Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 645/2026/DS-PT ngày 25/06/2026

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 645/2026/DS-PT NGÀY 25/06/2026 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 638/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 138/2025/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 741/2026/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thiện N, sinh năm 1972 (đã chết). Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1973 (vợ) và Huỳnh Thiện Hữu T, sinh năm 1998 (con), Huỳnh Thị Hiếu G, sinh năm 2012 (con); Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của Huỳnh Thiện Hữu T, Huỳnh Thị Hiếu G: Bà

Phạm Thị N1, sinh năm 1973 (có mặt)

-Bị đơn: Ông Phạm Ngọc N2, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ (có mặt)

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Hoàng D, sinh năm 1973; Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ (có mặt)

4. Người làm chứng: Ông Phạm Thanh H, sinh năm 1957. Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)

-Người kháng cáo: Ông Phạm Ngọc N2 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Nguyên đơn ông Huỳnh Thiện N trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau: Nguồn gốc đất tranh chấp do ông nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Văn H1 vào năm 2009. Khi nhận chuyển nhượng đất không có đo đạc thực tế mà chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận của ông H1 được cấp và sau này mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 444, tờ bản đồ số 05 với diện tích 1.511m2 loại đất trồng cây lâu năm. Diện tích đất giáp ranh với ông Phạm Ngọc N2 không có xác định các mốc ranh giới (trụ, công trình, hàng rào..) đến năm 2014 thì ông mới phát hiện phần đất đã bị lấn không đúng với diện tích đất đã được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện N yêu cầu ông Phạm Ngọc N2 phải trả lại diện tích đất đã lấn đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp diện tích 1511m2. Nhưng qua kết quả đo thực tế của mảnh trích đo địa chính số 24 do Công ty cổ phần Đ bản đồ và thiết kế xây dựng C lập ngày 02/7/2024 thống nhất với kết quả đo đạc và không có ý kiến gì thêm.

*Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông N, bị đơn ông Phạm Ngọc N2 có ý kiến như sau: Nguồn gốc đất hiện đang tranh chấp do cha ruột là ông Phạm Văn Ú tặng cho ông toàn bộ diện tích đất gồm các thửa 445+432+1257+458+470, tờ bản đồ số 5 đất tọa lạc ấp Phương Quới C, xã P, thành phố Cần Thơ nhưng không tiến hành đo đạc thực tế mà chỉ chỉnh lý trang 3 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong đó, có một phần diện tích đất thuộc thửa 445, tờ bản đồ số 5 với diện tích đất được cơ quan có thẩm quyền công nhận là 1.714,0m2 giáp với đất của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện N tức là chồng của bà Phạm Thị N1. Phần ranh giới giữa các bên được xác định có một con mương. Theo ông biết thì về nguồn gốc đất của ông Huỳnh Thiện N là nhận chuyển nhượng từ ông H1, không có đo đạc nhưng chỉ có tiến hành cặm trụ ranh với nhau, phần trụ giáp với sông bị sạt lỡ chỉ còn ranh phía trong là trụ đá và bụi đủng đỉnh. Đối với diện tích đất ông được cho và sử dụng ổn định tới nay không có chuyển nhượng hay cầm cố cho ai và không có khiếu nại trình tự, thủ tục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các thửa đất 1257, 432, 445 được cho năm 2017, trên phần đất này có một căn nhà cấp bốn nằm gần ranh đất với ông N. Theo kết quả đo đạc thực tế thì ông thống nhất. Riêng diện tích đất ông Phạm Hoàng D là em ruột ông đang trực tiếp quản lý, sử dụng cũng được ông Phạm Văn Ú tặng cho thuộc thửa 445, tờ bản đồ số 5 nhưng không có văn bản tài liệu chứng minh. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N thì ông không thống nhất và yêu cầu giải quyết đúng theo diện tích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho các bên.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoàng D trình bày:

Nguồn gốc đất ông đang quản lý sử dụng giáp với ranh đất của anh ruột là ông Phạm Ngọc N2 có được từ việc ông Phạm Văn Ú là cha ruột cho cách nay khoảng 20 năm nhưng không có giấy tờ và đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được xác định thuộc thửa 445, tờ bản đồ số 5. Đối với nội dung tranh chấp trong vụ án này ông không có yêu cầu.

*Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử sơ thẩm công khai. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 138/2025/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thiện N (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm Phạm Thị N1, Huỳnh Thiện Hữu T, Huỳnh Thị Hiếu G).

1.1.Buộc bị đơn ông Phạm Ngọc N2 trả diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn Phạm Thị N1, Huỳnh Thiện Hữu T, Huỳnh Thị Hiếu G có diện tích 433,8m2 thuộc thửa số 444, tờ bản đồ số 5. Vị trí số II mảnh trích đo địa chính số 24 do Công ty cổ phần Đ bản đồ và thiết kế xây dựng C lập ngày 02/7/2024 và phụ lục kèm theo.

1.2.Công nhận cho nguyên đơn diện tích đất 433,8m2 thuộc thửa số 444, tờ bản đồ số 5. Vị trí số II mảnh trích đo địa chính số 24 do Công ty cổ phần Đ bản đồ và thiết kế xây dựng C lập ngày 02/7/2024 và phụ lục kèm theo (Đính kèm mảnh đo địa chính).

2.Buộc bị đơn ông Phạm Ngọc N2 có nghĩa vụ di dời toàn bộ cây trồng, vật kiến trúc trên đất (01 cái Miếu thờ, một phần chuồng nuôi heo) vị trí số II mảnh trích đo địa chính số 24 do Công ty cổ phần Đ bản đồ và thiết kế xây dựng C lập ngày 02/7/2024 và phụ lục kèm theo.

3.Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.

*Ngày 04 tháng 12 năm 2025, bị đơn ông Phạm Ngọc N2 kháng cáo yêu

cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Tại phiên tòa phúc thẩm:

-Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý kháng cáo của bị đơn.

-Bị đơn vẫn giữ nguyên kháng cáo.

-Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm và xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, thấy rằng, cấp sơ thẩm xét xử đúng quy định nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]Về tố tụng: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N là anh Hữu T, cháu Hiếu G vắng mặt nhưng có bà N1 đại diện nên tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]Xét kháng cáo của bị đơn ông Phạm Ngọc N2:

[2.1] Qua diễn biến tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm và xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, thấy rằng, phần diện tích bên nguyên đơn được cấp tại thửa 444, tờ bản đồ số 5 có diện tích 1.511,0m2, thực tế chỉ 864,2m2 so với Giấy chứng nhận được cấp bị thiếu 646,8m2 (chưa tính phần tranh chấp), nếu tính phần tranh chấp thì vẫn thiếu 213m2. Phần đất bị đơn ông N2 đang quản lý nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 1714,0m2, thửa 445 tờ bản đồ số 5 giáp với diện tích đất đang tranh chấp của nguyên đơn, diện tích đất sử dụng thực tế 2.084,7m2 là thừa so với giấy được cấp 307,7m2 (chưa tính phần tranh chấp là 443,8m2). Tuy nhiên, việc xác định ranh giới đất không chỉ dựa vào việc thiếu hay thừa đất mà cần xác định qua nhiều chứng cứ khác như sự theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại 30 năm trở lên. Xét, nguồn gốc đất của nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ ông H1, khi chuyển nhượng không có chỉ ranh giới giao đất mà căn cứ vào giấy để chuyển nhượng, sau đó nguyên đơn làm thủ tục cấp giấy chứng nhận mới và theo như hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Thiện Nguyên D1 Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện P (cũ) cung cấp theo văn bản số 135/CN.VPĐKĐĐ ngày 07/3/2025 thể hiện sơ họa mốc giới thửa đất 444 của nguyên đơn thì phần đất thửa 445 là của ông Phạm Văn Ú (cha ruột Phạm Ngọc N2) đã ký tên giáp ranh với phần đất của nguyên đơn ông N, theo sơ họa mốc giới thửa đất của ông N ngày 17/6/2009 thì diện tích các cạnh cụ thể như sau: cạnh chiều ngang 30,2m (giáp Kênh rạch cũ) , 25,2m+29,9m (cạnh giáp thửa 431 của nguyên đơn, cạnh 25,2m (giáp thửa 458 của bị đơn), cạnh 36,2m+17,9m (cạnh giáp thửa 1257 và 445)). Nay đối chiếu với trích đo hiện tại thì đối với phần cạnh chiều ngang 30,2m (đoạn giáp Kênh rạch cũ) của nguyên đơn mất rất nhiều, hiện chỉ còn 17,46m, phần tranh chấp 9,94m là không đảm bảo diện tích cho nguyên đơn.

[2.2] Bên cạnh đó, theo như giấy đất nguyên đơn được cấp thì thửa 444 giáp thửa 432 của bị đơn (đoạn đầu trên cạnh 17,9m) và thửa 445 (đoạn đầu dưới cạnh 36,2m), thửa 432 của bị đơn trong giấy lại giáp thửa 1257 vẫn là của bị đơn rồi mới tới thửa 444 của nguyên đơn, là phù hợp với trích đo thực tế. Nay phần tranh chấp bị đơn cho rằng nằm trong thửa 445 là không đúng với hình thể của hai giấy hai bên được cấp vì phần tranh chấp thực tế giáp thửa 1257 của bị đơn và 444 của nguyên đơn, thửa 445 giáp sau lưng thửa 1257 và giáp bên hông thửa 444 từ đoạn giữa đi xuống tính từ Kênh rạch cũ nên không có căn cứ xác định phần tranh chấp thuộc thửa 445 của bị đơn mà thuộc thửa 444 của nguyên đơn. Do đó, kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.

[3]Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng nên giữ nguyên.

[4]Về chi phí tố tụng: giữ nguyên như án sơ thẩm

[4]Về phần án phí:

[4.1] Sơ thẩm: giữ nguyên như án sơ thẩm

[4.2] Phúc thẩm: bị đơn ông N2 phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

*Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

*Tuyên xử:

-Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Ngọc N2.

-Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 138/2025/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ.

- Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Phạm Ngọc N2 phải chịu 300.000đ. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0011450 ngày 04/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

35
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 645/2026/DS-PT ngày 25/06/2026

Số hiệu:645/2026/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/06/2026
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về