Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 593/2022/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 593/2022/DS-PT NGÀY 23/09/2022 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 19 và ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2022/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 142/2022/DS-ST ngày 22 tháng 04 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3758/2022/QĐ-PT ngày 11 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên toà số 10516/2022/QĐ-PT ngày 09 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 11494/2022/QĐ-PT ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc T, sinh năm 1957 (Có mặt); Địa chỉ: Số A, đường số D, tổ D, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn Đ - Luật sư thuộc đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt) 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1970 (Có mặt).

Địa chỉ: Số A, đường số D, tổ D, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lâm Tuấn K - Luật sư thuộc đoàn luật sư Thành phố H (Có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Lê Thị A, sinh năm 1950 (Có mặt);

Địa chỉ: Số A, đường số D, tổ D, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.2. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1974 (Có mặt);

Địa chỉ: Số A, đường số D, tổ D, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.3. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1959 (Có mặt);

Địa chỉ: Số A N, tổ I, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.5. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1965 (Có mặt);

Địa chỉ: Số A, đường số E, tổ C, ấp E, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.6. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1992 (Có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: số A, đường số D, tổ D, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.7. Ông Nguyễn Hoàng L2, sinh năm 1994 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, đường số D, tổ D, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Bị đơn - Ông Nguyễn Văn L

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 03/6/2019, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lê Ngọc T trình bày:

Cha mẹ bà là ông Lê Văn Đ1, hy sinh năm 1958 (liệt sỹ) và bà Lý Thị D, sinh năm 1925, mất năm 2013 (là người có công với cách mạng), cha mẹ bà có 03 người con là:

- Lê Thị A, sinh năm 1950;

- Lê Thị Pl, sinh năm 1953 (mất năm 2016), không có chồng con;

- Bà là Lê Ngọc T, sinh năm 1957.

Khi còn sống cha mẹ bà được cách mạng cấp cho phần đất có diện tích gần 6.000m2 để có nơi ăn chốn ở, từ đó cha mẹ bà sống trên mảnh đất này trước năm 1945 và sinh sống liên tục cho đến năm 2013 thì mẹ bà mất, đất đai để lại cho 03 chị em bà. Sau giải phóng Nhà nước có chủ trương đăng ký đất, mẹ bà có đăng ký theo Chỉ thị 299/TTg-CP và đăng ký theo Chỉ thị 02 nhưng cán bộ địa chính thời kỳ này không vào sổ sách. Tuy nhiên hàng năm mẹ bà đều có đóng thuế đất cho đến khi có chủ trương chính sách miễn thuế cho gia đình liệt sĩ thì không đóng nữa.

Khi Nhà nước có chủ trương kê khai đăng ký đất, gia đình bà đã đi đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 5.458,4m2, thửa đất số 65, tờ bản đồ số 34, còn lại phần đất có diện tích 430,9m2 chưa làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì trên đất có căn nhà tình nghĩa do Nhà nước cấp cho mẹ ông Nguyễn Văn L là bà Trần Thị Đ2. Lý do bà Đ2 ở trên đất của cha mẹ bà là vào năm 1965, khi lính dồn ấp chiến lược có nhiều hộ đến hỏi mẹ bà xin ở đậu, trong số đó có gia đình bà Trần Thị Đ2. Sau giải phóng các hộ dời về đất nhà để sinh sống, chỉ có hộ bà Đ2 xin ở đậu trên đất của gia đình bà, lúc này mẹ bà và bà Đ2 là đàn bà giá thân như chị em nên mẹ bà vẫn cho bà Đ2 ở.

Hộ bà Đ2 cũng là gia đình liệt sĩ nghèo, năm 1980 bà Đ2 được Nhà nước cấp nhà tình nghĩa, bà Đ2 xây trên đất của mẹ bà, mẹ bà không đồng ý và có kêu bà Đ2 về đất của bà Đ2 xây nhà (tại ấp P, xã P, huyện C) nhưng bà Đ2 khóc lóc năn nỉ xin cất nhà trên đất của mẹ bà và nói khi nào bà Đ2 chết bà Đ2 sẽ trả lại, vì thương người nên mẹ bà đồng ý nhưng chỉ cho xây nhà trên phần đất có diện tích ngang 4m x dài 7m. Năm 1990 bà Đ2 chết, nhà tình nghĩa con bà Đ2 là ông Nguyễn Văn L ở cho đến nay cùng với vợ con ông L. Năm 2001, ông L sống và sinh hoạt không thoải mái nên có làm đơn để về đất mẹ ông L ở ấp P, xã P, huyện C sống, kết quả hòa giải thành, ông L được sử dụng phần đất ngang 10m, dài 40m với tổng diện tích là 400m2 tại ấp P, xã P, huyện C. Khi biết ông L đã có đất sinh sống, mẹ ông có yêu cầu ông L di dời nhà tình nghĩa về đất nhà ông L sống nhưng ông L không đồng ý, đến nay ông L vẫn còn ở đậu trên đất của gia đình bà.

Khi bà và chị bà là bà Lê Thị A đi đăng ký đất đề được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông L gửi đơn ngăn chặn nên chưa được cấp giấy. Nay bà và chị bà vẫn tiếp tục đồng ý để cho ông L và gia đình tiếp tục quản lý sử dụng phần đất có diện tích 183,9m2 ngang x dài hết đất, trên đất có căn nhà tình nghĩa Nhà nước cấp cho bà Trần Thị Đ2, còn lại phần đất có diện tích 247m2 phải trả lại cho chị em bà.

Sau khi có kết quả đo đạc của Công ty TNHH MTV T2, theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 06/9/2019 có kiểm tra nội nghiệp của Văn phòng Đ5 Chi nhánh huyện C ngày 19/9/2019, diện tích đất thực tế sau khi đo đạc là 426,4m2, trong khi diện tích đất ông L có yêu cầu phản tố là 430m2, việc chênh lệch này có thể do sai số giữa tài liệu cũng và tài liệu kỹ thuật số, chị em bà không có ý kiến gì, diện tích đất bao nhiêu sẽ giải quyết bấy nhiêu, chị em bà vẫn đồng ý để cho ông L và gia đình tiếp tục quản lý sử dụng phần đất có diện tích 183,9m2, trên đất có căn nhà tình nghĩa Nhà nước cấp cho bà Trần Thị Đ2, còn lại phần đất có diện tích 242,5m2 phải trả lại cho chị em bà. Bà đồng ý bồi hoàn giá trị phần chái nhà đã xuống cấp và giá trị cổng sắt cho gia đình ông L.

* Tại bản tự khai ngày 05/08/2019, đơn yêu cầu phản tố ngày 16/8/2019, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn là ông Nguyễn Văn L trình bày:

Vào khoảng năm 1965, do dồn dân lập ấp chiến lược, chế độ cũ có cho mẹ ông là bà Trần Thị Đ2 cùng 04 hộ khác đến sống trên mảnh đất đang tranh chấp, cùng về sống có hộ gia đình của mẹ bà T là bà Lý Thị D, đất này theo ông được biết là đất của bà H địa chủ thời Pháp, sau này Nhà nước quản lý.

Mẹ ông và ông ở trên đất nói trên với diện tích khoảng 400m2, do không hiểu biết nên mẹ ông không đăng ký sử dụng đất tại chính quyền địa phương, năm 1989 mẹ ông được Nhà nước cấp nhà tình nghĩa, khi mẹ ông chết, gia đình ông tiếp tục thừa hưởng và sống trên đất do mẹ ông để lại cho đến nay. Cha mẹ ông có 06 người con, 03 người đã mất (trong đó có 02 người là liệt sỹ) không có vợ con, hiện còn lại ông, chị ông là bà Nguyễn Thị p và anh ông là ông Nguyễn Văn N.

Gia đình ông gồm ông, vợ là Nguyễn Thị L1, 02 con là Nguyễn Văn M, sinh năm: 1992 và Nguyễn Hoàng L2, sinh năm: 1994 đang sinh sống trên căn nhà tình nghĩa. Năm 2001 ông có tranh chấp đất với em họ tại ấp P, xã P, huyện C, em họ ông có nói sẽ chia cho ông 400m2 đất, ấp có làm biên bản nhưng không có ai ký tên vào, do đó việc chia đất này không thực hiện được nên ông và vợ con vẫn sống trên nhà tình nghĩa của mẹ mình.

Việc chị em bà T tranh chấp đất và nói đề cho gia đình ông tiếp tục quản lý sử dụng phần đất có diện tích 183,9m2 (trên đất có căn nhà tình nghĩa của mẹ ông) ông không đồng ý. Ông yêu cầu Tòa án công nhận cho gia đình ông được quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất 430m2.

Ông không có ý kiến gì về diện tích đất có sự chênh lệch theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 06/9/2019, có kiểm tra nội nghiệp của Văn phòng Đ5 chi nhánh huyện C ngày 19/9/2019, ông đồng ý với bản vẽ và diện tích đất tranh chấp là 426,4m2. về hàng rào trước nhà ông tháo ra là vì trước đây giữa gia đình ông và chị em bà T có lối đi chung, sau đó chị em bà T rào lại, xây cổng lớn nên gia đình ông không còn lối đi nào khác, buộc phải cắt bỏ hàng rào.

* Tại bản tự khai ngày 07/8/2019, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị A trình bày: Bà thống nhất với ý kiến của em bà là bà Lê Ngọc T, nếu yêu cầu khởi kiện của bà T được chấp nhận bà đồng ý cho bà T được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà không tranh chấp.

* Tại bản tự khai ngày 05/8/2019, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà thống nhất với ý kiến của chồng bà là ông Nguyễn Văn L.

* Tại bản tự khai ngày 05/8/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn M trình bày: Ông thống nhất với ý kiến của cha ruột ông là ông Nguyễn Văn L.

* Tại bản tự khai ngày 23/3/2012, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hoàng L2 trình bày: Ông thống nhất với ý kiến của cha mẹ ruột ông là ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L1.

* Tại bản tự khai ngày 09/8/2019, 11/11/2020, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị P trình bày: Bà là chị một của ông Nguyễn Văn L, từ nhỏ đến 05 tuổi (1964), bà sống với cha mẹ tại ấp P, xã P, huyện C. Từ năm 1965 bà đi cùng cha mẹ về sống tại phần đất đang tranh chấp ở ấp P, xã P, huyện C, đi theo chương trình dồn dân vào ấp chiến lược của chế độ M1 ngụy cho đến ngày giải phóng. Năm 1977 bà có gia đình và theo chồng về ấp P, xã P, huyện C sinh sống. Bà thống nhất với yêu cầu phản tố của ông L, bà không tranh chấp với ông L phần đất có diện tích 426,4m2 và đồng ý giao cho ông L cùng vợ con quản lý sử dụng.

* Tại bản tự khai ngày 10/8/2019 và 11/11/2020, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn N trình bày: Ông là anh một của ông Nguyễn Văn L, từ nhỏ ông sống với cha mẹ tại phần đất đang tranh chấp, năm 1993 ông lập gia đình và vẫn sinh sống tại đây, năm 1994 ông được Nhà nước hỗ trợ cấp nhà và đất theo chương trình di dân xóa đói giảm nghèo tại ấp E, xã P, huyện C. Ông thống nhất với yêu cầu phản tố của ông L, ông không tranh chấp với ông L phần đất có diện tích 426,4m2 và đồng ý giao cho ông L cùng vợ con quản lý sử dụng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 142/2022/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

- Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Khoản 10 Điều 12 và Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Ngọc T.

1.1. Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 242,5m2 theo tài liệu trước năm 1975 thuộc một phần lô đất số 468, tờ bản đồ số 5 P; theo tài liệu Chỉ thị 299/TTg thuộc một phần thửa đất số 212, tờ bản đồ số 4; theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB thuộc một phần thửa đất số 152, tờ bản đồ số 18, xã P, huyện C; theo tài liệu bản đồ địa chính (pháp lý năm 2003) thuộc một phần thửa đất số 165, tờ bản đồ số 34, xã P, huyện C cho bà Lê Ngọc T. Quyền sử dụng đất nêu trên thuộc Khu 2 Bản vẽ phác thảo diện tích từ Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 06/9/2019 của Công ty TNHH MTV T2 (kiểm tra nội nghiệp ngày 19/9/2019 tại Văn phòng Đ5 chi nhánh huyện C) cho bà Lê Ngọc T.

Trên quyền sử dụng đất có diện tích 242,5m2 có một phần chái nhà dựng tạm có diện tích 8,7m2 có kết cấu mái lợp tole, vách tole, nền đất, hiện đã xuống cấp. Trước khu đất là hàng rào lưới B40, trụ xi măng (do bà T xây dựng) và cổng sắt (do ông L xây dựng).

1.2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T việc bà T bồi hoàn cho ông L số tiền 8.955.000đ là trị giá phần chái nhà dựng tạm có diện tích 19,9m2 có kết cấu mái lợp tole, vách tole, nền đất, hiện đã xuống cấp và số tiền 985.600đ là trị giá cổng sắt có chiều ngang 3,5m, tổng cộng là 9.940.600đ.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn là ông Nguyễn Văn L.

Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 189,3m2 theo tài liệu trước năm 1975 thuộc một phần lô đất số 468, tờ bản đồ số 5 P; theo tài liệu Chỉ thị 299/TTg thuộc một phần thửa đất số 212, tờ bản đồ số 4; theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB thuộc một phần thửa đất số 152, tờ bản đồ số 18, xã P, huyện C; theo tài liệu bản đồ địa chính (pháp lý năm 2003) thuộc một phần thửa đất số 165, tờ bản đồ số 34, xã P, huyện C cho bà Lê Ngọc T. Quyền sử dụng đất nêu trên thuộc Khu 1 Bản vẽ phác thảo diện tích từ Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 06/9/2019 của Công ty TNHH MTV T2 (kiểm tra nội nghiệp ngày 19/9/2019 tại Văn phòng Đ5 chi nhánh huyện C) cho ông Nguyễn Văn L.

Trên quyền sử dụng đất có diện tích 189,3m2 có các công trình kiến trúc sau:

- 01 căn nhà tình nghĩa có diện tích 31,2m2 (số nhà A) có kết cấu mái lợp ngói âm dương, tường gạch xây tô, nền gạch bông, phía sau nhà có 01 phòng xây thêm có kết cấu mái lợp tole, tường tole, nền gạch bông;

- Tính từ đường số D nhìn vào phía bên trái sát căn nhà số A là một phần chái nhà dựng tạm có diện tích 19,9m2 có kết cấu mái lợp tole, vách tole, nền đất, hiện đã xuống cấp;

- Trước khu đất là hàng rào lưới B40, trụ xi măng (do bà T xây dựng) và cổng sắt (do ông L xây dựng).

3. Bà Lê Thị T1 và ông Nguyễn Văn L được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các quyền sử dụng đất đã được công nhận cho từng người như đã nêu tại mục [1] và [2].

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn L được miễn nộp tiền án phí do ông có thân nhân là liệt sĩ và là con của Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng Trần Thị Đ2.

Các mục [1], [2] và [3] thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

5. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Ngày 04/5/2022, bị đơn ông Nguyễn Văn L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã trình bày ở cấp xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn xác định diện tích đất tranh chấp 426,4m2 nằm trong diện tích 6000m2 cha mẹ nguyên đơn được cách mạng cấp năm 1945. Mẹ nguyên đơn cho bà Đ2 ở nhờ, cho xây nhà tình nghĩa trên đất nhưng chỉ nói miệng, không lập thành văn bản. Bản án sơ thẩm đã giải quyết vụ án đúng pháp luật nên nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Diện tích đất tranh chấp 426,4m2 là diện tích đất gia đình nguyên đơn đã sử dụng từ trước năm 1945 cùng phần diện tích 6000 m2. Căn cứ tài liệu do Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp thì “theo tài liệu Chỉ thị 02/CT- UB thuộc một phần thửa 152 tờ bản đồ số 18 xã P, huyện C ghi tên bà Nguyễn Thị M2 đăng ký”. Nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P đã ghi nhận phần đất bà Lý Thị D1 đang sử dụng theo Chỉ thị 299/TTG thuộc thửa đất 212 tờ 4 diện tích 5456 m2 loại đất thổ tập trung; theo TL 02/CT - UB thuộc thừa 152 tờ 18 diện tích 6366 m2, trong sổ mục kê ghi tên bà Nguyễn Thị M2; bà M2 là chủ đất cho bà D1 sử dụng; do trên phần đất này có 01 căn nhà của bà D1, 02 căn nhà tình nghĩa nên không thể cấp giấy chứng nhận. Như vậy, phần đất này là của bà D1 và việc không có tên bà D1 trong sổ địa chính là do có sự thiếu sót khi thực hiện kê khai. Gia đình nguyên đơn đã đóng thuế cho nhà nước đối với phần đất tranh chấp. Tại biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân phường P, huyện C giải quyết hòa giải tranh chấp đất giữa ông L và bà Phạm Xuân P2 ngày 13/12/2001, ông L thừa nhận ông L không có đất ở. Ngày 23/10/2006, Ủy ban nhân dân đã xác nhận nội dung này. Nguyên đơn cung cấp quyết định công nhận sự thỏa thuận về việc bà N1 không tranh chấp đất với nguyên đơn để tham khảo. Như vậy, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Bị đơn chỉ có quyền sử dụng đất đối với nhà tình nghĩa, không có quyền sử dụng đất với phần đất còn lại. Nguyên đơn đã đồng ý cho bị đơn sử dụng diện tích 189,3m2 là hợp lý. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn trình bày: Gia đình bị đơn cư ngụ tại đây từ năm 1965 đến nay. Do không hiểu biết nên cha mẹ bị đơn không đăng ký kê khai quyền sử dụng đất. Ngoài phần diện tích đất có căn nhà tình nghĩa thì bị đơn sử dụng diện tích đất còn lại có trồng cây và có căn nhà phụ như biên bản xem xét thẩm định ngày 04/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ghi nhận. Bị đơn không biết bà N2, bà L3, bà M2 là ai và lý do tại sao những người này đứng kê khai nhà đất. Bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị đơn trình bày: Nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh phần diện tích đất tranh chấp 424,5 m2 thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn. Tài liệu do văn phòng đăng ký đất đai cung cấp và xác nhận của UBND xã P không xác nhận phần đất tranh chấp là của nguyên đơn. Nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh đã đóng thuế đất với diện tích đất tranh chấp. Mặc dù bị đơn không đăng ký kê khai, đóng thuế đối với phần đất tranh chấp nhưng bị đơn đã thực tế sử dụng đất từ năm 1965 đến nay, đã được nhà nước cấp nhà tình nghĩa trên đất. Bản án sơ thẩm nhận định gia đình nguyên đơn sử dụng đất liên tục, lâu dài để công nhận quyền sử dụng đất 224,6 m2 cho nguyên đơn là không chính xác, không có cơ sở pháp lý và không phù hợp với chứng cứ của vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm:

- Về tố tụng: Từ ngày thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo của bị đơn nhận thấy:

Phần đất đang tranh chấp có diện tích 430,9m2 (đo đạc thực tế có diện tích 426,4m2) tọa lạc tại xã P, huyện C có nguồn gốc như sau:

Theo Văn bản số 1549/VPĐK-KTĐC ngày 19/02/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Đ5 và Văn bản số 237/UBND ngày 27/02/2020 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C thể hiện:

“Theo tài liệu trước năm 1975 thuộc một phần lô đất số 468, tờ bản đồ số 5 P, tên chủ là bà Trần Thị N3 đứng bộ (mua của Võ Văn L4 theo chứng thư chuyển nhượng so 5028 ngày 29/11/1926;

Theo tài liệu Chỉ thị 299/TTg thuộc một phần thửa đất số 212, tờ bản đồ số 4, xã P, huyện C không đăng ký;

Theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB thuộc một phần thửa đất số 152, tờ bản đồ số 18, xã P, huyện C ghi tên bà Nguyễn Thị M2 đăng ký;

Theo tài liệu bản đồ địa chính (pháp lý năm 2003) thuộc một phần thửa đất số 165, tờ bản đồ số 34, xã P, huyện C ghi tên bà Mai Ngọc L5 đăng ký”.

Theo trình bày của bà Lê Ngọc T: Nguồn gốc quyền sử dụng đất có diện tích 6.000m2 (bao gồm cả 426,4m2 đang tranh chấp) thuộc thửa đất số 165, tờ bản đồ số 34 trước đây là của cha mẹ bà được cách mạng cấp, cha mẹ bà có đăng ký đất nhưng do cán bộ xã làm việc tắc trách nên không ghi đầy đủ. Mặc dù theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB và sổ dã ngoại của xã P cùng do bà Nguyễn Thị M2 và bà Mai Ngọc L5 đăng ký, tuy nhiên khi bà kê khai đăng ký đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét quá trình quản lý sử dụng và đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 5.458,4m2 (trong đó có 500m2 đất bà Võ Thị N4, sinh năm 1959, ngụ tại số B tổ C, ấp A, xã T, huyện C đã thỏa thuận trả lại cho bà theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 71/2015/QĐST-DS ngày 25/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, trên đất có căn nhà tình nghĩa của bà Võ Thị L6 - mẹ bà N4, bà L6 cũng là một trong những hộ dân được mẹ bà cho về ở nhờ trên đất khi dồn ấp chiến lược), còn lại 426,4m2 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do có căn nhà tình nghĩa của bà Trần Thị Đ2 - mẹ bị đơn.

Theo trình bày của ông Nguyễn Văn L: Phần đất có diện tích 424,6m2 mẹ ông là bà Trần Thị Đ2 về sống từ năm 1965, đến năm 1989 bà Đ2 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp nhà tình nghĩa theo Quyết định cấp căn nhà tình nghĩa cho hộ chính sách số 296/QĐ-UB ngày 17/10/1989 (do Ban quản lý người tị nạn xây tặng).

Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/9/2019 và theo Bản vẽ phác thảo diện tích từ Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 06/9/2019 của Công ty TNHH MTV T2 (kiểm tra nội nghiệp ngày 19/9/2019 của Văn phòng Đ5 chi nhánh huyện C) thì trên phần đất có diện tích 242,5m2 có một phần chái nhà dựng tạm có diện tích 8,7m2 có kết cấu mái lợp tole, vách tole, nền đất, hiện đã xuống cấp.

Theo Biên bản định giá ngày 27/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện C thì chái nhà có giá trị là 900.000đ/m2 x 19,9m2 x 50% = 8.955.000 đồng và cổng sắt (có chiều ngang 3,5m) có già là 704.000đ x 3,5m x 40% = 985.600đồng.

Xét thấy:

Các bên đương sự đều trình bày từ nhỏ đến lớn sinh sống tại phần đất đang tranh chấp từ trước giải phóng, tuy nhiên không bên nào cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh phần đất tranh chấp có diện tích 424,6m2 nói trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Các đương sự không biết bà Trần Thị N3, bà Nguyễn Thị M2 và bà Mai Ngọc L5 là ai và chính quyền địa phương cũng không cung cấp được địa chỉ của những người này.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn có cung cấp cho Tòa án Quyết định cấp căn nhà tình nghĩa cho hộ chính sách số 296/QĐ-UB ngày 07/10/1989 của Ủy ban nhân dân huyện C được xây dựng trên phần đất tranh chấp cho bà Trần Thị Đ2 là mẹ của bị đơn. Lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải thu thập hồ sơ liên quan đến việc cấp nhà tình nghĩa nêu trên vì đây là chứng cứ quan trọng để làm căn cứ giải quyết vụ án nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Tòa án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Văn bản số 10515/TATP-TDS ngày 08/8/2022 đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C cung cấp hồ sơ liên quan đến việc cấp nhà tình nghĩa cho bà Trần Thị Đ2 nhưng đến phiên tòa hôm nay, Ủy ban nhân dân huyện C chưa thực hiện.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ và chứng minh mà tại cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.

Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L.

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, hủy Bản án sơ thẩm số 142/2022/DS-ST ngày 22/4/2022 và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, TP. giải quyết lại vụ án.

+ Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn được miễn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thời hạn kháng cáo: Ngày 22/4/2022, Toà án nhân dân huyện Củ Chi ban hành bản án dân sự sơ thẩm số 142/2022/DS-ST. Ngày 04/5/2021 bị đơn ông Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm, căn cứ điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự ông Nguyễn Văn L kháng cáo trong thời hạn luật định.

[2] Về sự có mặt của các đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Hoàng L2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông M và ông L2.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn về việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn:

Theo tài liệu do Văn phòng Đăng ký Đất đai Thành phố Đ5 cung cấp thì phần đất các đương sự tranh chấp có nguồn gốc như sau:

“Theo tài liệu trước năm 1975 thuộc một phần lô đất số 468, tờ bản đồ số 5 P, tên chủ là bà Trần Thị N3 đứng bộ (mua của Võ Văn L4 theo chứng thư chuyển nhượng số 5028 ngày 29/11/1926;

Theo tài liệu Chỉ thị 299/TTg thuộc một phần thửa đất số 212, tờ bản đồ số 4, xã P, huyện C không đăng ký;

Theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB thuộc một phần thửa đất số 152, tờ bản đồ số 18, xã P, huyện C ghi tên bà Nguyễn Thị M2 đăng ký;

Theo tài liệu bản đồ địa chính (pháp lý năm 2003) thuộc một phần thửa đất số 165, tờ bản đồ số 34, xã P, huyện C ghi tên bà Mai Ngọc L5 đăng ký”.

Nguyên đơn trình bày phần đất tranh chấp là một phần của diện tích đất 6.000m2 cha mẹ nguyên đơn được cách mạng cấp và gia đình nguyên đơn đã quản lý, sử dụng đất, kê khai đăng ký, đóng thuế từ năm 1945 đến nay. Nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C tại Giấy xác nhận ngày 28/12/2009 của bà Lý Thị D1 thể hiện “Phần đất bà Lý Thị D1 đang sử dụng theo tài liệu Chỉ thị 299/TTg thuộc thửa 212, tờ 4, diện tích 5456m2 loại đất thổ tập trung. Theo tài liệu 02/CT-UB thuộc một phần thửa 152, tờ 18, diện tích 6360m2, trong sổ mục kê ghi tên bà Nguyễn Thị M2. Bà M2 là chủ đất cho bà D1 sử dụng. Bà D1 sử dụng phần đất này từ trước năm 1971 đến nay. Có đăng ký theo chỉ thị 02/CT-UB, nhưng trên phần đó có 1 căn nhà của bà D1, 2 căn nhà tình nghĩa nên không thể cấp giấy CNQDSĐ cho bà D1”. Như vậy, nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, lời khai của nguyên đơn và việc kê khai đăng ký sử dụng đất qua các thời kỳ có sự mâu thuẫn với nhau. Nguyên đơn khai nguồn gốc đất được cách mạng cấp cho cha mẹ nguyên đơn, Ủy ban nhân dân xã P xác nhận mẹ nguyên đơn - bà D1 sử dụng trên cơ sở được bà Nguyễn Thị M2 chủ đất cho sử dụng và theo tài liệu lưu trữ thì trước năm 1975 phần đất này do bà Trần Thị N3 đứng bộ (mua của Võ Văn L4 theo chứng thư chuyển nhượng số 5028 ngày 29/11/1926). Căn cứ lời khai của nguyên đơn và bị đơn thì cha mẹ của bị đơn đã ở tại phần đất tranh chấp từ năm 1965 đến nay. Trong khi đó, theo tài liệu bản đồ địa chính (pháp lý năm 2003) thuộc một phần thửa đất số 165, tờ bản đồ số 34, xã P, huyện C ghi tên bà Mai Ngọc L5 đăng ký. Như vậy, cả nguyên đơn, bị đơn đều khai là người trực tiếp sử dụng đất nhưng không kê khai đăng ký sử dụng đất đối với phần đất mình đang quản lý sử dụng. Nguyên đơn không giao nộp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cha mẹ của nguyên đơn được nhà nước cấp đất; Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ tình tiết của vụ án liên quan đến nguồn gốc đất, giải quyết mâu thuẫn giữa lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập được. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của đương sự về việc các đương sự sinh sống từ nhỏ đến nay tại phần đất tranh chấp nhưng không biết bà M2, bà L5, bà N3 là ai nên không đưa họ vào tham gia tố tụng trong khi chưa thực hiện thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân bà Trần Thị N3, bà Nguyễn Thị M2 và bà Mai Ngọc L5 đăng ký sử dụng đất đối với phần đất đang tranh chấp, xác minh thông tin về nơi cư trú của họ và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ trong trường hợp có người kê khai, sử dụng phần đất tranh chấp đã chết là thiếu sót.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào việc bà Võ Thị N4, sinh năm 1959, ngụ tại số B tổ C, ấp A, xã T, huyện C đã thỏa thuận trả lại cho nguyên đơn 500m2 đất trên đất có căn nhà tình nghĩa của bà Võ Thị L6-mẹ bà N4, bà L6 cũng là một trong những hộ dân được mẹ nguyên đơn cho về ở nhờ trên đất khi dồn ấp chiến lược theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 71/2015/QĐST-DS ngày 25/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi và nội dung của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C tại Giấy xác nhận ngày 28/12/2009 của bà Lý Thị D1 để khẳng định cha mẹ nguyên đơn có cho nhiều hộ dân về sống trên phần đất có diện tích hơn 6.000m2, trong đó có hộ bà Võ Thị N4 đã trả lại đất cho bà T là chưa đủ cơ sở bởi nội dung Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 71/2015/QĐST-DS ngày 25/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi chỉ thể hiện bà N4 bà Đ3 không yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 500m2 với bà T và bà A; bà T và bà A trả tiền cho bà N4; xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P chỉ thể hiện trên đất có 02 căn nhà tình nghĩa, không có nội dung nào cho thấy Ủy ban nhân dân xã p xác nhận bà D1 cho cha mẹ bị đơn ở nhờ trên đất.

Các biên lai thu thuế đất nông nghiệp, thông báo nộp thuế nguyên đơn giao nộp chỉ thể hiện việc bà D1 nộp thuế đất nông nghiệp đối với phần đất có diện tích 5600 m2, nộp thuế đất ở với diện tích chịu thuế 210 m2, không đủ cơ sở xác định bà D1 đã quản lý, sử dụng và đóng thuế đối với phần đất tranh chấp qua các thời kỳ như bản án sơ thẩm đã nhận định.

Căn cứ Quyết định số 296/QĐ-UB ngày 17/10/1989 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc cấp căn nhà tình nghĩa cho hộ chính sách thì bà Trần Thị Đ2 được cấp căn nhà B ấp P, xã P. Nội dung quyết định này không thể hiện về quyền sử dụng đất đối với phần đất sử dụng để xây nhà, phần đất xung quanh. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu, chứng cứ là hồ sơ đề nghị cấp nhà tình nghĩa cho bà Nguyễn Thị Đ4 để xác định lý do Ban quản lý người tử nạn xây tặng căn nhà trên phần đất tranh chấp, nếu đất đã cấp cho và Lý Thị D1 hoặc bà Lý Thị D1 quản lý sử dụng từ trước năm 1971 đến nay thì giữa bà D1, bà Đ4 có thỏa thuận, giao dịch nào liên quan đến việc sử dụng đất hay không, chỉ căn cứ vào việc gia đình bị đơn không kê khai sử dụng đất qua các thời kỳ để xác định yêu cầu của bị đơn là không có cơ sở để xem xét, công nhận bị đơn có quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 189,3 m2/ 426,4 m2 (trên đất có căn nhà tình nghĩa của bà Trần Thị Đ2) do nguyên đơn đồng ý giao là chưa đủ căn cứ. Theo công văn số 7987/UBND-LĐTBXH ngày 07/9/2022 của Ủy ban nhân dân huyện C công văn yêu cầu xác minh, cung cấp tài liệu, chứng cứ số 10515/TATP-TDS ngày 08/8/2022 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thì hiện nay Ủy ban nhân dân huyện C chưa tìm thấy hồ sơ cũng như Quyết định số 296/QĐ-UBND ngày 17/10/1989 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc cấp nhà tình nghĩa cho hộ chính sách. Như vậy, chưa có cơ sở để xác định việc cấp nhà tình nghĩa cho bà Trần Thị Đ2 là cấp nhà trên đất của bà Lý Thị D1 cho mượn hay trên đất bà Đ2 đã sử dụng ổn định từ năm 1965 đến nay như nguyên đơn, bị đơn đã trình bày.

Toà sơ thẩm không tiến hành xác minh về hàng thừa kế của bà D1 và bà Đ2 mà chỉ căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và bị đơn về những người thừa kế của bà D1, bà Đ2 và đưa những người này vào tham gia tố là chưa đủ căn cứ.

Tại phần quyết định, toà sơ thẩm tuyên: “Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 242,5m2 theo tài liệu trước năm 1975 thuộc một phần lô đất số 468, tờ bản đồ số 5 P; theo tài liệu Chỉ thị 299/TTg thuộc một phần thửa đất số 212, tờ bản đồ so 4; theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB thuộc một phần thửa đất số 152, tờ bản đồ so 18, xã P, huyện C; theo tài liệu bản đồ địa chính (pháp lý năm 2003) thuộc một phần thửa đất số 165, tờ bản đồ số 34, xã P, huyện C cho bà Lê Ngọc T. Quyền sử dụng đất nêu trên thuộc Khu 2 Bản vẽ phác thảo diện tích từ Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 06/9/2019 của Công ty TNHH MTV T2 (kiểm tra nội nghiệp ngày 19/9/2019 tại Văn phòng Đ5 chi nhánh huyện C) cho bà Lê Ngọc T” và “Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 189,3m2 theo tài liệu trước năm 1975 thuộc một phần lô đất số 468, tờ bản đồ số 5 P; theo tài liệu Chỉ thị 299/TTg thuộc một phần thửa đất số 212, tờ bản đồ số 4; theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB thuộc một phần thửa đất số 152, tờ bản đồ số 18, xã P, huyện C; theo tài liệu bản đồ địa chính (pháp lý năm 2003) thuộc một phần thửa đất số 165, tờ bản đồ số 34, xã P, huyện C cho bà Lê Ngọc T. Quyền sử dụng đất nêu trên thuộc Khu 1 Bản vẽ phác thảo diện tích từ Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 06/9/2019 của Công ty TNHH MTV T2 (kiểm tra nội nghiệp ngày 19/9/2019 tại Văn phòng Đ5 chi nhánh huyện C) cho ông Nguyễn Văn L”. Tuy nhiên, tại Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 06/9/2019 của Công ty TNHH MTV T2 (kiểm tra nội nghiệp ngày 19/9/2019 tại Văn phòng Đ5 chi nhánh huyện C) không thể hiện có Khu 1, Khu 2 với diện tích và vị trí như đã nêu tại phần quyết định của bản án sơ thẩm. Bản vẽ phác thảo đính kèm theo bản án không thể hiện vị trí diện tích của khu 1 và khu 2 trong tổng thể diện tích đất tranh chấp, không có tài liệu, chứng cứ thể hiện bản vẽ phác thảo này được lập bởi cơ quan, tổ chức có chức năng đo vẽ hiện trạng nhà đất nên không thể sử dụng làm căn cứ để xác định diện tích, hiện trạng đất như trong bản án sơ thẩm đã quyết định.

Từ những phân tích trên, do toà sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ mà tại phiên toà phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên cần hủy bản án sơ thẩm, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc sửa bản án sơ thẩm.

[4] Vì các lý do trên, kháng cáo của bị đơn không có cơ sở chấp nhận, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là có căn cứ; hủy bản án sơ thẩm số 142/2022/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 273, khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L.

2. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 142/2022/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

79
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 593/2022/DS-PT

Số hiệu:593/2022/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về