Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 497/2026/DS-PT ngày 18/05/2026

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 497/2026/DS-PT NGÀY 18/05/2026 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 18 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2026/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 415/2026/QĐ-PT ngày 31 tháng 3 năm 2026, giữa:

-Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long ( có mặt).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là anh Nguyễn Tấn T1, sinh năm 2001. Địa chỉ: ấp P, xã A, tỉnh Vĩnh Long ( có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn là Luật sư Trần Ngọc T2 (Công ty L5) thuộc Đoàn luật sư tỉnh V. Địa chỉ: số A, đường A, phường T, tỉnh Vĩnh Long ( có mặt).

-Bị đơn: Bà Dương Thị S, sinh năm 1947. Địa chỉ: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long ( có mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị V, sinh năm 1969; Địa chỉ: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long ( vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của bà Võ Thị V là ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long ( có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

-Theo đơn khởi kiện, đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T và tại phiên tòa sơ thẩm ông T trình bày:

Phần đất thửa 1306, diện tích 64m2, tọa lạc ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ông Nguyễn Minh T đứng tên quyền sử dụng đất là do ông T nhận chuyển nhượng lại từ bà Dương Hồng L và ông Huỳnh Thanh L1. Trước đó thì bà L mua thửa đất này từ ông Dương Văn H (Hồ Quốc H1), bà Dương Thị L2 (Hồ Thị Hồng L3) là chị em ruột với ông H1. Ông T mua thửa đất 1306 từ năm 1999 đến năm 2005 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng nhà ở từ đó cho đến nay. Thửa 1306 của ông T giáp ranh với thửa 1310, diện tích 19m2 cùng tờ bản đồ số 01 của bà Dương Thị S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T với bà L3 đều được vợ con ông H1 biết và thống nhất việc chuyển nhượng giữa ông T và bà L3. Ông T nhận đất xây dựng nhà và nhiều lần sửa chữa nhà lại đều không có ai đứng ra tranh chấp với ông T. Lúc ông T mua thửa đất 1306 trên đất có căn nhà gỗ cũ của gia đình ông H1, bà L3 sinh sống trước đó, sau khi mua ông T sửa chữa, xây dựng nhà đúng ngay nền nhà từ khi nhận đất vào năm 1999 cho đến nay.

Trong quá trình sử dụng thì đến năm 2008 do nhà nước có chủ trương đo đạc theo chương trình Vlap thì bà S không đồng ý ký giáp ranh với ông T nên hai bên phát sinh tranh chấp ranh đất, phần ranh tranh chấp có chiều dài là 0,52m và chiều ngang là khoảng 4,8m, diện tích là 2,5m2, hiện nay ông T đã xây dựng nhà tường kiên cố lên phần ranh đất trên. Hai bên có thỏa thuận để thống nhất ranh nhưng không thành.

Nay ông T yêu cầu bà Dương Thị S phải trả lại phần đất đã lấn chiếm có chiều dài 0,52m và chiều ngang khoảng 4,8m, diện tích là 2,5m2 tại thửa 1306, diện tích 64m2 do ông Nguyễn Minh T đứng tên quyền sử dụng đất, tọa lạc ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long).

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Nguyễn Minh T thay đổi yêu cầu khởi kiện và thống nhất theo hiện trạng đã đo đạc theo như kết quả thẩm định tại chỗ và khảo sát đo đạc ngày 01/02/2024 đã thể hiện. Yêu cầu công nhận phận đất tại thửa 1306-2 diện tích 13,4m2 là thuộc quyền sử dụng đất của ông T.

-Bị đơn bà Dương Thị S trình bày:

Bà S là chủ sử dụng thửa đất số 1310, diện tích 19m2, giáp ranh với thửa đất này của bà S là thửa đất của ông T 1306, diện tích 64m2, cùng tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Trong quá trình sử dụng ông T có lấn qua thửa đất 1310 của bà S chiều ngang khoảng 4,5m và chiều dài 2,8m, tổng diện tích là 12,6m2. Hai bên có thương lượng nhưng không thành.

Từ khi ông T nhận đất và xây dựng nhà ở thì bà S có khiếu nại và ngăn cản nhiều lần nhưng không có văn bản chỉ có nói miệng với nhau. Khiếu nại năm 2004 đến năm 2008 thì UBND xã L mới tổ chức hòa giải các bên đo lại diện tích, nếu đất bên ông Trí D thì trả lại cho bà S. Nay bà S yêu cầu ông Nguyễn Minh T trả lại phần đất chiều ngang khoảng 4,5m, chiều dài 2,8m, diện tích là 12,6m2 thuộc thửa đất 1310 của bà S. Thống nhất kết quả khảo sát, đo đạc phần đất tranh chấp là 13,4m2 thuộc thửa 12-2 (1306-2). Bà S có yêu cầu phản tố bổ sung, yêu cầu ông T trả lại quyền sử dụng đất trọn thửa đất số 1306 (thửa mới 12) cho bà S và yêu cầu công nhận phần đất này là của bà S.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Võ Thị V có ông T là đại diện theo ủy quyền thống nhất ý kiến của ông T, không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long đã quyết định:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T. Công nhận phần đất diện tích 13,4m2 các mốc số 2,3,4,5,2 thuộc thửa 1306-

2 (12-2), tờ bản đồ số 29 (1) loại đất ONT, trên đất có gắn một phần căn nhà tường một trệt một lầu do ông T xây dựng, đất tọa lạc tại ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long) thuộc quyền sử dụng đất thửa 1306 (12), tờ bản đồ số 29 (1) của ông Nguyễn Minh T. (có trích đo bản đồ địa chính khu đất kèm theo)

Ông Nguyễn Minh T có nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Pháp luật.

2/ Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Dương Thị S đối với việc yêu cầu ông Nguyễn Minh T phải trả lại cho bà S phần đất chiều ngang 4,5m, chiều dài 2,8m, tổng diện tích là 12,6m2 thuộc thửa đất số 1310 theo kết quả khảo sát đo đạc hiện trạng theo sự chỉ tranh của bà S thì phần đất có diện tích là 13,4m2 thuộc thửa 1306-2 (12-2) và yêu cầu phản tố bổ sung là yêu cầu ông T trả lại trọn thửa đất 1306 (12) tờ bản đồ số 29 (1) loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/10/2025 bị đơn bà Dương Thị S kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết:

Buộc ông Nguyễn Minh T trả lại cho bà Dương Thị S toàn bộ thửa đất số 12-1 (1306-1) diện tích 57,4m2 và thửa 12-2 (1306-2) diện tích 13,4m2 (theo kết quả đo đạc), yêu cầu buộc ông T phải tự di dời nhà ra khỏi đất, bà S không hỗ trợ di dời và không bồi thường giá trị nhà.

Yêu cầu công nhận phần đất thửa 12-1 (1306-1) diện tích 57,4m2 và thửa 12-2(1306-2) diện tích 13,4m2 là đất của bà S.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Dương Thị S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, buộc ông Nguyễn Minh T trả lại cho bà S các phần đất tranh chấp.

Đại diện của nguyên đơn không đồng ý kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày quan điểm: bà S cho rằng phần đất tranh chấp của bà S, nhưng bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh, không kê khai, đăng ký, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2022 hòa giải tại UBND xã L bà S và ông T tranh chấp ranh đất, bà S đòi ông T phải trả cho bà số tiền 9.000.000đ mới đồng ý ký giáp ranh, điều đó chứng tỏ bà S cũng thừa nhận thửa đất giáp ranh là của ông T, bà S chỉ không thống nhất phần ranh đất mà thôi. Năm 1999 ông T nhận chuyển nhượng đất đã cất nhà ở, sử dụng ổn định cho đến nay, trên đất có nhà xây một trệt một lầu của ông T. Bà S kháng cáo không có căn cứ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị S, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng đầy đủ, quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326 của UBTVQH: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Dương Thị S. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 27/9/2025 của TAND Khu vực 2 - Vĩnh Long.

Về án phí dân sự phúc thẩm: bà S được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Đơn kháng cáo của bà Dương Thị S làm trong hạn luật định và đúng trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]Xét yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị S:

Bà S yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết buộc ông Nguyễn Minh T trả lại cho bà Dương Thị S toàn bộ thửa đất số 12-1 (1306-1) diện tích 57,4m2 và thửa 12-2 (1306-2) diện tích 13,4m2, yêu cầu ông T phải tự di dời nhà ra khỏi đất để trả đất cho bà S, không hỗ trợ di dời, không bồi thường giá trị nhà. Công nhận các phần đất tranh chấp nêu trên cho bà S.

[3]Xét về nguồn gốc đất và quá trình đăng ký biến động quyền sử dụng đất của phần đất tranh chấp: Thửa đất số 1306 do ông Hồ Quốc H1 (Dương Văn H) sử dụng từ trước năm 1992, nguồn gốc ông bà cho, ông H có đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất thửa 1306, diện tích 64m2, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 30/4/1994 ông H chuyển nhượng thửa đất này (1306) cho bà Hồ Thị Hồng L3 (Dương Thị L2) là chị ruột ông H. Bà L2 sử dụng đến ngày 29/7/1999 thì chuyển nhượng cho ông Nguyễn Minh T. Đến ngày 12/11/2004 hộ ông H mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1306, diện tích 64m2. Đến năm 2005 thì ông Nguyễn Minh T được đứng tên quyền sử dụng đất thửa số 1306, diện tích 64m2 (chỉnh lý mặt bốn GCNQSDĐ ngày 08/11/2005).

[4]Trong quá trình sử dụng thửa đất 1306 từ thời kỳ của ông H đến khi chuyển nhượng cho bà L2 sử dụng, sau đó chuyển nhượng cho ông T, từ mốc thời gian năm 1992 đến năm 1999 thì không có ai đứng ra tranh chấp về quyền sử dụng đất với ông T. Năm 1999 ông T làm nhà ở và qua nhiều lần xây dựng, sửa chữa nhà từ căn nhà gỗ thành nhà xây cấp 4, hiện nay là nhà xây một trệt một lầu thì phía bà L2, ông L1 hoặc gia đình ông H cũng như bà L4 và các con cũng không có ai ngăn cản, tranh chấp với ông T. Sau khi ông H chết, vợ con của ông H cũng không có tranh chấp với ông T. Đến năm 2022, giữa ông T với bà S phát sinh tranh chấp ranh do bà S yêu cầu ông T phải trả cho bà S thành quả là 9.000.000 đồng thì bà S mới ký giáp ranh cho ông T, sự việc này đã được Ủy ban nhân dân xã L hòa giải tại biên bản ngày 08/6/2022, nhưng sau đó các bên thay đổi ý kiến, ông T không đồng ý giao cho bà S số tiền 9.000.000đ nên phát sinh tranh chấp. Từ đó cho thấy bà S đã thừa nhận thửa đất số 1306 là của ông T, bà S chỉ không thống nhất phần ranh đất giữa bà S với ông T mà thôi.

Ngoài ra tại biên bản xác minh ngày 13/9/2025, bà Hồ Thị Hồng L3 (Dương Thị L2) và ông Huỳnh Thanh L1 trình bày: ông L1, bà L2 thống nhất có chuyển nhượng cho ông T phần đất đúng ngay vị trí mà ông T đang cất nhà ở như hiện nay. Phần đất này trước đây là ông L1, bà L2 nhận chuyển nhượng của ông H rồi mới chuyển nhượng lại cho ông T. Ông L1, bà L2 cam kết trình bày là đúng sự thật.

[5]Tại biên bản xác minh ngày 13/9/2025, bà Nguyễn Thị L4 là vợ của ông Hồ Quốc H1 (Dương Văn H) trình bày: Bà L4 xác định phần nhà đất ông T đang quản lý sử dụng ngay chợ L6 (chợ K) là của vợ chồng bà L4. Khi ông H còn sống có chuyển nhượng cho bà L2 (là em út của ông H), giá bao nhiêu thì bà không nhớ. Bà L2 ở một thời gian thì chuyển nhượng lại cho ông T, năm nào thì bà L4 không nhớ, nhưng cũng khoảng hơn 20 năm. Bà L4 và các con có biết việc bà L2 chuyển nhượng phần đất nhà đó cho ông T hơn 20 năm nay. Từ khi nhận chuyển nhượng ông T sử dụng đến nay, bà L4 và các con không ngăn cản, không tranh chấp vì đã chuyển nhượng cho bà L2 thì bà L2 chuyển nhượng lại cho ai là quyền của bà L2. Hiện nay bà L4 và các con không có ai tranh chấp với ông T, cũng không có kiện đòi lại đất như bà S đã trình bày. Ông T nhận chuyển nhượng đất và đứng tên giấy đất cũng như sử dụng là bình thường theo lẽ tự nhiên. Bà L4 không biết thửa đất số mấy vì đất hồi xưa bà sử dụng thì chưa có số thửa, chỉ biết là dưới dốc cầu C, ngay chợ L6, cách 01 căn là nhà bán nước đá của bà S, đúng vị trí nhà ông T đang sử dụng, gần đường quẹo vô Ủy ban nhân dân xã L cũ. Bà L4 và anh Hoàng A chỉ có đính chính ông H tên thật là Hồ Quốc H1 chứ không phải Dương Văn H. Bà L4 và các con không có khởi kiện đòi lại đất hay yêu cầu vô hiệu hợp đồng mua bán đất giữa ông H với bà L2 hay với ông T để đòi lại đất hay bồi thường gì hết. Việc ông T, bà S tranh chấp Tòa án giải quyết theo quy định, bà L4 và các con không có liên quan, yêu cầu vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa. Cam kết không khiếu nại về sau.

[6]Đối chiếu lời trình bày của bà Dương Thị S với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của bà L4, bà L2, ông L1 cho thấy việc bà S cho rằng thửa đất 1306 của bà S là không có cơ sở và đồng thời bà L2, ông L1 và bà L4 là vợ ông H đã xác định thửa đất 1306 (12) trên có chuyển nhượng cho ông T, bà L4 và các con không ai có yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà L2 hay ông T, ông T đã sử dụng ổn định thửa đất 1306 (12) trên từ hơn 20 năm là sự thật. Bà S cho rằng thửa đất tranh chấp 1306 là của bà S, nhưng qua các thời kỳ kê khai, đăng ký bà S cũng không kê khai, đăng ký, trong khi đó bà S có thửa đất 1310 giáp ranh với thửa 1306 thì bà S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó bà S cho rằng thửa đất tranh chấp 1306 của bà S là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7]Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T. Công nhận diện tích đất 13,4m2 gồm các mốc: 2,3,4,5,2 thuộc thửa 1306 -2 (12-2), tờ bản đồ số 29 (1) loại đất ONT, trên đất có gắn một phần căn nhà tường một trệt một lầu do ông T xây dựng, tọa lạc tại ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long) thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Bà S kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa.

[8]Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận bà S phải chịu án phí, tuy nhiên bà S là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.

[9]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị S;

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long.

Căn cứ Điều 26, Điều 100, Điều 166, Điều 167, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 133, Điều 236, Điều 252 Luật đất đai năm 2024;

Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 2 Luật người cao tuổi.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T;

Công nhận phần đất diện tích 13,4m2 các mốc số 2,3,4,5,2 thuộc thửa 1306- 2 (12-2), tờ bản đồ số 29 (1) loại đất ONT, trên đất có gắn một phần căn nhà tường một trệt một lầu do ông T xây dựng, tọa lạc ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long) thuộc thửa đất số 1306 (12), tờ bản đồ số 29

(1) của ông Nguyễn Minh T. (có trích đo bản đồ địa chính khu đất kèm theo)

Ông Nguyễn Minh T có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Pháp luật.

Theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất lập ngày 01/02/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V.

2.Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Dương Thị S về việc yêu cầu ông Nguyễn Minh T phải trả lại cho bà S phần đất chiều ngang 4,5m, chiều dài 2,8m, tổng diện tích là 12,6m2 thuộc thửa đất số 1310 theo kết quả khảo sát, đo đạc hiện trạng theo sự chỉ tranh của bà S thì phần đất có diện tích là 13,4m2 thuộc thửa 1306-2 (12-2) và yêu cầu phản tố bổ sung là yêu cầu ông T trả lại trọn thửa đất 1306 (12) tờ bản đồ số 29 (1) loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long).

3.Về chi phí tố tụng: Buộc bà Dương Thị S hoàn trả ông Nguyễn Minh T số tiền 4.302.000 đồng (Bốn triệu ba trăm lẻ hai nghìn đồng).

4.Về án phí dân sự sơ thẩm:

Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Minh T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011511 ngày 01 tháng 06 năm 2023 và 335.000 đồng theo biên lai thu số 0002148 ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Vĩnh Long).

Do bà Dương Thị S là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5.Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Dương Thị S được miễn án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

40
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 497/2026/DS-PT ngày 18/05/2026

Số hiệu:497/2026/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/05/2026
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về