Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 51/2023/DS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 51/2023/DS-PT NGÀY 27/07/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong các ngày 25 và ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2023/TLPT-DS ngày 07/6/2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện B2, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXX-PT ngày 30/6/2023 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị A, sinh năm 1929; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hữu B - Sinh năm 1967 Đều TT: Khu 1, xã B1, huyện B2, tỉnh Phú Thọ

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tạ Gia C và bà Nguyễn Thị Kim C1- Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Phú Thọ và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh Phú Thọ

Đồng bị đơn:

1. Anh Phạm Hữu D, Sinh năm 1967;

2. Anh Trần Quốc E, Sinh năm 1971;

3. Anh Nguyễn Ngọc F, Sinh năm 1975;

4. Anh Nguyễn Văn G, Sinh năm 1976. Đều trú tại: Khu 2, xã B1, huyện B2, tỉnh Phú Thọ - Người đại diện theo ủy quyền cho đồng bị đơn: Ông Nguyễn Duy H và bà Nguyễn Kiều H1 - Đều là nhân viên Công ty Luật H2 Địa chỉ: Ngõ 34, số 187 H3, phường H4, quận H5, thành phố Hà Nội - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đồng bị đơn: Luật sư Đặng Phương I và Luật sư Nguyễn Thị M I1 - Thuộc Công ty Luật H2;

Địa chỉ: Ngõ 34, số 187 H3, phường H4, quận H5, thành phố Hà Nội

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Hữu B - Sinh năm 1967; Địa chỉ: Khu 1, xã B1, huyện B2, tỉnh Phú Thọ)

2. Bà Phạm Thị J - Sinh năm 1957; Địa chỉ: Khu 5, thị trấn B2, huyện B2, tỉnh Phú Thọ

3. Bà Phạm Thị J1- Sinh năm 1959; Địa chỉ: Khu 4, xã B1, huyện B2, tỉnh Phú Thọ

4. Bà Phạm Thị J2 - Sinh năm 1963; Địa chỉ: Khu 2, xã B1, huyện B2, tỉnh Phú Thọ

5. Chị Phạm Thị Kim J3 - Sinh năm 1971; Địa chỉ: Phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc bà J, bà J1, bà J2, chị J3 ủy quyền cho: Ông Phạm Hữu B tham gia tố tụng tại Tòa án theo văn bản ủy quyền ngày 18/6/2022

6. Ông Trần Văn K - Sinh năm 1967; Địa chỉ: Khu 2, xã B1, huyện B2, tỉnh Phú

7. Chị Trần Thị K1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu 2, xã B1, huyện B2, tỉnh Phú Thọ

8. UBND xã B1, huyện B2, tỉnh Phú Thọ; Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Xuân K2 - Chủ tịch UBND Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn K3 - Chức vụ: Công chức địa chính xã.

(ông K, ông K3 vắng mặt, những người tham gia tố tụng khác có mặt)

Người kháng cáo: Ông Phạm Hữu D, ông Trần Quốc E, ông Nguyễn Ngọc F, ông Nguyễn Văn G bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày quan điểm như sau:

Cụ Phạm Hữu L (tên gọi khác Phạm Hữu L1) có kết hôn với người vợ thứ nhất là cụ Nguyễn Thị L2, quá trình chung sống không có con chung, nên đến khoảng năm 1956 cụ L2 đứng ra lấy cụ Nguyễn Thị A làm vợ hai cho cụ L, cụ A và cụ L sinh được 05 người con là các ông bà: Phạm Thị J, Phạm Thị J1, Phạm Thị J2, Phạm Hữu B và Phạm Thị Kim J3. Từ năm 1956 cụ L, cụ L2, cụ A và các con đều chung sống hòa thuận cùng nhau. Hiện nay cụ L, cụ L2 đều đã chết (cụ L chết năm 1997; cụ L2 chết năm 2021) cụ A hiện đang sống cùng con trai là Phạm Hữu B. Năm 1991 cụ L được UBND huyện TT (nay là UBND huyện B2, tỉnh Phú Thọ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A470611 ngày 10/6/1991 tại số thửa 13, tờ bản đồ số 4, diện tích 870m2 loại đất thổ cư tại khu 2, xã B1, huyện B2, đất đứng tên cụ Phạm Hữu L. Vào khoảng tháng 8/1992 mẹ vợ của ông Trần Kim M là cụ Nguyễn Thị M1 ốm nặng, do gia đình ông M đang đi lối đi nhỏ không được thuận tiện trong việc an táng nên ông Trần Kim M có sang hỏi mượn đất để mở một lối đi thẳng ra sông cho thuận tiện. Ban đầu cụ L không đồng ý nhưng do nhà ông C sang nói nhiều lần nên cụ L đồng ý cho mở lối đi thẳng ra sông với diện tích khoảng 85m2. Do đó các hộ phía trong là anhTrần Quốc E (con trai ông Trần Kim M), anh Phạm Hữu D, ông Nguyễn Ngọc N (con trai là Nguyễn Ngọc F) đã tháo dỡ hàng rào mở lối đi. Khi đó do gia đình cụ L chăn nuôi lợn, gà, vịt nên có xây tạm bức tường bằng gạch ba vanh để ngăn không cho gia súc, gia cầm ra ngoài. Sau đó các hộ này đã đổ bê tông làm đường đi và sử dụng cho đến nay. Một thời gian sau hộ anh Thắng chuyển đến và tiếp tục cùng sử dụng con đường này. Sau khi cụ M1 mất do chưa có nhu cầu sử dụng nên gia đình cụ L chưa đòi lại. Phần đất này hiện nay vẫn nằm toàn bộ trong phần diện tích đất thổ cư của gia đình cụ L. Hàng năm gia đình cụ L đại diện là ông B vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế với nhà nước. Đến nay do có nhu cầu sử dụng nên cụ A (vợ cụ L) có sang yêu cầu các hộ đang sử dụng đất trả lại phần đất này nhưng các anh Phạm Hữu D, Trần Quốc E, Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G không đồng ý trả. Nay cụ A đại diện là ông B khởi kiện đề nghị Tòa án:

Xác định phần diện tích đất các hộ đã mượn làm lối đi, theo kết quả thẩm định của Tòa án là 83,2m2 đất nằm trong phần diện tích 870m2 thửa 13, tờ bản đồ số 4 thuộc quyền sử dụng của cụ Phạm Hữu L.

Buộc các anh Phạm Hữu D, Trần Quốc E, Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G phải trả lại phần diện tích đất các hộ đã mượn làm lối đi là 83,2m2 cho gia đình ông.

Hủy bỏ biên bản “Giải quyết về việc mở cổng khu vực đội 2” ngày 28/8/1992 do UBND xã B1 lập vì biên bản này là giả không có giá trị pháp lý vì cụ Phạm Hữu L - chủ đất không ký biên bản, ông B không tham gia phiên họp nhưng lại giả chữ ký của ông.

Đối với trị giá phần đường bê tông là bao nhiêu tiền thì ông B đại diện theo ủy quyền của cụ A tự nguyện thanh toán cho các hộ theo quy định.

Năm 1991 do các hộ phía ngoài bờ sông bị sạt lở nên năm 1992 gia đình cụ L đã tự nguyện hiến 80m2 đất làm đường do bờ sông sạt lở nên đề nghị Tòa án thể hiện trong bản án để UBND xã B1 làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình cụ L do ông B đại diện.

Quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, lời khai của đồng bị đơn thể hiện:

Lời khai anh Phạm Hữu D: Anh có mối quan hệ họ hàng và là hàng xóm với gia đình cụ Phạm Hữu L. Vào năm 1992 khi đó gia đình ông Phạm Hữu D, ông Trần Kim M (bố anh Trần Quốc E) và gia đình ông Nguyễn Ngọc N (bố của anh Nguyễn Ngọc F và là chú của anh Nguyễn Văn G) không có lối đi, vì vậy ông Trần Kim M đại diện các hộ gia đình có làm đơn gửi UBND xã B1 xin được mở một con đường để đi ra đường chính. UBND xã B1 đồng ý nên đại diện Ủy ban đã đến gia đình cụ L làm việc, sau khi bàn bạc thống nhất thì gia đình cụ L đồng ý cắt 85m2 đất cho các hộ phía trong làm đường đi, UBND xã sẽ cắt cho gia đình cụ L 1 sào (360m2) đất ngoài đồng để gia đình cụ canh tác đồng thời gia đình cụ L còn được sử dụng thêm 45m2 đất phía trước nhà ông Trần Kim M.

Lời khai của anhTrần Quốc E: Vào năm 1992 khi đó bố anh là ông Trần Kim M cùng với đại diện Ủy ban xã đã đến gia đình cụ L đặt vấn đề gia đình cụ L để lại cho xã 85m2 để mở lối đi cho các hộ phía sau, Ủy ban xã sẽ cắm cho gia đình cụ L 1 sào (360m2) đất thuộc sứ đồng 200 ly để gia đình cụ canh tác đồng thời gia đình cụ L còn được sử dụng thêm một con đường phía trước nhà ông Trần Kim M. Sau khi các bên nhất trí thỏa thuận song có lập biên bản các bên đã cùng nhau ký tên, bố anh đã ký vào biên bản đó.

Lời khai của anh Nguyễn Ngọc F: Vào năm 1992 khi đó anh còn nhỏ, mẹ anh là bà Phạm Thị Ngãi, bố anh là ông Nguyễn Ngọc N, ông Phạm Hữu D, ông Trần Kim M không có lối đi, vì vậy ông Trần Kim M đại diện các hộ gia đình có làm đơn gửi UBND xã B1 xin được mở một con đường để đi ra đường chính. Sau khi nhận được đơn của các hộ xin mở đường UBND xã B1 đồng ý nên đại diện Ủy ban đã đến gia đình cụ L làm việc, sau khi bàn bạc thống nhất thì gia đình cụ L đồng ý cắt 85m2 đất cho các hộ phía trong làm đường đi, UBND xã sẽ cắt cho gia đình cụ L 1 sào (360m2) đất ngoài đồng để gia đình cụ canh tác đồng thời gia đình cụ L còn được sử dụng thêm 44m2 đất phía trước nhà ông Trần Kim M.

Lời khai của anh Nguyễn Văn G: Năm 1996 anh được bố mẹ mua cho thửa đất của gia đình ông Nguyễn Ngọc N để ra làm nhà ở riêng. Khi anh đến ở đã có hộ ông Trần Kim M, Phạm Hữu D và ông Nguyễn Ngọc N sử dụng lối đi thẳng ra sông. Anh có nghe kể lại con đường này được hình thành như anh C, anh T và anh H đã trình bày như trên.

Ngoài ra, anh Thắng và anh H còn đề nghị Tòa án xem xét việc cụ A là vợ hai của cụ L có phải là người thừa kế hợp pháp của cụ L hay không? Anh C, anh T, anh H và anh Thắng đều cho rằng: Việc đổi đất đã được UBND xã B1 lập biên bản, mặc dù các anh không có mặt tại buổi làm việc nhưng các anh được biết khi lập biên bản có ông Đỗ Sỹ H1 nguyên là chủ tịch xã, ông Trần Xuân Th nguyên là cán bộ địa chính, ông Nguyễn M Tân là cán bộ Ban thương binh xã hội, ông Phạm Hữu M nguyên là đội trưởng đội sản xuất, đại diện phía các gia đình có ông Trần Kim M (bố anh T) nay bố anh T đã mất. Sau khi lập biên bản thống nhất thỏa thuận, tháng 8/1992 gia đình cụ L và các hộ phía trong đã cùng nhau tháo dỡ lùi hàng rào nhà cụ L vào phía trong để làm lối đi. Sau khi mở đường, đến năm 2002 thực hiện bê tông hóa đã được UBND xã cho xi măng các hộ đóng góp cát sỏi đã cùng nhau đổ bê tông con đường và sử dụng ổn định cho đến nay. Đối với phần gia đình cụ A được sử dụng thêm 44m2 đất phía trước nhà ông Trần Kim M nay gia đình cụ A đã trả lại ra ngoài đường như cũ.

Các anh khẳng định, ngoài lối đi đang xảy ra tranh chấp còn có 01 lối đi khác nhưng vướng cột điện, là mương thoát nước của làng nên không sử dụng hàng ngày được.

Nay cụ A khởi kiện yêu cầu các hộ phải trả lại cho gia đình cụ lối đi này, các anh không nhất trí vì các anh không mượn đất, không đổi đất, không lấn chiếm gì đất của gia đình cụ A.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người đại diện theo ủy quyền của đồng bị đơn, đồng nhất với lời khai của đồng bị đơn và có quan điểm trình bày:

Việc hình thành con đường qua đất hộ cụ L do các hộ phía sau nhà cụ L không có đường đi nên các hộ đại diện là ông Trần Kim M đã có đơn gửi UBND xã và đã được UBND xã đến làm việc tại gia đình nhà cụ L để thỏa thuận về việc đổi đất nông nghiệp và 44m2 đất phía trước nhà ông Trần Kim M cho cụ L để các hộ có đường đi trên đất cụ L được thể hiện trên cơ sở “Biên bản giải quyết về việc mở cổng khu vực đội 2” ngày 28/8/1992 do UBND xã B1 lập. Mặc dù cụ L không ký vào biên bản nhưng đã thể hiện ý trí của cụ L bằng việc văn bản trên đã được cụ L thực hiện, cụ L đã được bồi thường hợp pháp, cụ đã được sử dụng 01 sào (360m2) đất nông nghiệp và theo bản đồ địa chính năm 2015 đã thể hiện là đường giao thông nên cụ A không có quyền đòi lại. Hiện nay, ngoài đường đi qua đất của cụ L đã được cụ L đồng ý thì các hộ không có lối đi nào khác. 01 lối đi có vướng cột điện, 01 lối đi qua đất của người khác. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của cụ A.

Quan điểm của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị J, Phạm Thị J2, Phạm Thị J1và bà Phạm Thị Kim J3 đều có lời khai thể hiện như sau:

Bố đẻ của bà J, bà J2, bà J1, bà Oanh là cụ Phạm Hữu L (Tên gọi khác là Điểm) đã được UBND huyện TT, tỉnh Vĩnh Phú (nay là UBND huyện B2, tỉnh Phú Thọ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A470611 ngày 10/6/1991 tại số thửa 13, tờ bản đồ số 4, diện tích 870m2 loại đất thổ cư tại khu 2, xã B1, huyện B2.

Vào khoảng tháng 8/1992 mẹ vợ của ông Trần Kim M là cụ Nguyễn Thị M1 ốm nặng, do gia đình ông C đang đi lối đi nhỏ không được thuận tiện trong việc an táng nên ông C có sang hỏi mượn đất của bố mẹ các bà để mở một lối đi thẳng ra sông cho thuận tiện. cụ L đồng ý cho các hộ mượn đất mở một lối đi thẳng ra sông với diện tích khoảng 85m2. Nay mẹ các bà là cụ Nguyễn Thị A có nhu cầu sử dụng thì 04 hộ trên không trả lại, Nay các bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cụ A, đề nghị Tòa án giải quyết buộc các anh Phạm Hữu D, Trần Quốc E, Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G phải trả lại phần diện tích đất các hộ đã mượn làm lối đi cho gia đình cụ A.

Lời khai của Ông Phạm Hữu B đồng thời đại diện cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Để tạo điều kiện cho hộ ông Trần Kim M thuận tiện đi lại khi cụ M1 ốm nên gia đình ông mới cho mượn đất làm đường. Tuy nhiên, sau khi cụ M1 mất, do gia đình ông chưa có nhu cầu sử dụng nên vẫn để các hộ sử dụng nhờ, đến nay gia đình ông có nhu cầu sử dụng nên yêu cầu 04 hộ trên trả lại đất cho gia đình ông, nhưng các anh Phạm Hữu D, Trần Quốc E, Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G ngăn cản không trả, không cho gia đình ông sử dụng. Gia đình ông đã nhiều lần làm đơn đề nghị UBND xã B1 giải quyết nhưng ông không nhất trí với kết quả giải quyết của UBND xã. Lý do: UBND xã căn cứ vào biên bản “Giải quyết về việc mở cổng khu vực đội 2” ngày 28/8/1992 do UBND xã B1 lập tuy nhiên biên bản này là giả không có giá trị pháp lý vì bố ông là Phạm Hữu L - chủ đất không ký biên bản, còn ông không tham gia phiên họp nhưng lại giả chữ ký của ông là Phạm Hữu B.

Nay ông hoàn toàn nhất trí với yêu cầu khởi kiện của mẹ ông là cụ A, đề nghị Tòa án buộc các anh Phạm Hữu D, Trần Quốc E, Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn Gphải trả lại cho gia đình ông 83,2m2 (theo kết quả thẩm định của Tòa án) phần diện tích đất mà các hộ mượn đang sử dụng làm lối đi cho gia đình ông.

Lời khai của ông Trần Văn K: Ông có mối quan hệ hàng xóm liền kề với nhà cụ A, cụ L có con trai là ông B. Nhà ông K hướng tây, sau nhà ông vẫn có con đường cũ từ trước, đường này cả xóm đi đã có từ lâu đời, sau này mới có con đường đi giáp đất nhà ông là đường hướng đông bắc và giáp đất là nhà cụ A. Nguồn gốc con đường mới mở này là đất nhà cụ A. Lý do ông K biết đất này là các cụ xa xưa và ông K vẫn ở đây. Sau đó tháng bảy năm 2022 ông B có nhờ anh em trong đó có ông đến xây đoạn đường mở sau lại (đường hiện nay đang tranh chấp), nhưng anh T, anh Thắng, anh C và gia đình ông Đa (có anh H) ngăn cản không cho làm, nên ông B đã dừng việc xây lại. Còn giữa gia đình ông và gia đình cụ A không có tranh chấp gì về đất.

Người đại diện theo ủy quyền của UBND xã B1 có lời khai thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa trình bày như sau:

Về nguồn gốc phần đất đang xảy ra tranh chấp (lối đi) giữa cụ Nguyễn Thị A và các anh Phạm Hữu D, Trần Quốc E, Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G, trước thời điểm năm 1992 nằm trong phần đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Phạm Hữu L (đã chết) là chồng của cụ A. Tại thời điểm năm 1992 thực tế có việc các hộ có đề nghị mở lối đi qua đất nhà cụ A như hiện nay hay không thì UBND xã không rõ vì đã có sự thay đổi về nhân sự. Tuy nhiên, căn cứ vào hồ sơ lưu trữ tại UBND xã B1 hiện nay cũng không có đơn các hộ xin mở đường mà chỉ có biên bản làm việc ngày 28/8/1992 có nội dung thể hiện việc đổi đất làm đường đi cho các hộ lúc đó là đội 2. Trong biên bản thể hiện: cụ A được sử dụng một sào ruộng (360m2)và đổi cho các hộ một phần đất để làm đường đi là 85m2. Còn việc diện tích đất nông nghiệp cụ A đang sử dụng hiện nay tại khu vực Đồng Ngọc Sép (200ly) có phải là do đổi giữa UBND xã với gia đình cụ A để làm đường hay không thì UBND xã tại thời điểm này không xác định được. Tuy nhiên, căn cứ theo tài liệu, hồ sơ lưu tại UBND xã đang quản lý thể hiện phần diện tích đất này đã được UBND giao cho hộ cụ L theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của chính phủ.

Từ khi có biên bản ngày 28/8/1992 về việc đổi đất lưu tại Ủy ban nhân dân xã thì UBND xã B1 cũng chưa có điều chỉnh gì trên bản đồ do không ai có đơn đề nghị điều chỉnh để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hàng năm gia đình cụ A vẫn đóng thuế đất phi nông nghiệp toàn bộ thửa đất cả phần diện tích đất tranh chấp. Phần lối đi đang xảy ra tranh chấp, 4 hộ trong xóm đã đổ bê tông từ năm 2002.

Đối với lý do: Vì sao diện tích đất cụ L theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sổ theo dõi diện tích đất thổ cư năm 1988 là 870m2, nhưng theo Biểu thuế đất vườn 1988 lưu tại xã thể hiện 790m2 là do năm 1991 các hộ phía ngoài bờ sông từ đầu làng xuống cửa ngòi, trong đó có hộ cụ L đã tự nguyện hiến đất làm đường do bờ sông lở. Tuy nhiên từ đó đến nay gia đình cụ L vẫn chưa được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông B hàng năm vẫn đóng thuế 870m2.

Đối với lối đi phía ông Nguyễn Văn Phức giáp đất các hộ đang tranh chấp, trước đây ông Phức có đơn cho rằng là của gia đình ông. Tuy nhiên khi thiết lập bản đồ 299 năm 1987 đã thể hiện con đường do tập thể quản lý. Sau khi được UBND xã giải thích nên ông Phức đã đồng ý và rút đơn. Do đó UBND xã khẳng định con đường phía giáp đất ông Phức và ông B là do tập thể quản lý.

Đối với phần đất 44m2 phía trước cửa nhà ông Trần Kim M (sau nhà cụ L), hộ ông B sử dụng nhưng UBND xã không đồng ý vì phần đất đó thuộc quy hoạch giao thông nông thôn đã thể hiện trên bản đồ 299 nên ông B đã trả lại như hiện trạng. Hiện nay 04 hộ anh Phạm Hữu D, Trần Quốc E, Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G đã có 02 lối đi khác đều đã được đổ bê tông xi măng, 02 lối đi này là lối đi chung của xóm do UBND xã quản lý và 01 lối đi đang xảy ra tranh chấp.

Quan điểm của đại diệnUBND xã B1: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với phần giá trị đường bê tông do nhà nước cấp hỗ trợ cho các hộ, nên UBND xã không có yêu cầu gì.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2023/DS-ST ngày 24/4/2023, Tòa án nhân dân (TAND) huyện B2 đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 4 Điều 12, Điều 13, khoản 8 Điều 14 Luật đất đai năm 1987; Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 9 Điều 3 Luật đất đai 2013; Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị A.

Buộc các anh Trần Quốc E, anh Phạm Hữu D, anh Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G phải trả lại cho gia đình cụ Nguyễn Thị A phần diện tích đất hiện nay các hộ đang sử dụng làm lối đi là 83,2m2 theo chỉ giới 4,5,6,7,8,9,10,11,17,16,15,4.

Cụ Nguyễn Thị A có trách nhiệm thanh toán cho Bị đơn giá trị phần bê tông tương ứng với số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) Trong đó: Hộ các anh: Trần Quốc E 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Phạm Hữu D 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Ngọc F 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và Nguyễn Văn G 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/5/2023 ông Phạm Hữu D, ông Trần Quốc E, ông Nguyễn Ngọc F, ông Nguyễn Văn G kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

AnhPhạm Hữu D, anh Trần Quốc E, anh Nguyễn Ngọc F, anh Nguyễn Văn G là đồng bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, những căn cứ kháng cáo như đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Hữu D, anh Trần Quốc E, anh Nguyễn Ngọc F, anh Nguyễn Văn G giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số:04/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện B2.

(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của anh Phạm Hữu D, anh Trần Quốc E, anh Nguyễn Ngọc F, anh Nguyễn Văn G là các bị đơn trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo: Anh Phạm Hữu D, anh Trần Quốc E, anh Nguyễn Ngọc F, anh Nguyễn Văn G kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Nguồn gốc diện tích 83,2m2 hiện đang tranh chấp các bên đều thừa nhận có nguồn gốc nằm trong thửa đất số 13, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa số 130, tờ bản đồ số 15), diện tích 870m2 của gia đình cụ A, cụ L đã được UBND huyện TT nay là huyện Thanh Thuỷ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A470611 ngày 10/6/1991 diện tích 870m2 loại đất thổ cư tại khu 2, xã B1, huyện B2, đất đứng tên cụ Phạm Hữu L. Phần diện tích đất này theo nguyên đơn trình bày: Vào khoảng tháng 8/1992 mẹ vợ của ông Trần Kim M là cụ Nguyễn Thị M1 ốm nặng, do gia đình ông C đang đi lối đi nhỏ không được thuận tiện trong việc an táng nên ông Trần Kim M có sang hỏi mượn đất để mở một lối đi thẳng ra sông cho thuận tiện. Ban đầu cụ L không đồng ý nhưng do nhà ông C sang nói nhiều lần nên cụ L đồng ý cho mở lối đi thẳng ra sông với diện tích khoảng 85m2, nay đo vẽ là 83,2m2. cụ A cho rằng gia đình cụ chỉ cho mượn phần diện tích này để mở lối đi tạm chứ chưa bao giờ có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào để làm lối đi chung. Phía bị đơn anh Trần Quốc E và các đồng bị đơn khác cho rằng diện tích đất tranh chấp vào năm 1992 khi đó bố anh T là ông Trần Kim M cùng với đại diện Ủy ban xã đã đến gia đình cụ L đặt vấn đề gia đình cụ L để lại cho xã 85m2 để mở lối đi cho các hộ phía sau, Ủy ban xã sẽ cắm cho gia đình cụ L 1 sào (360m2) đất thuộc sứ đồng 200 ly để gia đình cụ canh tác đồng thời gia đình cụ L còn được sử dụng thêm một con đường phía trước nhà ông Trần Kim M. Sau khi các bên nhất trí thỏa thuận song, ngày 28/8/1992 có lập biên bản các bên đã cùng nhau ký tên và có xác nhận của UBND xã B1.

Để xác định diện tích đất tranh chấp hiện nay thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ai, cần xem xét tính pháp lý của văn bản thoả thuận ngày 28/8/1992. Văn bản là biên bản thoả thuận ngày 28/8/1992 trong đó phía trên biên bản có ghi có mặt cụ L, tuy nhiên cuối biên bản không có chữ ký của cụ L lại có chữ ký của ông B là con trai cụ L. Bản thân ông B và những người ký biên bản xác định chữ ký trong văn bản không phải là chữ ký của ông B, ông B hoàn toàn không biết có văn bản ngày 28/8/1992. Như vậy, có đủ căn cứ xác định văn bản thoả thuận ngày 28/8/1992 không có mặt cụ L là chủ sử dụng thửa đất tham gia. Do đó, văn bản thoả thuận ngày 28/8/1992 không có hiệu lực đối với chủ sử dụng đất là cụ L.

Ngoài ra trong văn bản có nội dung thoả thuận của UBND xã B1 thống nhất UBND xã đổi đất trồng lúa cho gia đình cụ L lấy đất vườn của gia đình cụ L mở cổng cho các hộ dân. Theo quy định của pháp luật UBND xã không có thẩm quyền đổi đất như trong biên bản đã thoả thuận. Do vậy, văn bản thoả thuận ngày 28/8/1992 không đúng với quy định của pháp luật.

Mặc dù, phần diện tích đất tranh chấp lối đi các hộ dân là các đồng bị đơn đã sử dụng trên 20 năm tính đến thời điểm tranh chấp, đã thực hiện đổ bê tông, nhưng đến thời điểm hiện tại diện tích đất này chưa có bất kỳ quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào thu hồi của gia đình cụ L để làm lối đi chung. Hàng năm gia đình cụ L vẫn nộp thuế sử dụng đối với phần diện tích đất tranh chấp. Trong hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện có việc Uỷ ban nhân dân xã giao cho gia đình cụ L diện tích 1 sào (360m2) đất thuộc sứ đồng 200 ly để đổi lấy diện tích đất làm đường đi. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là sổ địa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1999 cho cụ Phạm Hữu L1 (cụ L) thể hiện thửa đất số 447, tờ bản đồ số 6 diện tích 360m2 là đất lúa được chia cho gia đình cụ L theo nghị định 64/NĐ- CP ngày 27/9/1993. Gia đình cụ L cho rằng chỉ cho các hộ đi nhờ trên phần diện tích đất của gia đình mình chứ hoàn toàn không đồng ý với nội dung văn bản thoả thuận ngày 28/8/1992 vì không có sự đồng ý của cụ L. Như vậy, khẳng định diện tích đất tranh chấp vẫn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình cụ A, cụ L và hiện nay vẫn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Thanh Thuỷ cấp cho cụ L năm 1991.

Ngoài ra hiện nay ngoài lối đi đang tranh chấp trên bản đồ địa chính thể hiện còn có 02 lối đi vào thửa đất của các hộ dân là các đồng bị đơn. Từ nhừng nhận định trên cho thấy văn bản bản thoả thuận ngày 28/8/1992 không thể hiện ý chí của chủ sử dụng đất, thoả thuận không đúng thẩm quyền, diện tích đất tranh chấp hiện nay vẫn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ L, nên văn bản được lập không đúng quy định của pháp luật, không có gía trị về mặt pháp lý. Do vậy, cụ A khởi kiện đòi lại phần diện tích cụ đã cho các hộ mượn mở lối đi là có căn cứ, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ A là đúng với pháp luật, đồng nghĩa với kháng cáo của anh Phạm Hữu D, anh Trần Quốc E, anh Nguyễn Ngọc F, anh Nguyễn Văn G không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Trong vụ án nguyên đơn còn có 02 nội dung yêu cầu tòa án giải quyết, nhưng bản án sơ thẩm không đề cấp đến đó là:

Trong đơn khởi kiện của cụ A có nội dung đề nghị Hủy bỏ biên bản “Giải quyết về việc mở cổng khu vực đội 2” ngày 28/8/1992 do UBND xã B1 lập vì biên bản này là giả không có giá trị pháp lý vì cụ Phạm Hữu L - chủ đất không ký biên bản, ông B không tham gia phiên họp nhưng lại giả chữ ký của ông.

Ngoài ra nguyên đơn còn đề nghị năm 1991 do các hộ phía ngoài bờ sông bị sạt lở nên năm 1992 gia đình cụ L đã tự nguyện hiến 80m2 đất làm đường do bờ sông sạt lở nên đề nghị Tòa án thể hiện trong bản án để UBND xã B1 làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình cụ L do ông B đại diện.

Xem xét 02 yêu cầu khởi kiện trên Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Đối với nội dung thứ nhât: Theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự biên bản “Giải quyết về việc mở cổng khu vực đội 2” ngày 28/8/1992 do UBND xã B1 lập không phải là quyết định cá biệt, nên Hội đồng xét xử không xem xét đối với yêu cầu này của nguyên đơn.

Đối với nội dung thứ hai không thuộc phạm vi giải quyết của vụ án này, sau này gia đình cụ A xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa chính quyền địa phương và gia đình tự thống nhất với nhau, nên tòa án không xem xét giải quyết.

Mặc dù 02 yêu cầu này không thuộc phạm vi giải quyết của vụ án, tuy nhiên nguyên đơn đã có yêu cầu thì Hội đồng xét xử sơ thẩm phải nhận xét đánh giá, nhưng bản án sơ thẩm không nhận xét, không đánh giá nên cần rút kinh nghiệm đối vơi cấp sơ thẩm.

Trong bản án tuyên buộc các anh Trần Quốc E, anh Phạm Hữu D, anh Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G phải trả lại cho gia đình cụ Nguyễn Thị A phần diện tích đất hiện nay các hộ đang sử dụng làm lối đi là 83,2m2, nhưng không tuyên diện tích đất trên nằm trong thửa đất nào, địa chỉ thửa đất ở đâu là thiếu. Bản án ghi theo chỉ giới 4,5,6,7,8,9,10,11,17,16,15,4, nhưng lại không có sơ đồ bản vẽ kèm theo. Các nội dung này cũng cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm.

[3] Về án phí phúc thẩm: Anh Phạm Hữu D, anh Trần Quốc E, anh Nguyễn Ngọc F, anh Nguyễn Văn G kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nh Phạm Hữu D, anh Trần Quốc E, anh Nguyễn Ngọc F, anh Nguyễn Văn G đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 04/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ là phù hợp với pháp luật, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Hữu D, anh Trần Quốc E, anh Nguyễn Ngọc F, anh Nguyễn Văn G. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số:

04/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.

Áp dụng: Khoản 4 Điều 12, Điều 13, khoản 8 Điều 14 luật đất đai năm 1987; Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 9 Điều 3 luật đất đai 2013; Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[2] Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị A.

Buộc các anh Trần Quốc E, anh Phạm Hữu D, anh Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G phải trả lại cho gia đình cụ Nguyễn Thị A phần diện tích đất hiện nay các hộ đang sử dụng làm lối đi là 83,2m2 nằm trong thửa đất số 13, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa số 130, tờ bản đồ số 15) tại: Khu 2, xã B1, huyện B2, tỉnh Phú Thọ theo chỉ giới 4,5,6,7,8,9,10,11,17,16,15,4 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo) Cụ Nguyễn Thị A có trách nhiệm thanh toán cho Bị đơn giá trị phần bê tông tương ứng với số tiền 3.000.000đồng (Ba triệu đồng). Trong đó: Hộ các anh: Trần Quốc E 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Phạm Hữu D 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Ngọc F 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và Nguyễn Văn G 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

[3]. Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Hữu B - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ, không yêu cầu bị đơn phải thanh toán nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4]. Về án phí:

4.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Cụ Nguyễn Thị A là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bị đơn phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trong đó: anh Trần Quốc E 75.000đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng), anh Phạm Hữu D 75.000đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng), anh Nguyễn Ngọc F75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) và anh Nguyễn Văn G 75.000đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).

4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Quốc E, anh Phạm Hữu D, anh Nguyễn Ngọc F và Nguyễn Văn G mỗi người phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận anh T đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số AA/2020/0006220 ngày 17/5/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện B2. Anh C đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số AA/2020/0006218 ngày 17/5/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện B2. Anh Hòang đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số AA/2020/0006217 ngày 16/5/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện B2. Anh Thắng đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số AA/2020/0006219 ngày 17/5/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện B2.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật đương sự có đơn đề nghị thi hành án mà bên có nghĩa vụ thi hành án không thực hiện việc thanh toán tiền cho bên được thi hành án thì phải chịu lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

[5] Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

166
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 51/2023/DS-PT

Số hiệu:51/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về