Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 650/2026/DS-PT ngày 20/07/2026

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 650/2026/DS-PT NGÀY 20/07/2026 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 20 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2026 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 571/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2026, giữa:

-Nguyên đơn: bà Trần Thị Đ, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp B, xã H, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Minh T, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp Đ, xã H, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 20/6/2026) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là Luật sư Nguyễn Vĩnh B (Trung tâm tư vấn pháp luật Trà Vinh - Hội luật gia tỉnh V) (có mặt) và Luật sư Thái Săm B1 (Văn phòng L) thuộc đoàn Luật sư tỉnh V ( có mặt).

-Bị đơn: ông Lâm Văn K, sinh năm 1956. Địa chỉ: ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị đơn là bà Tiêu Thị N, sinh năm 1959. Địa chỉ: ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 22/6/2026) (có mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1966 (vắng mặt)

2.Bà Lý Thị T1, sinh năm 1963 ( vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long

3.Anh Nguyễn Thành P, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của ông Đ1, bà T1, anh P là ông Trần Minh T, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp Đ, xã H, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 13,14/7/2026) (có mặt)

4.Anh Lâm Hốc S, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: B3-3.16C/c G, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh

5.Chị Lâm Thị M, sinh năm 1984. Địa chỉ: 1 B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

6.Bà Tiêu Thị N, sinh năm 1959 ( có mặt)

7.Anh Lâm Quốc T2, sinh năm 1988 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long

Người đại diện hợp pháp của anh S, chị M1 và anh T2 là bà Tiêu Thị N, sinh năm 1959. Địa chỉ: ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy quyền ngày 18, 22/6/2026) (có mặt).

8.Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Vĩnh Long - Ông Đường Thế B2. Địa chỉ: ấp C, xã V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin vắng mặt).

Người kháng cáo: bà Trần Thị Đ là nguyên đơn;

NỘI DUNG VỤ ÁN

-Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2019 của nguyên đơn bà Trần Thị Đ và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn trình bày:

Thửa đất số 1148, diện tích 1751m2, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long) có nguồn gốc là của bà Phan Thị P1 (K1) chuyển nhượng cho bà vào năm 2011 với tổng diện tích là 5.310m2. Lúc bán đất bà K1 không chỉ ranh đất, không đo đạc và cũng không có trụ ranh, hai bên sang nhượng hết thửa đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng cha, mẹ bà là bà Lý Thị T1 và ông Trần Văn Đ1 là người trực tiếp canh tác. Năm 2015, bà N và ông K có phần đất lúa giáp ranh đất của bà có hỏi xin cha mẹ của bà diện tích 150m2 để làm đường đi ra kinh. Sau khi đo đất, tách thửa theo bờ đi hiện có thì diện tích là 1751m2 vì vậy bà không đồng ý, phần đất này bà đứng tên nhưng phía bà N, ông K canh tác, sử dụng. Nay bà yêu cầu ông Lâm Văn K trả lại diện tích đất tranh chấp thực đo là 1737m2, thuộc thửa 1148, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long) cho gia đình bà sử dụng.

-Tại bản khai ngày 15/7/2019 (BL58) và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lâm Văn K trình bày:

Vào năm 1996, ông có sang nhượng của bà Kiên Thị H hai phần đất, một phần đất ruộng diện tích 6210m2, thửa đất số 80, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long) và một phần đất nền chòi liền kề với đất của bà Phan Thị P1 (không phải là bà K1), sau đó đến năm 2005 hai bên mới làm giấy tay sang bán phần đất nền có ông Kiên T3 là em của bà Kiên Thị H ký tên và có Trưởng ban nhân dân ấp xác nhận, sau đó ông cải tạo phần đất nền này thành đất ruộng và canh tác cho đến nay. Phần đất ruộng ông mua của bà H, ông đã làm thủ tục tách thửa sang tên xong, còn phần đất nền sau này ông mới biết là bà P1 đứng tên. Đến năm 2011, bà P1 bán đất cho bà Đ, ông có gặp bà P1 thì bà P1 cho rằng không có bán phần đất nền ông đang sử dụng cho bà Đ và bà Đ cũng không có ý kiến gì. Năm 2015, ông tiến hành làm thủ tục hợp thửa đất thì ông mới phát hiện là phần diện tích đất nền của ông đang sử dụng từ trước đến nay do bà Đ đứng tên. Sau đó ông và cha mẹ bà Đ là bà Lý Thị T1, ông Trần Văn Đ1 thỏa thuận tách thửa phần đất nền và ông Đ1, bà T1 đồng ý nên ông và bà Đ ký hợp đồng chuyển nhượng phần đất nói trên, ông đến Văn phòng Đ2 đóng tiền để làm thủ tục tách thửa thì ông Đ1, bà T1 và bà Đ không thống nhất và cho rằng ông chiếm đất của gia đình bà Đ nên gia đình bà Đ không đồng ý sang tên thửa đất trên cho ông. Nay ông không đồng ý theo yêu cầu của bà Đ, ông yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 1148, diện tích 1751m2 (thực đo 1737m2), tờ bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh do bà Trần Thị Đ đứng tên quyền sử dụng đất và yêu cầu công nhận phần diện tích đất này cho ông.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ1, bà Lý Thị T1, anh Nguyễn Thành P có lời trình bày và thống nhất như lời trình bày của bà Trần Thị Đ, không trình bày gì thêm.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tiêu Thị N, anh Lâm Hốc S, chị Lâm Thị M, anh Lâm Quốc T2 có lời trình bày như lời trình bày của ông Lâm Văn K, không trình bày gì thêm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long đã quyết định:

1.Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ về việc yêu cầu bị đơn ông Lâm Văn K trả lại phần đất diện tích thực đo 1737,0m2, thuộc thửa 1148, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long do bà Trần Thị Đ đứng tên quyền sử dụng đất để bà canh tác, sử dụng.

2.Công nhận phần đất diện tích thực đo 1737,0m2, thuộc thửa 1148, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long thuộc quyền sử dụng của bị đơn ông Lâm Văn K. (Phần đất có kích thước tứ cận theo Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 129/CV-CNHCN, ngày 12 tháng 7 năm 2019 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh huyện C nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Khu vực 15- Vĩnh Long)

3.Đề nghị Cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn ông Lâm Văn K theo Quyết định của Bản án khi có hiệu lực pháp luật.

4.Ông Lâm Văn K có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để thực hiện nghĩa vụ tài chính và thực hiện các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1737,0m2, thuộc thửa 1148, tờ bản đồ số 3, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long theo quy định của pháp luật.

Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị Đ kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn trình bày nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa hôm nay bà Trần Thị Đ thay đổi nội dung kháng cáo, không yêu cầu hủy án bản án sơ thẩm mà yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông K và bà N phải trả lại cho nguyên đơn thửa đất số 1148, tờ bản đồ số 3, diện tích 1737,0m2, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long.

Bà Tiêu Thị N đại diện cho ông K và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Vào năm 1996 bà và ông K mua thửa đất số 80, diện tích 6200m2 đất trồng lúa của bà Kiên Thị H và thửa đất này bà đã nhập vào thửa đất khác của bà và hiện nay thành thửa 1169, diện tích 8360m2, đất trồng lúa, ông K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2005 bà phát hiện phần đất mua của bà H còn phần đất gò cao chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà và ông K đến nhờ bà H lập giấy sang đất nền đề ngày 17/42005 và bà cho rằng phần đất nền là thửa đất đang tranh chấp 1148. Nay bà không đồng ý kháng cáo của nguyên đơn, thống nhất với bản án sơ thẩm. Vì thửa đất tranh chấp bà mua của bà H từ năm 1996, nhưng năm 2005 mới làm giấy tay sang đất nền, bà canh tác 30 năm nay, do đó không đồng ý trả thửa đất 1148 cho nguyên đơn.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng đầy đủ, quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng áp phí và lệ phí Tòa án.

-Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Đ.

-Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 06/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

-Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, do kháng cáo được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Đ làm trong hạn luật định và đúng trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Tại phiên Tòa người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị Đ thay đổi nội dung kháng cáo, không yêu cầu hủy án sơ thẩm, yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy việc thay đổi nội dung kháng cáo của nguyên đơn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 284 của Bộ luật tố tụng dân sự, không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp:

Theo công văn số 32/CNHCN ngày 28/02/2024 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ2 (nay là Chi nhánh VPĐKĐĐ khu vực 15 -Vĩnh Long) ghi nhận: Theo Đơn đăng ký quyền sử dụng đất bà Phan Thị P1:

+ Tờ bản đồ III-3, số thửa 82, diện tích 5310m2, loại đất hoang, tọa lạc ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (đính kèm Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất năm 1995).

+Tư liệu năm 1995, thửa 82, tờ bản đồ số 3, diện tích 5310m2, loại đất hoang, kê khai trong sổ mục kê Phan Thị P1 đứng tên (đính kèm sổ mục kê đất đai).

+Thửa số 82, tờ bản đồ số 3, diện tích 5310m2, loại đất hoang, tọa lạc ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ Phan Thị P1 năm 1996 (đính kèm số ký nhận).

Năm 2011 bà Trần Thị Đ nhận chuyển nhượng từ bà Phan Thị P1 thửa đất số 82, tờ bản đồ số 3, diện tích 5310m2, loại đất hoang, tọa lạc ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh ( đính kèm hồ sơ).

Năm 2015 bà Trần Thị Đ thực hiện thủ tục chuyển mục đích từ đất hoang sang đất trồng lúa tại thửa số 82, tờ bản đồ số 3, diện tích 5310m2, tọa lạc ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh ( đính kèm hồ sơ).

Năm 2015 bà Trần Thị Đ thực hiện thủ tục tách thửa đất số 82 nêu trên thành 02 thửa: thửa 1148, tờ bản đồ số 3, diện tích 1751,0m2 và thửa 1149, tờ bản đồ số 3, diện tích 3559m2.

Như vậy thửa đất đang tranh chấp 1148, tờ bản đồ số 3, diện tích 1751,0m2, loại đất trồng lúa có nguồn gốc của bà Phan Thị P1, năm 2011 bà P1 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Đ, bà Đ được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh ( nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình bà Đ nhận chuyển nhượng của bà P1, đến khi bà Đ chuyển mục đích sử dụng từ đất hoang thành đất trồng lúa và tách thành 02 thửa 1148 và 1149 cũng không có ai ngăn cản, tranh chấp. Bà Đ là người được quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai năm 2013.

[4]. Xét việc ông Lâm Văn K trình bày, ông nhận chuyển nhượng thửa đất đang đất tranh chấp của bà Kiên Thị H vào năm 1996 và sử dụng ổn định liên tục cho đến nay. Xét thấy: theo nội dung “Tờ sang đất nền” lập ngày 17/4/2005 giữa bà Kiên Thị H và ông Lâm Văn K thì bà H sang cho ông K một cái nền chòi, có ghi giáp cận, nhưng không thể hiện sang thửa đất nào, diện tích bao nhiêu, đất ở đâu, do ai đứng tên quyền sử dụng mà chỉ thể hiện là sang đất nền, không có sang đất trồng lúa.

Hơn nữa tại phiên tòa phúc thẩm, bà N khai bà và ông K nhận chuyển nhượng thửa đất số 80 của bà Kiên Thị H vào năm 1996, diện tích 6200m2, sau đó vợ chồng bà nhập thửa 80 vào thửa đất khác liền ranh và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa 1169, tờ bản đồ số 3, diện tích 8360,0m2. Đến năm 2005 thì bà phát hiện phần đất giáp ranh thửa 1169 không nằm trong quyền sử dụng đất mà ông K được cấp giấy nên bà đến gặp bà Kiên Thị H kêu viết giấy tay mua bán đất nền đề ngày 17/4/2005. Như vậy thể hiện năm 1996 bà Kiên Thị H không chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho ông K, bà N mà quá trình sử dụng thửa 1169 liền kề với thửa đất tranh chấp thì phía ông K cho rằng đất phần đất của mình mua của bà H còn thiếu nên ngày 17/4/2005 đến kêu bà H viết giấy sang đất nền. Bà N cho rằng bà H viết giấy tay sang đất nền ngày 17/4/2005 cho ông K đúng vị trí thửa đất đang tranh chấp là không đúng, vì phần đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng của bà H mà thuộc quyền sử dụng của bà P1 thửa 82, bà P1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1996.

[5]. Ngoài ra xét thấy ông Lâm Văn K nhận chuyển nhượng thửa 80, diện tích 6210m2 của bà Kiên Thị H là đất trồng lúa, nguyên đơn bà Đ nhận chuyển nhượng thửa 82, diện tích 5310m2 của bà Phan Thị P1 là loại đất khác (đất hoang). Ranh đất giữa thửa 80 và thửa 82 là một đường thẳng, hình thể không giống thửa đất đang tranh chấp (hình chữ L). Sau khi nhận chuyển nhượng từ bà P1 thì bà Đ làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng từ đất hoàng sang đất trồng lúa. Nếu ông K nhận chuyển nhượng thửa đất tranh chấp của bà H từ năm 1996 thì tại sao ông K không kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng không kiện bà P1 hoặc bà Đ để đòi lại đất. Trong khi đó thửa đất ông K mua của bà H thửa 80 giáp ranh thửa đất tranh chấp thì ông khai đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài tờ sang đất nền ngày 17/4/2005 thì ông K không cung cấp được chứng cứ chứng minh có nhận chuyển nhượng thửa đất 1148, diện tích 1737,0m2 của bà Kiên Thị H. Do đó bị đơn cho rằng bà H chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho ông K là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Xét việc ông K khai phần đất tranh chấp do bà Đ đứng tên, nhưng ông K là người sử dụng đất nên năm 2015 bà Đ đồng ý chuyển nhượng lại diện tích đất tranh chấp cho ông K và hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng QSDD và ông K đã nộp chi phí tách thửa tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Chi nhánh huyện C, nhưng sau đó bà Đ không đồng ý tách thửa nên hợp đồng chuyển nhượng chưa được công chứng, chứng thực theo quy định. Bà Đ không thừa nhận sự việc này và phía bà Đ trình bày do bà đồng ý cho ông K, bà N diện tích đất 150m2 để làm đường đi ra kinh, đồng ý tách thửa cho ông K 150m2 và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K làm thủ tục tách thửa, nhưng khi làm thủ tục tách thửa thì ông K ghi vào hợp đồng chuyển nhượng là bà Đ chuyển nhượng cho ông K hết thửa đất 1148, diện tích 1751,0m2 nên bà Đ không đồng ý. Lời trình bày của bà Đ phù hợp với đơn khiếu nại của bà Đ đến Ban tiếp công dân - VPUBND tỉnh T khiếu nại việc ông K và địa chính xã tự ý tách thửa chiếm dụng của bà phần đất 1737,0m2 nên UBND xã K trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1148 cho bà Đ. Do đó ông K cho rằng bà Đ đồng ý chuyển nhượng thửa đất tranh chấp cho ông K là không có căn cứ.

[7]. Lời khai của ông K, bà N không phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vì thửa đất tranh chấp số 82, tờ bản đồ số 3, diện tích 5310m2 Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Phan Thị P1 vào năm 1996, bà Kiên Thị H không kê khai, đăng ký, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H không có quyền chuyển nhượng đất cho ông K theo quy định tại Điều 3, Điều 73 Luật đất đai năm 1993. Ông K cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh có nhận chuyển nhượng thửa đất 1148 của bà Kiên Thị H. Tòa án cấp sơ thẩm xác minh thực tế những người ở gần phần đất tranh chấp và lời khai của bà Trần Thị H1 (con ruột bà Phan Thị P1) để xác định việc Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy cho bà Đ không đúng quy định và công nhận thửa đất 1148 cho ông Lâm Văn K là không đúng quy định của pháp luật về đất đai.

[8]. Ngoài ra bị đơn ông Lâm Văn K không có yêu cầu phản tố công nhận cho ông K thửa đất số 1148, diện tích 1751,0m2, đất trồng lúa, nhưng Bản án sơ thẩm công nhận thửa đất tranh chấp cho ông K là không đúng quy định tại Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Đ, sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Lâm Văn K và bà Tiêu Thị N phải trả lại cho bà Trần Thị Đ thửa đất số 1148, tờ bản đồ số 3, diện tích 1751,0m2, loại đất trồng lúa do bà Trần Thị Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long.

Xét lời trình bày của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[9]. Về chi phí tố tụng: căn cứ Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự, buộc bị đơn phải chịu số tiền 3.229.655 đồng, do nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước nên buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 3.229.655 đồng ( làm tròn 3.229.000đ).

[10]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 27, khoản 2 Điều 29, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

-Án phí dân sự sơ thẩm: do sửa án nên sửa lại án phí,

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí 300.000đ, tuy nhiên bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí.

-Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án nên bà Trần Thị Đ là người kháng cáo không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 148, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Đ;

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2026/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Vĩnh Long.

Căn cứ Điều 166, 170 Luật đất đai năm 2013; Điều 166 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26, Điều 27, khoản 2 Điều 29, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ;

2.Buộc ông Lâm Văn K và bà Tiêu Thị N có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị Đ thửa đất số 1148, tờ bản đồ số 3, diện tích 1737,0m2, loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp T, xã V, tỉnh Vĩnh Long do bà Trần Thị Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

(Có sơ đồ khu đất kèm theo bản án)

3.Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lâm Văn K phải hoàn trả cho bà Trần Thị Đ số tiền 3.229.000 đồng ( Ba triệu hai trăm hai mươi chín nghìn đồng).

4.Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Lâm Văn K được miễn án phí.

Hoàn trả bà Trần Thị Đ số tiền 2.582.000 đồng theo biên lai số 000029, ngày 27 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 – Vĩnh Long).

5.Về án phí dân sự phúc thẩm: hoàn trả cho bà Trần Thị Đ 300.000đ  ( ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0005143 ngày 23/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71,72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

52
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 650/2026/DS-PT ngày 20/07/2026

Số hiệu:650/2026/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/07/2026
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về