Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 66/2023/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 66/2023/DS-PT NGÀY 29/05/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 146/2022/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2022/DS-ST ngày 30 tháng 05 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 236/2022/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Cụ Huỳnh Thị C; cư trú tại: Khu phố A1, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ; có mặt.

Đại diện hợp pháp của cụ Cảnh: Bà Nguyễn Thị Dạ Th; cư trú tại: Khu phố A2, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ là đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 17/3/2023); có mặt.

- Bị đơn: Cụ Hồ Thị Ngh (chết ngày 14/8/2021).

- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Nghĩa:

1. Ông Huỳnh Văn Th1; có mặt.

2. Ông Huỳnh Văn T.

3. Bà Huỳnh Thị Kim D.

4. Ông Huỳnh Văn D1.

Cùng cư trú tại: Khu phố A1, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ.

5. Bà Huỳnh Thị Kim L; cư trú tại: Thôn L, thị trấn T, huyện H, tỉnh BT.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Huỳnh Văn Th1; có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị C1; có mặt..

3. Ông Huỳnh Văn T.

4. Bà Huỳnh Thị Kim K.

5. Bà HuỳnhThị Kim D.

6. Ông Huỳnh Văn D1.

Cùng cư trú tại: Khu phố A1, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ.

7. Bà Huỳnh Thị Kim L; cư trú tại: Thôn L, thị trấn T, huyện H, tỉnh BT.

Đại diện hợp pháp của ông T, bà D, ông D1, bà L, bà K: Ông Huỳnh Văn Th2 là đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 25/01/2019).

8. Ông Phan Văn H; cư trú tại: Khu phố A1, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ.

Đại diện hợp pháp của ông H: Ông Phan Văn L1; cư trú tại: Khu phố A1, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ là đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 18/3/2022) ; có mặt.

9. Ông Phan H1; cư trú tại: Khu phố An Dưỡng 1, phường Hoài Tân, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

10. Bà Phan Thị T1; cư trú tại: Khu phố Tăng Long 1, phường Tam Quan, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

11. Bà Huỳnh Thị T2; vắng mặt.

12. Bà Huỳnh Thị S; vắng mặt.

13. Bà Huỳnh Thị A; vắng mặt.

Cùng cư trú tại: Khu phố A1, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ.

14. Bà Huỳnh Thị Kiều D2; cư trú tại: Khu phố Đ3, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ; Vắng mặt Đại diện hợp pháp của ông H1, bà T1: Cụ Huỳnh Thị C là đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 27/02/2019) ; có mặt.

- Người kháng cáo: Cụ Huỳnh Thị C là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn cụ Huỳnh Thị C và người đại diện theo ủy quyền của cụ Cảnh là bà Nguyễn Thị Dạ Th trình bày:

Thửa đất số 728, tờ bản đồ 09, diện tích 737m2, tại H, HN, có nguồn gốc của ông nội cụ Cảnh tên Huỳnh M để lại cho cha cụ C tên là Huỳnh Đ1. Sau đó, cha cụ cảnh giao lại cho cụ trực tiếp sử dụng, canh tác hoa màu. Toàn bộ thửa đất trên, cụ C không đưa vào hợp tác xã. Sau đó, cha mẹ cụ có cho cụ Hồ Thị Ngh làm một ngôi nhà ở tạm trên thửa đất này, thời gian nào thì không nhớ, việc cho ở tạm không có giấy tờ.

Về việc cụ Hồ Thị Ngh được cấp quyền sử dụng toàn bộ thửa đất của cụ vào năm 1985 thì cụ hoàn toàn không được biết. Đến năm 1993, khi nhà nước cấp cho cụ thửa đất 728B, tờ bản đồ 09, thì cụ cũng hoàn toàn không để ý đến diện tích đất đã được cấp. Cụ chỉ nghĩ là ngôi nhà cụ cho cụ Ngh ở thì vẫn chỉ là ở tạm mà không biết rằng một phần đất có nhà đó đã được Nhà nước cấp cho cụ Ngh có số hiệu thửa đất 728A, tờ bản đồ 09.

Nay cụ Ngh đã chết nên cụ yêu cầu vợ chồng ông Huỳnh Văn Th1 và bà Nguyễn Thị C1 là người đang quản lý, sử dụng nhà, đất của cụ Ngh phải hoàn trả lại thửa đất số hiệu 728A, tờ bản đồ 09 và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00558/QSDĐ/A13 ngày 12/5/1997 do UBND huyện (nay là thị xã) H cấp cho cụ Hồ Thị Ngh. Đối với các tài sản cụ Ngh đã tạo lập trên đất, cụ yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn, cụ Hồ Thị Ngh (khi còn sống) trình bày:

Nguồn gốc thửa đất hiện nay cụ Huỳnh Thị C đang tranh chấp là của tộc họ Huỳnh. Vào năm 1975, cụ được sự đồng ý của tộc họ đã đến làm nhà ở và canh tác tại toàn bộ thửa đất. Đến năm 1985, cụ được Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp quyền sử dụng toàn bộ thửa đất nói trên, có số hiệu 728, tờ bản đồ 09, tại thôn A1, xã H, huyện H (nay là phường H, thị xã H), cụ sử dụng ổn định, liên tục. Nhưng đến khi nhà nước cấp quyền sử dụng đất thì không hiểu tại sao cụ Cảnh lại được cấp một phần tại thửa đất nói trên. Khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì không kiểm tra nên cụ không phát hiện.

Hiện nay cụ đồng ý và không khiếu nại gì đối với thửa đất đang ở, việc nhà nước cấp đất cho cụ (đối với 200m2) là hợp pháp. Cụ không đồng ý các yêu cầu đòi lại đất của cụ Huỳnh Thị C, không đồng ý yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ C.

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Nghĩa là ông Huỳnh Văn Th1, ông Huỳnh Văn T, bà Huỳnh Thị Kim D, ông Huỳnh Văn D1, bà Huỳnh Thị Kim L thống nhất với lời trình bày của cụ Ngh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị C1 trình bày: Bà là vợ của ông huỳnh Văn Th1. Bà thống nhất với ý kiến của bị đơn, không có trình bày hay yêu cầu gì thêm.

Bà Huỳnh Thị T2, bà Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị A: Thống nhất với yêu cầu và lời trình bày của cụ Huỳnh Thị C, không có bổ sung gì thêm.

Đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn H là ông Phan Văn L1 trình bày: Thống nhất như trình bày của cụ Huỳnh Thị C và không bổ sung gì thêm.

Đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị T1 và ông Phan H1, cụ Huỳnh Thị C trình bày: Bà T1, ông H1 thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của cụ C và không bổ sung gì thêm.

Đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn T, bà Huỳnh Thị Kim K, bà HuỳnhThị Kim D, ông Huỳnh Văn D1, bà Huỳnh Thị Kim L là ông Huỳnh Văn Th1 trình bày: Ông T, bà D, ông D1, bà L, bà K thống nhất với lời trình bày của cụ Hồ Thị Ngh.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 219/2022/DS-ST ngày 30/05/2022 của Tòa án nhân dân thị xã H đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Huỳnh Thị C yêu cầu cụ Hồ Thị Ngh phải trả lại thửa đất số hiệu 728A, tờ bản đồ 09 tại phường H, thị xã H, tỉnh BĐ vì không có căn cứ. Không chấp nhận yêu cầu của bà C buộc cụ Ngh phải dọn đỡ công trình có trên thửa đất 728A, tờ bản đồ 09 tại phường H, thị xã H, tỉnh BĐ vì không có căn cứ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 30/5/2022 và 13/6/2022 cụ Huỳnh Thị Cảnh kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm buộc các con của cụ Hồ Thị Nghĩa phải trả lại thửa đất 728A, tờ bản đồ số 9 tại thôn An Dưỡng 1, phường Hoài Tân, thị xã Hoài Nhơn và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00558/QSDĐ/A13 ngày 12/5/1997 do UBND huyện (nay là thị xã) Hoài Nhơn cấp cho cụ Hồ Thị Nghĩa. Ngày 25/4/2023 cụ Cảnh kháng cáo bổ sung yêu cầu cấp phúc thẩm buộc các con của cụ Hồ Thị Nghĩa phải trả lại cho cụ giá trị toàn bộ diện tích 292,6m2 và phải chừa cho cụ một lối đi vào thửa đất 728B tờ bản đồ số 9 tờ tại thôn An Dưỡng 1, phường Hoài Tân, thị xã Hoài Nhơn với chiều rộng trên 3m Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến:

- Về Tố tụng: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận kháng cáo của cụ Huỳnh Thị C giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét kháng cáo cụ Huỳnh Thị C, HĐXX thấy rằng: Cụ Huỳnh Thị C nại thửa đất số 728A, tờ bản đồ số 9 tại thôn A1, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00558/QSDĐ/A13 ngày 12/5/1997 do UBND huyện (nay là thị xã) H cấp cho cụ Hồ Thị Ngh có nguồn gốc là đất của ông bà cụ C để lại cho cụ C là có căn cứ, bởi lẽ: Thứ nhất, hiện nay cụ C vẫn còn giữ giấy tờ thửa đất là Bản trích lục địa bộ của chế độ cũ cấp cho cố Huỳnh M là ông nội của cụ C thửa đất này, sau này giao lại cho cha cụ là Huỳnh Đ1 sử dụng và cuối cùng giao lại cho cụ. Thứ hai, UBND phường H và UBND thị xã H đều khẳng định hộ gia đình cụ C là hộ cá thể nên thửa đất 728A, tờ bản đồ số 9 không được đưa vào hợp tác xã và không được cân đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ. Thứ ba, Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ chỉ cân đối giao quyền sử dụng đất nông nghiệp không cân đối giao quyền đất ở. Do đó, cấp sơ thẩm nhận định cụ Hồ Thị Ngh là người trực tiếp quản lý sử dụng thửa đất số hiệu 728, sinh sống ổn định lâu dài trên đất là không có căn cứ. Lẽ ra, phải ông Huỳnh Văn Th1 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Nghĩa đang quản lý, sử dụng thửa đất 728A và tài sản của cụ Ngh phải trả lại thửa đất cho cụ C theo quy định tại Điều 615 của Bộ luật dân sự năm 2015, nhưng trên thực tế thì cụ Hồ Thị Ngh đã ở trên thửa đất này liên tục từ năm 1977 đến nay, thời gian đã trên 30 năm nên theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì cụ Ngh đã trở thành chủ sử dụng thửa đất kể từ thời điểm chiếm hữu (tức là vào năm 1977). Vì vậy, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi lại 200m2 đất ở thuộc thửa đất đất số 728A, tờ bản đồ số 9 tại thôn A1, phường H, thị xã H, tỉnh BĐ và không xem xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00558/QSDĐ/A13 ngày 12/5/1997 do UBND huyện (nay là thị xã) H cấp cho cụ Hồ Thị Ngh là có căn cứ. Tuy nhiên, qua việc đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/02/2023, thì ngoài diện tích 200m2 đất ở được cấp, cụ Nghĩa đã lấn sang thửa đất số 728B của cụ C 92,6m2 và đã xây dựng nhà ở, các công trình khác trên một phần diện đất lấn chiếm của cụ C nên một phần kháng cáo về yêu cầu yêu cầu trả đất và mở lối đi vào thửa đất số 728B của cụ C là có căn cứ.

[2] Từ những phân tích trên, xét thấy một phần kháng cáo của cụ Huỳnh Thị C là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận. Sửa một phần bản án sơ thẩm. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ C. Buộc ông Huỳnh Văn Th1 phải hoàn trả cho Cụ C 92,6m2 đất ở, trong đó giao bằng hiện vật 58,4m2 đất (có vị trí, kích thước: Từ điểm 1 thẳng đến điểm 2 dài 4,03m; từ điểm 2 thẳng đến điểm 3 dài 16,98m; từ điểm 3 thẳng đến điểm 4 dài 1,92m; từ điểm 4 thẳng đến điểm 5 dài 1,79m; từ điểm 5 thẳng đến điểm 6 dài 2,73m; từ điểm 6 thẳng đến điểm 7 dài 5,45m; từ điểm 7 thẳng đến điểm 1 dài 9,7m) dùng làm lối đi vào thửa đất số 728B của cụ Cảnh và phải tháo dỡ 01 chuồng bò (mái fibro xi măng, trụ bê tông, nền xi măng), tường rào (xây gạch cao 0,5m, rào lưới B40 cao 1,2m, dài 1,79m), 01 trụ cổng (xây gạch cao 1,6m, kích thước 0,3m x 0,3m) trên phần đất có ký hiệu B2 theo sơ đồ bản vẽ ngày 23/02/2023 của Công ty cổ phần tư vấn Đ và giá trị phần đất còn lại là: 92,6m2 - 58,4m2 = 34,2m2 x 2.000.000 đồng/m2 (giá trị thị trường theo kết quả định giá ngày 23/02/2023) = 68.400.000 đồng. Ông Huỳnh Văn Th1 được quyền sử dụng 34,2m2 đất ở đã lấn chiếm của cụ C.

[3] Về án phí, chi phí tố tụng khác:

[3.1] Về án phí: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, thì cụ Huỳnh Thị C được miễn án phí. Ông Huỳnh Văn Th1 phải chịu 300.000 án phí dân sự sơ thẩm. Cụ Huỳnh Thị Cảnh được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[3.2] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá 02 lần là 12.500.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự thì cụ Huỳnh Thị C và ông Huỳnh Văn Th1 mỗi người phải chịu 1/2 chi phí này, cụ C đã ứng chi xong nên ông Th1 phải hoàn trả lại cho cụ C 6.250.000 đồng.

[4] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm là phù hợp với nhận định của HĐXX . Ý kiến về việc giải quyết vụ án là không phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 163, 164, 166, 236, 615 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 26, các Điều 166, 170 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận kháng cáo cụ Huỳnh Thị C. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 219/2022/DS-ST ngày 30/05/2022 của Tòa án nhân dân thị xã H.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Huỳnh Thị C.

1.1 Buộc ông Huỳnh Văn Thi phải hoàn trả cho cụ Huỳnh Thị C 58,4m2 đất (có vị trí, kích thước: Từ điểm 1 thẳng đến điểm 2 dài 4,03m; từ điểm 2 thẳng đến điểm 3 dài 16,98m; từ điểm 3 thẳng đến điểm 4 dài 1,92m; từ điểm 4 thẳng đến điểm 5 dài 1,79m; từ điểm 5 thẳng đến điểm 6 dài 2,73m; từ điểm 6 thẳng đến điểm 7 dài 5,45m; từ điểm 7 thẳng đến điểm 1 dài 9,7m) dùng làm lối đi vào thửa đất số 728B của cụ Cảnh (phần đất có ký hiệu B2 theo sơ đồ bản vẽ ngày 23/02/2023 của Công ty cổ phần tư vấn Đ) (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

1.2 Buộc ông Huỳnh Văn Th1 phải tháo dỡ 01 chuồng bò (mái fibro xi măng, trụ bê tông, nền xi măng), tường rào (xây gạch cao 0,5m, rào lưới B40 cao 1,2m, dài 1,79m), 01 trụ cổng (xây gạch cao 1,6m, kích thước 0,3m x 0,3m) trên phần đất có ký hiệu B2 theo sơ đồ bản vẽ ngày 23/02/2023 của Công ty cổ phần tư vấn Đ (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

1.3 Ông Huỳnh Văn Th được quyền sử dụng 34,2m2 đất ở đã lấn chiếm của cụ Huỳnh Thị C và phải có nghĩa vụ thanh toán cho cụ Huỳnh Thị C giá trị của 34,2m2 đất là 68.400.000 đồng.

2. Về án phí, chi phí tố tụng khác:

2.1 Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Huỳnh Văn Thi phải chịu 300.000 án phí dân sự sơ thẩm - Hoàn trả cho cụ Huỳnh Thị C 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu số: 0008378 ngày 25/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H.

2.2 Về án phí dân sự phúc thẩm: Cụ Huỳnh Thị C được miễn.

2.3 Về chi phí tố tụng khác: Ông Huỳnh Văn Th1 phải hoàn trả cho cụ Huỳnh Thị C 6.250.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

3. quyền, nghĩa vụ thi thành án:

3.1 Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3.2 Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

103
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 66/2023/DS-PT

Số hiệu:66/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/05/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về