Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 54/2025/DS-ST ngày 28/08/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 54/2025/DS-ST NGÀY 28/08/2025 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2020/TLST-DS ngày 02/6/2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-DS ngày 05/8/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Mỹ L, sinh năm 1959.

Địa chỉ: 493/12-14, đường C, p13, quận X, TP. Hồ Chí Minh (cũ), nay là 493/12-14, đường Cách C, phường H, TP. Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ 3, khu phố H P, phường P T, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984. Địa chỉ: tổ 3, khu phố L Đ 3, phường T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần N, sinh năm 1957. Địa chỉ cũ: Số 40 (L1) Trần Xuân H, phường X, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ mới: 493A/106, đường C, phường H, TP. Hồ Chí Minh (Ông N là chồng của bà L).

+ Ông Đặng Huy S, sinh năm 1970. Địa chỉ cũ: Tổ 3, khu phố H P, phường P, tỉnh Đồng Nai.

(Bà L, ông T có mặt, các đương sự khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản công khai chứng cứ, và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Bà Phạm Mỹ L là chủ sở hữu trọn thửa đất số 207, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã A, tỉnh Đồng Nai). Thửa đất của bà bị lấn chiếm mất gần 2.000 m2 (Tổng diện tích thửa đất của bà L được cấp là 10.146m2 vào năm 2002).

Năm 2017, bà Phạm Mỹ L đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom (cũ) đề nghị ông Trần Văn P (chủ thửa đất số 206) và bà Trịnh Thị B (chủ thửa đất 178) trả lại cho bà phần diện tích đất tại thửa 207, tờ bản đồ số 3 xã A mà ông P, bà B đã lấn chiếm.

Năm 2020, căn cứ vào Bản đo vẽ được ký ngày 30/03/2018, bà L đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đề nghị bà Trần Thị Kim L là chủ sở hữu trọn thửa đất số 1650 trả lại cho bà L phần diện tích lấn chiếm là 1232m2.

Tuy nhiên, hơn 7 năm qua mà vụ án chưa có kết quả. Ngày 02/12/2024, bà L có ghi và ký trong biên bản đối chất ngày 28/11/2024 xác nhận không ủy quyền cho Luật sư Trần Hữu T và bà L tự liên hệ với Tòa để giải quyết vụ án (Bút lục 131).

Ngày 04/3/2025, bà L đã gửi đến Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đơn phản hồi làm việc (Vì bà L bận công việc không thể đến Tòa theo thư mời) và có đính kèm tài liệu theo đơn. Trong đơn bà đã cung cấp cho Tòa đầy đủ các tài liệu và kiến nghị.

Bà có nhận được công văn số 151 của Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Trảng Bom ký ngày 25/02/2025 và ngày 17/03/2025 bà đã gửi công văn này cho Thẩm Phán trực tiếp giải quyết vụ án.

Bà L có nhận được thư mời của tòa tổ chức họp ngày 02/4/0225, do gia đình bận, không dự họp được, bà đã phản hồi đến Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án ngày 30/3/2025.

* Tại phiên tòa bà Phạm Mỹ L trình bày 2 vấn đề cụ thể như sau:

- Bà L cho rằng bản đo vẽ được ký ngày 12/04/2016 thể hiện rất rõ ràng thực tế về hình thể thửa đất 207 của bà đã bị chia làm 2 phần: thửa 207a là phần bà đang sử dụng và thửa 207b là phần đất của bà bị lấn chiếm bởi hộ của ông Trần Văn P và hộ của bà B. Tổng hợp 207a và 207b có hình thể và ranh thửa đất phù hợp với hiện trạng ban đầu khi bà mua đất và nhận ranh (Bản đồ giải thửa xã A). Ngoài ra, khi nhận ranh bà chỉ được bàn giao phần ranh phía bên này hướng về phía ông P, không có phần đất nào lấn qua cái mương được ngăn cách giữa thửa đất 207 của bà với thửa đất 1650 của bà L. Nhưng do bản đo vẽ ngày 30/03/2018 của Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh Trảng Bom là cơ quan chức năng thực hiện pháp lý nên bà đã khởi kiện bà L (bà cũng khẳng định bản vẽ này có hình thể đất không giống hình thể thửa đất 207 của bà ban đầu và diện tích lấn chiếm không phù hợp).

- Bà L và các hộ liền kề là chủ sở hữu của những thửa đất riêng biệt như thửa 178 (bà B), thửa 206 (ông P), thửa 207 (bà L), 1650 (bà L). Thông tin này thể hiện phần đất của bà bị mất là do các hộ liền kề lấn chiếm chứ không có việc tranh chấp ranh giới sử dụng đất trong cùng thửa đất (không có ai là chủ sở hữu 1 phần của thửa đất 207).

Vụ kiện đã quá lâu rồi mà chưa được giải quyết, bà L kiến nghị Tòa án huyện Trảng Bom, trong phạm vi thẩm quyền của mình liên hệ Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh Trảng Bom là cơ quan chức năng đã thực hiện 5 bản vẽ mà Tòa đã thụ lý trong các bộ hồ sơ mà bà khởi kiện (bà L có nộp tài liệu đính) yêu cầu cơ quan này xác định chính xác bản vẽ nào là đúng với thửa đất 207 của gia đình bà. Đây là yếu tố pháp lý để làm căn cứ cho Tòa xét xử và làm thủ tục để thu hồi phần đất của bà bị lấn chiếm bởi các hộ liền kề đưa vào hồ sơ cấp đổi sổ mới cho bà đúng với hình thể đất như ban đầu vì trong suốt thời gian qua thửa đất 207 của bà không có biến động vì bà không chuyển nhượng cho ai. Ngoài ra, bà cũng đề nghị Tòa lưu ý, xem xét các yếu tố biến động do sang nhượng phần đất lấn chiếm 207 của bà đối với các hộ liền kề kể từ khi bàbắt đầu khởi kiện năm 2017.

* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn- ông Nguyễn Văn T trình bày:

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn vì bà Trần Thị Kim L không lấn đất của bà L. Bà L chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 1596,8m2 tại thửa đất số 1650, tờ bản đồ số 3, xã A và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp giấy đúng quy định pháp luật. Bà Phạm Mỹ L khởi kiện không đưa ra được căn cứ chứng minh nên việc khởi kiện của bà L là không có căn cứ.

Trong quá trình chuyển đổi mục đích thì phát hiện bà Phạm Mỹ L khởi kiện không đúng. Sau này phát sinh chi phí chuyển đổi mục đích thì bà L phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông S có đơn xin vắng mặt và tài sản đang trang chấp không có liên quan gì đến ông S.

* Ông Trần N (chồng bà L) đã được triệu tập đến Tòa án nhiều lần nhưng ông N thường xuyên vắng mặt nên không có lời trình bày. Tại phiên tòa bà L vợ của ông N và cũng là nguyên đơn trong vụ án cho rằng ông N đã chuẩn bị cùng đến Tòa án với bà L nhưng vì lý do đột xuất nên không đến được và sẽ có đơn vắng mặt bổ sung sau.

* Ý kiến của kiểm sát viên:

+ Ý kiến về việc tuân theo pháp luật: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử về thành phần đúng quy định, đảm bảo sự vô tư, khách quan, không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng theo Điều 52 Bộ luật tố tụng dân sự. Thủ tục phiên tòa dân sự từ khi bắt đầu cho đến thời điểm này được HĐXX thực hiện đầy đủ, đúng quy định của BLTTDS.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Bà Phạm Mỹ L khởi kiện bà Trần Thị Kim L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Bà L không đưa ra được căn cứ chứng minh về việc khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Mỹ L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Mỹ L khởi kiện bà Trần Thị Kim L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với thửa đất số 1650, tờ bản đồ số 3, xã A, huyện T cũ nay là xã A, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom nay là Tòa án nhân dân khu vực 3- Đồng Nai.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Phạm Mỹ L thì thấy:

Năm 2002, bà L có mua một thửa đất số 207, tờ bản đồ số 03, diện tích 10.146m2 tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Nay là xã A, tỉnh Đồng Nai).

Năm 2016, khi tiến hành đo đạc lại thì phát hiện diện tích bị lấn chiếm, bà đã làm đơn khởi kiện ông Trần Văn P và bà Trịnh Thị B (bà L ủy quyền cho Luật sư Trần Hữu T) nhưng sau đó rút đơn khởi kiện đối với ông P, bà B (rút đơn năm 2018). Căn cứ vào bản đo vẽ được ký ngày 30/03/2018, bà L đã khởi kiện ra Tòa án Nhân dân huyện Trảng Bom đề nghị bà Trần Thị Kim L là chủ sở hữu trọn thửa đất số 1650, tờ bản đồ số 3, xã A trả lại cho bà L phần diện tích lấn chiếm là 1232m2.

[3] Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà L là không có căn cứ, bởi lẽ: Căn cứ vào trích lục đo vẽ số 1527 ngày 20/3/2023 thì thể hiện ranh mốc rõ ràng giữa thửa đất 207 và 1650, tờ bản đồ số 3 xã A. Bà L không lấn chiếm đất của bà L. Điều này cũng đã thể hiện rõ tại lời khai của bà L, cụ thể:

“ Bản đo vẽ được ký ngày 12/04/2016 thể hiện rất rõ ràng thực tế về hình thể thửa đất 207 của bà đã bị chia làm 2 phần: thửa 207a là phần đất bà đang sử dụng và thửa 207b là phần đất của bà bị lấn chiếm bởi hộ của ông Trần Văn P và hộ của bà B. Tổng hợp 207a và 207b có hình thể và ranh thửa đất phù hợp với hiện trạng ban đầu khi bà L mua đất và nhận ranh. Ngoài ra, khi nhận ranh bà chỉ được bàn giao phần ranh phía bên này hướng về phía ông P, không có phần đất nào lấn qua cái mương được ngăn cách giữa thửa đất 207 của bà với thửa đất 1650 của bà L”. Trong quá trình khởi kiện bà L không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà Trần Thị Kim L lấn chiếm đất của bà L.

Tại phiên tòa bị đơn cho rằng nếu bà L khởi kiện sai thì phải thanh toán cho bị đơn chi phí đi lại, tiền phát sinh chuyển mục đích sau này. Yêu cầu này của bị đơn không được xem xét. Bị đơn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án khác

[3] Chi phí tố tụng: Do yêu cầu bà L không được chấp nhận, bà L phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 4.000.000đ. Bà L đã nộp đủ.

[4] Về án phí dân sự: Do yêu cầu khởi kiện của bà L không được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí DSST.

[5] Lời phát biểu của Kiểm sát viên phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 5, 12, 167, 169, 170, 202, 203 và Điều 208 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 8, 160, 163, 164 và Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Mỹ L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn bà Trần Thị Kim L.

2. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Mỹ L phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng, cụ thể: Chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, trích lục hồ sơ là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Bà L đã nộp đủ số tiền trên.

3. Bà Phạm Mỹ L nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) bà L đã nộp theo biên lai thu số 0007297 ngày 29/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai) được khấu trừ cho bà L. Bà L đã nộp đủ án phí.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày. Người có mặt kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

67
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 54/2025/DS-ST ngày 28/08/2025

Số hiệu:54/2025/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/08/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về