năm 2004) thuộc là tài sản của bà Trần Thị Đ khi còn sống (bây giờ là những người thừa kế của bà Đ).

[3.2] Xét quá trình sử dụng đất của bà Đ và lời trình bày của đại diện chính quyền địa phương tại ấp, xã trong các buổi hòa giải cơ sở giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà Đ với ông T1, Công văn của Trung tâm T và đăng ký nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh. Do có sự thiếu sót trong việc kiểm tra, Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy 139/QSĐĐ ngày 02/11/1994 cho ông Trần Văn T1 đứng tên luôn cả phần đất 02 đám ruộng bằng diện tích 1.211,9m² theo đo đạc thực tế của bà Trần Thị Đ được hưởng. Năm 2013, ông Trần Văn T1 có đơn có mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139/QSĐĐ cấp ngày 02/11/1994. Năm 2014, ông Trần Văn T1 lập thủ tục Cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bị mất giấy. Cùng năm 2014, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 9093/QĐ-UBND ngày 14/8/2014 về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 139/QSĐĐ do Ủy ban nhân dân huyện C2 ngày 02/11/1994 cho ông Trần Văn T1 và cấp lại thành 02 giấy: Giấy chứng nhận số CH03518, diện tích 2.646,3m² tại thửa 550, thuộc tờ bản đồ số 48 (tài liệu bản đồ kỹ thuật số); bộ địa chính xã N, huyện C và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BU 187557, số vào sổ cấp GCN: CH03517 ngày 19/8/2014 (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận số CH03517), diện tích 3.295,1m² tại thửa 925, thuộc tờ bản đồ số 54 (tài liệu bản đồ kỹ thuật số); bộ địa chính xã N, huyện C. Việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về trình tự, thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa đảm bảo ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị Đ và không phù hợp theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 về thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận số CH03518.

[3.3] Xét Giấy chứng nhận số CH03517 công nhận thửa đất số 925 tờ bản đồ số 54. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T xác định phần đất tranh chấp thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03518, phần đất này các bên không tranh chấp, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy Giấy chứng nhận số CH03517 là ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị đơn. Do đó, hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

[3.4] Về án phí: Theo Điều 12, 26, 29, 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn ông Trần Văn T1 thuộc trường hợp miễn nộp án phí sơ thẩm, phúc thẩm.

[3.5] Chi phí tố tụng khác nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng, tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 294, Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 313, Điều 315 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các điều 165, 170, 256 và 688 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Căn cứ vào Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ vào các điều 50, 105, và 107 của Luật Đất đai năm 2003;

- Căn cứ vào Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ vào Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị D là người đại diện theo ủy quyền bị đơn ông Trần Văn T1 trong hạn luật định được chấp nhận.

Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị D là người đại diện theo ủy quyền bị đơn ông Trần Văn T1. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 115/2023/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu được nhận tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ là 112.875.683 đồng mà phần đất bị thu hồi, diện tích bị ảnh hưởng bởi dự án đầu tư xây dựng công trình Trạm biến áp là 345,4m² thuộc một phần các thửa 82, 83; tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N, huyện C.

Ông Trần Văn T1 được quyền liên hệ Ban Bồi thường - Giải phóng mặt bằng huyện C để tiến hành thủ tục chi trả bồi thường, hỗ trợ cộng với lãi suất phát sinh theo quy định.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích theo đo đạc thực tế là 1.211,9 m² tại phân chiết thửa 79-1; 82-1; 83-1, thuộc tờ bản đồ số 48, bộ địa chính xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu năm 2004) là tài sản của bà Trần Thị Đ khi còn sống (hiện nay là những người thừa kế của bà Trần Thị Đ). Được xác định theo Bản đồ hiện trạng vị trí bổ túc hồ sơ xin giải quyết tranh chấp do Trung tâm đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H lập ngày 28/6/2022. (Đính kèm theo) 3. Chấp nhận đối với yêu cầu: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BU 187556, số vào sổ cấp GCN: CH03518 ngày 19/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 đứng tên.

Ông Trần Văn T1 có trách nhiệm giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã được công nhận cho những người thừa kế của bà Trần Thị Đ như trên.

Trường hợp ông Trần Văn T1 không thực hiện việc giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì những người thừa kế của bà Trần Thị Đ được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành thủ tục sang tên phần đất đã được công nhận.

4. Không chấp nhận đối với yêu cầu: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BU 187557, số vào sổ cấp GCN: CH03517 ngày 19/8/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T1 đứng tên.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn ông Trần Văn T1 thuộc trường hợp miễn nộp án phí.

- Hoàn trả cho những người thừa kế của nguyên đơn bà Trần Thị Đ:

+ Số tiền tạm ứng án phí là 262.500 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 009993, quyển số 0200 ngày 22/5/2007 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh;

+ Số tiền tạm ứng án phí là 1.362.825 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2011/00554 ngày 19/4/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Số tiền tạm ứng án phí là 2.822.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0045101 ngày 22/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn ông Trần Văn T1 thuộc trường hợp miễn nộp án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã tạm nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2023/0017148 ngày 12/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

88
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 920/2023/DS-PT

Số hiệu:920/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về