TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
BẢN ÁN 886/2026/DS-PT NGÀY 03/08/2026 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 03 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 951/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2026/DS-ST ngày 02 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1090/2026/QĐ-PT ngày 22 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Út T, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp B, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1999 (Có mặt). Địa chỉ: Tổ I, khu phố H, xã K, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: 229 N, phường C, thành phố Cần Thơ (theo văn bản ủy quyền ngày 03/11/2025).
-Bị đơn: ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1956. Địa chỉ: ấp A, xã P, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lê Văn P – Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố C. Địa chỉ: số B đường L, Phường Ô, Thành phố Cần Thơ.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1962
2.Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1984
3.Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1988
4.Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994
5.Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1976
6.Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1980
7.Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982
Cùng địa chỉ: ấp B, xã P, thành phố Cần Thơ.
8.Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965
Cùng địa chỉ: A tổ I, khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ
9.Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1967
10.Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1970 Cùng địa chỉ: ấp A, xã P, thành phố Cần Thơ.
11.Ông Trần Hoàng T4, sinh năm 1976
12.Ông Trần Hoàng T5, sinh năm 2002 Cùng địa chỉ: ấp B, xã P, thành phố Cần Thơ.
13.Bà Trần Minh T6, sinh năm 1998 Địa chỉ: ấp N, xã N, thành phố Cần Thơ.
(Những người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan đều vắng mặt)
*Do có kháng cáo của ông Nguyễn Văn G là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
-Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Út T có người đại diện trình bày:
Phần đất thửa 358, tờ bản đồ số 21, diện tích 1.551m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01921 ngày 15/11/1995 cấp cho ông Nguyễn Văn C đứng tên. Ông C là cha của ông đã chết ngày 10/3/2004, ông đang quản lý sử dụng toàn bộ phần đất này và được những người thừa kế nhường quyền. Khi ông tiến hành đo đạc đất để làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Nguyễn Văn G là chủ đất giáp ranh không thống nhất mốc ranh. Ông khởi kiện yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp diện tích 823,4m2 thuộc thửa 358 để ông làm thủ tục kê khai thừa kế.
-Bị đơn ông Nguyễn Văn G trình bày: năm 1992 ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 3.200m2 của ông Nguyễn Văn M2 (là cha của ông C) với giá 21 chỉ vàng 24k. Ông đã giao vàng và nhận đất canh tác từ năm 1992, đến năm 1995 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01880 ngày 15/11/1995 thửa 380, tờ bản đồ số 21, diện tích 2.131m2. Năm 2019 ông T đo đạc đất, hai bên không thống nhất ranh thì ông mới phát hiện diện tích đất còn lại nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C nên phát sinh tranh chấp. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông phản tố yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp diện tích 1.385,7m2 thuộc quyền sử dụng đất của ông.
*Tại Bản án sơ thẩm số 90/2026/DS-ST ngày 02 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.
Xác định ranh giới thửa 358, 379 với thửa 380 như sau: 1. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 823,4m2 (tại vị trí A), thuộc thửa 358, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01921 do Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp ngày 15/11/1995 cho ông Nguyễn Văn C; 2. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 562,3m2 (tại vị trí B), thuộc thửa 380, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01880 do Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp ngày 15/11/1995 cho ông Nguyễn Văn G.
Đất tọa lạc tại ấp B, xã P, thành phố Cần Thơ. (Kèm theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 288/VPĐKĐĐ ngày 30/12/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).
Cây trồng trên đất được giao cùng với phần quyền sử dụng đất mỗi người nhận.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự và quyền kháng cáo của các đương sự.
*Ngày 02 tháng 3 năm 2026 bị đơn ông Nguyễn Văn G kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông.
*Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 13/7/2026:
Nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên phía nguyên đơn xác định sẽ dành cho bị đơn lối đi chung ra Rạch có chiều ngang 2m tại phần đất vị trí A, cụ thể: Lấy từ vị trí chung giữa ranh theo giấy chứng nhận và phần đất vị trí B kéo ra 2m tại phần đất vị trí A kéo song song với cạnh 20m giáp thửa 379 đến cạnh 15,20m giáp rạch; Những phần còn lại vẫn xác định như sơ đồ đo đạc số 288/VPĐK.DV ngày 30/12/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
Để có đủ cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã tạm ngừng phiên tòa và gửi Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thực hiện việc điều chỉnh sơ đồ đo đạc số 288/VPĐK.DV ngày 30/12/2025. Đồng thời, ghi nhận số đo từng cạnh và xác định lại diện tích các phần đất có thay đổi.
Đến ngày 27/7/2026: Tòa án đã nhận được kết quả nên tiếp tục xét xử.
*Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 03/8/2026: Nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận giữ nguyên bản án sơ thẩm và đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận cụ thể như sau: nguyên đơn xác định sẽ dành cho bị đơn lối đi chung ra Rạch có chiều ngang 2m có diện tích là 42,5m2 tại vị trí C cụ thể: Lấy từ vị trí chung giữa ranh theo giấy chứng nhận và phần đất vị trí B kéo ra 2m tại phần đất vị trí A kéo song song với cạnh 20m giáp thửa 379 đến cạnh 15,20m giáp rạch theo Sơ đồ đo đạc số 484/VPĐK.DV ngày 27/7/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn: Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận giữ nguyên bản án sơ thẩm và đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận cụ thể như sau: nguyên đơn xác định sẽ dành cho bị đơn lối đi chung ra Rạch có chiều ngang 2m có diện tích là 42,5m2 tại vị trí C cụ thể: Lấy từ vị trí chung giữa ranh theo giấy chứng nhận và phần đất vị trí B kéo ra 2m tại phần đất vị trí A kéo song song với cạnh 20m giáp thửa 379 đến cạnh 15,20m giáp rạch theo Sơ đồ đo đạc số 484/VPĐK.DV ngày 27/7/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, ghi nhận việc thỏa thuận của các bên đương sự thỏa thuận này là sự tự nguyện của các bên nên ghi nhận. Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 2 điều 308; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa án sơ thẩm về việc công nhận lối đi chung như các bên đã thỏa thuận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn có kháng cáo; đơn kháng cáo trong hạn luật định và nộp tạm ứng kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật các điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét yêu cầu kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2]Xét kháng cáo của bị đơn: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên được cấp cùng ngày 15/11/1995, bị đơn không khiếu nại việc cấp giấy thiếu diện tích so với diện tích đang sử dụng, hình thể đất thực tế sử dụng khác với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cạnh giáp đất ông C. Bị đơn cho rằng mình đã sử dụng từ năm 1992 đến năm 2019 ổn định, được những người làm chứng xác định nên yêu cầu công nhận nhưng việc sử dụng của bị đơn có phát sinh tranh chấp của nguyên đơn nên không có căn cứ công nhận cho bị đơn. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận phần đất tranh chấp diện tích 823,4m2 thuộc thửa 358 có cơ sở chấp nhận, yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận phần đất tranh chấp diện tích 1.385,7m2 thuộc thửa 380 được chấp nhận một phần tại vị trí B. Đối với phần tuyên này bị đơn kháng cáo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đồng ý với bản án sơ thẩm nên không xem xét lại. Nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2]Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn xác định sẽ dành cho bị đơn lối đi chung ra Rạch có chiều ngang 2m tại phần đất vị trí A, cụ thể: Lấy từ vị trí chung giữa ranh theo giấy chứng nhận và phần đất vị trí B kéo ra 2m tại phần đất vị trí A kéo song song với cạnh 20m giáp thửa 379 đến cạnh 15,20m giáp rạch; Những phần còn lại vẫn xác định như sơ đồ đo đạc số 288/VPĐK.DV ngày 30/12/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
[3]Để có đủ cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã tạm ngừng phiên tòa và gửi Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thực hiện việc điều chỉnh sơ đồ đo đạc số 288/VPĐK.DV ngày 30/12/2025. Đồng thời, ghi nhận số đo từng cạnh và xác định lại diện tích các phần đất có thay đổi.
[4]Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay: Nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận và đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận cụ thể như sau: nguyên đơn xác định sẽ dành cho bị đơn lối đi chung ra Rạch có chiều ngang 2m có diện tích là 42,5m2 tại vị trí C theo Sơ đồ đo đạc số 484/VPĐK.DV ngày 27/7/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C nên có có sở đề ghi nhận sự thoả thuận này của các đương sự
[5]Từ những phân tích nêu trên, các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận nên có căn cứ để sửa một phần bản án sơ thẩm: ghi nhận lối đi cho bị đơn. Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn;
[6]Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
-Khoản 1 và khoản 2 Điều 308; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự;
-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn G: Giữ nguyên một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2026/DS-ST ngày 02 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ và sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận về lối đi cho bị đơn:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2.Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.
Xác định ranh giới thửa 358, 379 với thửa 380 như sau: 1. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 823,4m2 (tại vị trí A), thuộc thửa 358, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01921 do Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp ngày 15/11/1995 cho ông Nguyễn Văn C; 2. Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 562,3m2 (tại vị trí B), thuộc thửa 380, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01880 do Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp ngày 15/11/1995 cho ông Nguyễn Văn G. (theo sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 484/VPĐKĐĐ ngày 27/7/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C). Đất tọa lạc tại ấp B, xã P, thành phố Cần Thơ. Cây trồng trên đất được giao cùng với phần quyền sử dụng đất mỗi người nhận.
3.Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn xác định sẽ dành cho bị đơn lối đi chung ra Rạch có chiều ngang 2m có diện tích là 42,5m2 tại vị trí C theo Sơ đồ đo đạc số 484/VPĐK.DV ngày 27/7/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 484/VPĐKĐĐ ngày 27/7/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).
4.Về án phí dân sự sơ thẩm; chi phí đo đạc, định giá: Giữ nguyên như bản án sơ thẩm.
5.Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 886/2026/DS-PT ngày 03/08/2026
| Số hiệu: | 886/2026/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Cần Thơ |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 03/08/2026 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về