Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 49/2023/DS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 49/2023/DS-PT NGÀY 21/07/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh P xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2023/TLPT-DS ngày 08/6/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2023/DS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh P bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXX-PT ngày 30/6/2023 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1949;

Nơi ĐKHKTT: Khu F, xã H, huyện H, tỉnh P.

Bị đơn: Ông Bùi Trọng N, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1962;

Nơi ĐKHKTT: Khu F, xã H, huyện H, tỉnh P.

(Ông N ủy quyền cho Trần Thị T2, theo giấy ủy quyền ngày 21/01/2022).

Đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị T1: Ông Đỗ Khánh D, sinh năm 1988; Trú tại: Khu D, xã Y, huyện H,

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Tạ Trung H, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Tổ B, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

2/ AnhTạ Việt Hoàn, sinh năm 1977;

Nơi ĐKHKTT: Khu F, xã H, huyện H, tỉnh P.

(Anh H, anh H1 ủy quyền cho Trần Thị T, theo giấy ủy quyền ngày 09/12/2021).

3/ Anh Bùi Khánh T3; sinh năm 1990 Địa chỉ: Phân đội TTG/X79/ Cục K2.

4/ Anh Bùi Trọng Q, sinh năm 1984;

Nơi ĐKHKTT: Khu F, xã H, huyện H, tỉnh P.

(Anh T3, anh Q ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T1, theo giấy ủy quyền ngày 18 và 21/01/2022).

5/ Ủy ban nhân dân huyện H Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh Đ - chức vụ Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện H.

(Văn bản ủy quyền ngày 17 tháng 4 năm 2023) 6/ Ủy ban nhân dân xã H, huyện H Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Tiến D1 - chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã H, huyện H.

(Văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 4 năm 2023) (Bà T, bà T1, ông D, anh H có mặt tại phiên tòa; Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt).

Người kháng cáo: Bà Trần Thị T nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Trần Thị T trình bày:

Bà có đăng ký kết hôn với ông Tạ Quang T4 (tức Tạ Công T5) năm 1974. Năm 1988 bà T và ông T5 về làm nhà ở trên phần đất của ông Tạ Công N1 và bà Đào Thị H2 có diện tích 1.500m2 (ông N1 mất năm 1958, bà H2 mất năm 2004). Năm 1999 do chủ trương cấp Giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng (QSD) đất của Nhà Nước. Phần đất bà H2 cho, vợ chồng bà được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, đứng tên hộ ông Tạ Công T5, tại tờ bản đồ số 36, thửa đất số 138-2, diện tích 500m2 (trong đó 300m2 đất ở và 200m2 đất vườn). Phần đất còn lại 1.000m2 cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Tạ Công V là anh trai ông T5.

Năm 2000 ông T5, bà T hạ một phần đất làm nhà mới. Năm 2007 ông, bà tách cho con trai là anh Tạ Việt H3 diện tích 187m2 (trong đó: 100m2 đất ở và 87 m2 đất vườn), tại thửa đất số 138-2A, tờ bản đồ số 36 được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 11/6/2007, đứng tên ông Tạ Việt H3 và anh H3 đã làm nhà trên phần đất này.

Sau khi tách đất cho con trai (anh H3) trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất nhà bà còn hơn 300 m2, trong đó còn một phần diện tích đất khoảng 80m2 có bụi diễn hiện nhà ông Bùi Trọng N và bà Nguyễn Thị T1 đang sử dụng để trồng chè, ông bà chưa hạ xuống, phần diện tích đất này có trong Giấy chứng nhận QSD đất nhà bà T, hằng năm bà có đóng thuế đầy đủ.

Năm 2012 ông T5 ốm nặng biết không qua khỏi nên đã làm đơn mời chính quyền địa phương, địa chính xã xuống xác định ranh giới giữa 2 hộ để sau này vợ con biết. Ngày 18/10/2012 UBND xã H cử đại diện xuống làm việc, gồm có: ông Đặng Văn T6 phó chủ tịch, anh Nguyễn Xuân B11 địa chính và ông Đào Đình H4 trưởng khu 8. Tại biên bản làm việc ngày 18/10/2012 gia đình bà có 4 người nhưng 3 người là bà và các con không ký tên và không thỏa thuận gì.

Hiện nay diện tích đất nhà bà T tổng hơn 500m2 (đã trừ phần đất tách cho anh H3) theo bà T vì có 198m2 đất trước đây nhà ông Tạ Công V là anh trai ông T5 (chồng bà tuân) cho để làm nhà được hướng. Phần diện tích đất này giáp nhà ông V, bà N2, việc cho này không có giấy tờ gì.

Nay bà T khởi kiện đề nghị ông Bùi Trọng N và bà Nguyễn Thị T1 trả lại phần diện tích đất mà ông N, bà T1 hiện đang trồng chè, mốc giới từ phần đất 2 bên đã đóng mốc giới lên 8m, có diện tích khoảng 80m2.

Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Ông bà ngoại bà T1 là ông Tạ Văn Đ1 và bà Tạ Thị C khi qua đời (cụ Đ1 mất 1980, cụ C mất 1993) đã để lại thừa kế cho vợ chồng bà là cháu ngoại thửa đất đang đứng tên chủ hộ ông Bùi Trọng N.

Ông Tạ Công N1, bà Đào Thị H2 là mẹ đẻ ông Tạ Công V, em trai là Tạ Quang T4 sống với nhau rất hòa thuận, không có sự tranh chấp về đất đai.

Ông Tạ Công N1 và bà Đào Thị H2, sau đó giao lại đất đai cho ông Tạ Công V, khi có chủ trương cấp giấy chứng nhận QSD đất của Nhà nước ông V chia cho enh trai là Tạ Quang T4 một phần là 500m2, phần giáp nhà bà T1, sau ông T4 đào giao thông hào để ngăn cách 2 nhà. Trong quá trình đó hai bên gia đình sống không hề có tranh chấp gì.

Đến năm 2007 ông T4 san ủi, hạ cốt nền và tự tay đóng cột mốc ranh giới giữa 2 nhà. Sau đó ông T4 tách bìa cho con là anh Tạ Việt H3. Đến năm 2012 khi giao sổ đỏ cho con trai ông T4 là anh Tạ Việt H3 thì phát hiện ra phần đất gia đình tôi đang canh tác từ thời các cụ (phần đất tranh chấp) có trong bản đồ 299 thể hiện đất là của nhà ông Tạ Quang T4. Sau khi phát hiện ra sự nhầm lẫn ông T4 có gọi vợ chồng bà T1 xuống nói chuyện và ông T4 có nhờ UBND xã H đứng ra giải quyết. Trong quá trình giải quyết ông T4 có xin vợ chồng tôi là “cho Cậu 2m đất”, nhưng ông N, bà T1 chưa đồng ý. Sau đó ông N, bà T1 đã mời anh, em nội của ông ngoại là Tạ Văn Đ1 đến tại gia đình để họp bàn, vợ chồng ông N, bà T1 xin ý kiến, mọi người đồng ý để cho ông T4 2m đất chiều rộng, để giữ tình cảm anh em trong họ. Ngày 18/10/2012 UBND xã H xuống giải quyết tại gia đình ông T4, bà T, gia đình bà (ông N, bà T1) đồng ý cho với diện tích 22m, có chiều rộng 2m, chiều dài 11m. Số đất còn lại thống nhất gia đình tôi sử dụng lâu dài, từ nay về sau hai bên gia đình không có khiếu kiện nữa, văn bản có ông T4, ông Nghĩa l chủ hộ ký và đại diện lãnh đạo xã ông Đặng Văn T6 phó chủ tịch UBND; địa chính xã ông Nguyễn Xuân B1; trưởng khu ông Đào Đình H4 ký vào biên bản.

Nay sau 10 năm văn bản đã thực hiện, bà Trần Thị T khởi kiện đòi lại phần diện tích mà gia đình tôi đang sử dụng từ nhiều đời nay là không có căn cứ.

Quan điểm của gia đình bà T phần đất này là của gia đình bà, do ông cha để lại; phần diện tích đất đang tranh chấp, có cả phần lối đi gia đình bà sử dụng từ nhiều đời nay, không có sự thay đổi hiện trạng và 2 bên gia đình, chính quyền địa phương đã giải quyết ranh giới 2 nhà bằng văn bản từ năm 2012.

Nay bà T1 đề nghị Tòa án không chấp nhận bác đơn khởi kiện của bà T. Còn việc trong bản đồ 299 thể hiện đất nằm trong nhà ông T4, bà T là có sự nhầm lẫn.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã H, huyện H trình bày:

Về nguồn gốc đất:

Thửa đất số 138-2, tờ bản đồ số 36 có diện tích 500,0 m2 (đất ở: 300,0 m2; đất vườn: 200,0 m2) địa chỉ tại khu F, xã H được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Quyết định số 333/QĐ-UBND, ngày 30/11/1998, đứng tên chủ hộ là ông Tạ Công T5 (là chồng bà T), địa chỉ thường trú: khu F, xã H, huyện H. Qua kiểm tra, xác minh, nguồn gốc thửa đất là do nhận tặng cho quyền sử dụng đất của mẹ đẻ là bà Đào Thị H2, khu F, xã H (hiện nay bà H2 đã chết).

Thửa đất số 139, tờ bản đồ số 36 có diện tích 2908,0 m2 (đất ở: 300,0 m2; đất vườn: 2608,0 m2) địa chỉ tại khu F, xã H được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Quyết định số 333/QĐ-UBND, ngày 30/11/1998, đứng tên ông Bùi Trọng N, địa chỉ thường trú: khu F, xã H, huyện H. Nguồn gốc sử dụng: Công nhận QSD đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Thửa đất số 138-2A, tờ bản đồ số 36 có diện tích 187,0 m2 (đất ở: 100,0 m2; đất vườn: 87,0 m2) địa chỉ tại khu F, xã H được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 386504, ngày cấp 11/6/2007, đứng tên ông Tạ Việt H3 (là con trai bà T), địa chỉ thường trú: khu F, xã H, huyện H. Nguồn gốc thửa đất là được tặng cho quyền sử dụng đất của mẹ đẻ là bà Trần Thị T, khu F, xã H.

Việc tranh chấp này chỉ xảy ra tranh chấp diện tích phần đồi chè chỉ xảy ra từ năm từ năm 2021, UBND xã H đã thụ lý hồ sơ thành lập hội đồng hòa giải và tổ chức hòa giải cho 2 gia đình. Còn trước đó 2 hộ có tranh chấp về mốc giới từ năm 2012 sau đó đã thỏa thuận thống nhất rõ ràng trong biên bản ngày 18/10/2012.

Nay các bên không thống nhất được đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật giải quyết vụ việc.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện H trình bày:

Về kết quả kiểm tra hồ sơ địa chính:

Thửa đất số 138-2, tờ bản đồ số 36 có diện tích 500,0 m2 (đất ở: 300,0 m2; đất vườn: 200,0 m2) địa chỉ tại khu F, xã H được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Quyết định số 333/QĐ-UBND, ngày 30/11/1998, đứng tên chủ hộ là ông Tạ Công T5 (là chồng bà T), địa chỉ thường trú: khu F, xã H, huyện H. Qua kiểm tra, xác minh, nguồn gốc thửa đất là do nhận tặng cho quyền sử dụng đất của mẹ đẻ là bà Đào Thị H2, khu F, xã H (hiện nay bà H2 đã chết).

Thửa đất số 139, tờ bản đồ số 36 có diện tích 2908,0 m2 (đất ở: 300,0 m2; đất vườn: 2608,0 m2) địa chỉ tại khu F, xã H được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Quyết định số 333/QĐ-UBND, ngày 30/11/1998, đứng tên ông Bùi Trọng N, địa chỉ thường trú: khu F, xã H, huyện H. Nguồn gốc sử dụng: Công nhận QSD đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Thửa đất số 138-2A, tờ bản đồ số 36 có diện tích 187,0 m2 (đất ở: 100,0 m2; đất vườn: 87,0 m2) địa chỉ tại khu F, xã H được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 386504, ngày cấp 11/6/2007, đứng tên ông Tạ Việt H3 (là con trai bà T), địa chỉ thường trú: khu F, xã H, huyện H. Nguồn gốc thửa đất là được tặng cho quyền sử dụng đất của mẹ đẻ là bà Trần Thị T, khu F, xã H. Thửa đất số 138-2A (36) được tách ra từ thửa 138-2 (36).

Đối với nội dung tại sơ đồ thửa đất thể hiện trên bản gốc GCN QSD đất số AI 386504, ngày cấp 11/6/2007 của ông Tạ Việt H3 có thể hiện thêm phần đất có diện tích 22,0m2 theo thỏa thuận hộ ông N (bà T1) tặng cho ông hộ ông T5 (bà T) năm 2012. Việc vẽ bổ sung thêm nội dung trên phần sơ đồ thửa đất không do UBND huyện H thực hiện, nội dung này sai lệch so với hồ sơ gốc đang lưu trữ tại phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H.

Đối với phần đất đang xảy ra tranh chấp:

Qua xác minh, kiểm tra hiện trạng phần diện tích đất đang xảy ra tranh chấp giữa hộ bà T và hộ ông N, thấy tại thực địa phần diện tích đất này có vị trí giáp ranh với thửa đất số 138-2A (36) của hộ ông Tạ Việt H3 và thửa đất số 139 (36) của hộ ông Bùi Trọng N; hiện tại hộ ông N đang sử dụng trồng cây lâu năm (cây Chè) trên đất.

Sau khi tiến hành đo đạc diện tích các thửa đất của hộ bà T, ông N, ông H3 và các hộ gia đình, cá nhân liên quan (hộ ông Tạ công V1 và các thửa đất có nguồn gốc tách ra từ thửa đất của ông V1); xác định các thửa đất của hộ bà T, ông N và các thửa liên quan liền kề có diện tích phù hợp so với giấy chứng nhận QSD đất đã cấp (diện tích các thửa đất sau đo đạc đều tăng so với giấy chứng nhận QS đất đã cấp).

Về diện tích đất đang có tranh chấp: Diện tích đất này do hộ ông Bùi Trọng N đang sử dụng trồng cây lâu năm (cây C1) có nguồn gốc nhận thừa kế của ông bà. Đến năm 2012 có thỏa thuận tặng cho hộ ông T5 (bà T) một phần diện tích là 22,0m2 (theo nội dung biên bản làm việc giữa hộ ông N, hộ ông T5 và UBND xã H ngày 18/10/2012), diện tích đất còn lại hộ ông N tiếp tục sử dụng cho đến khi phát sinh tranh chấp. Theo bản đồ địa chính cấp giấy chứng nhận QSD đất (bản đồ giải thửa 299) xác định phần đất đang tranh chấp thuộc thửa 138-2, tờ bản đồ số 36 đã cấp GCN QSD đất cho hộ bà Trần Thị T; tuy nhiên thực tế người sử dụng phần diện tích đất này là hộ ông Bùi Trọng N. Việc có sự không thống nhất giữa hồ sơ địa chính và thực tế sử dụng đất được xác định do trong quá trình chỉnh lý bản đồ địa chính (bản đồ giải thửa 299) xã H để cấp giấy chứng nhận QSD đất có sai sót, nhầm lẫn dẫn đến việc cấp GCN QSD đất cho hộ ông Tạ Quang T4 (T) chưa đúng thực tế sử dụng đất.

Từ việc đo đạc, kiểm tra hồ sơ địa chính xác định phần diện tích đất đang xảy ra tranh chấp giữa hộ bà T và hộ ông N đến thời điểm hiện tại có một phần diện tích thuộc thửa đất số 139, tờ bản đồ số 36 đã cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông N (bà T1) và phần lớn diện tích còn lại chưa thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân nào.

UBND huyện H đề nghị Tòa án nhân dân huyện H căn cứ hồ sơ địa chính, giấy chứng nhận QSD đất đã cấp, thực tế sử dụng đất và quá trình sử dụng đất của các hộ gia đình để xem xét giải quyết vụ việc.

Đối với diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất trong vụ việc, sau khi có kết quả giải quyết của cơ quan Tòa án, UBND huyện H xem xét công nhận và cấp giấy chứng nhận QSD đất cho người sử dụng đất theo quy định.

Lời khai của người làm chứng ông Tạ Văn T7, .

Gia đình ông và gia đình bà T, T4, bà T1, nghĩa đều là anh em trong họ. Các cụ nhà ông và ông T7 là thứ 2 trong chi, ông cụ nhà bà T1 là thứ 4 trong chi. Chúng tôi lớn lên từ nhỏ ở địa phương, hiện nay danh giới giữa 2 nhà không có gì thay đổi, không có sự lấn chiếm. Nhà ông T4, bà T trước đây ở dưới trường C4, 2 H, sau đó khoảng năm 1988 mới về ở tại diện tích đất hiện nay. Bà T về làm dâu, không sinh ra lớn lên ở phần đất trên.

Năm 2012 do có sự tranh chấp, nhà bà T có xin đất nhà bà T1, ông N. Ông N, bà T1 có xin ý kiến của các cụ, anh em trong họ vì đây là đất ông cha để lại. Mọi người trong họ gồm: ông T8 chi Tạ Văn C2 (hiện hơn 90 tuổi không còn minh mẫn), bà Tạ Thị L (trên 90 tuổi không còn minh mẫn), ông Tạ Văn K (gần 80 tuổi đã liệt), bà Tạ Thị T9, ông Tạ Văn K1 (đã chết), ông Tạ Văn T10 và ông cùng 2 vợ chồng ông N, bà T1 có họp và thống nhất để giữ lại tình cảm, đoàn kết trong họ nên nhất trí cho nhà ông T4 bà T 2 m mặt tiền sâu 11 m. Việc thống nhất đó được lập biên bản và tôi là người viết biên bản, sau đi đánh máy mỗi người giữ 1 bản. Hiện nay các cụ đã cao tuổi, người còn người mất. Phần diện tích đất, con đường đi lên nhà bà T1, ông N đang sử dụng có nguồn gốc từ xa xưa thời các cụ, không rõ từ bao giờ, nhưng khoảng 100 năm nay, không có sự thay đổi từ thời các cụ. Vấn đề sơ đồ chúng ông không rõ, nhưng ông lớn lên từ nhỏ tại địa phương nên biết rất rõ. Nay phía bà T khởi kiện cho rằng phần đất nhà bà T1, ông N đang sử dụng là trong đất nhà mình là không có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho hợp tình, hợp lý, đúng quy định pháp luật.

Lời khai của một số người làm chứng khác cũng đều xác định phần diện tích đất tranh chấp do ông N, bà T1 sử dụng từ trước đến nay.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2023/DS-ST ngày 28/4/2023, Tòa án nhân dân (TAND) huyện H đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 điều 175 bộ luật dân sự; khoản 1 điều 147; khoản 1 điều 157, khoản 1 điều 165; khoản 1, 2 Điều 228; điều 271, điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; khoản 5 điều 98; khoản 5 điều 202; khoản 1 điều 203 Luật đất đai 2013.Điểm đ khoản 1 Điều 12 và danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T.

Xác định phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Bùi Trọng N và bà Nguyễn Thị T1 từ thời ông bà để lại và đã được các bên thống nhất, xác nhận từ năm 2012. Ông N, bà T1 liên hệ cơ quan có thẩm quyền để chỉnh lý sơ đồ thửa đất cho phù hợp thực tế sử dụng đất.

Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền yêu cầu thi hành án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/5/2023 bà Trần Thị T kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Trần Thị T giữ nguyên kháng cáo, những căn cứ kháng cáo như đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số :02/2023/DS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Hòa. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa nội dung tuyên của bản án dân sự sơ thẩm số:02/2023/DS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hà Hòa.

(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bà Trần Thị T là nguyên đơn trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo: Bà Trần Thị T kháng cáo cho rằng diện tích 80m2 đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện H cấp năm 1999 đứng tên ông Tạ Công T5 là chồng bà. Do vậy, thuộc quyền sử dụng của gia đình bà T, bà đề nghị gia đình bà T1, ông N hiện đang sử dụng trả lại cho gia đình bà. Để xác định diện tích đất tranh chấp có thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình bà T hay không cần xem xét, đánh giá giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện H cấp cho ông Tạ Công T5 năm 1999 trong đó có phần diện tích đất tranh chấp có đúng quy định của pháp luật không? Quá trình giải quyết vụ án UBND huyện H trình bày: Theo bản đồ địa chính (bản đồ giải thửa 299) xác định phần đất đang tranh chấp thuộc thửa 138-2, tờ bản đồ số 36 đã cấp GCN QSD đất cho hộ ông Tạ Công T5; tuy nhiên thực tế người sử dụng phần diện tích đất này là hộ ông Bùi Trọng N. Việc có sự không thống nhất giữa hồ sơ địa chính và thực tế sử dụng đất được xác định do trong quá trình chỉnh lý bản đồ địa chính (bản đồ giải thửa 299) xã H để cấp giấy chứng nhận QSD đất có sai sót, nhầm lẫn dẫn đến việc cấp GCN QSD đất cho hộ ông Tạ Quang T4 chưa đúng thực tế sử dụng đất. Trình bày của UBND huyện H phù hợp với trình bày của gia đình ông N, bà T1 cho rằng phần diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là đất của ông, bà ngoại bà T đã sử dụng cách đây khoảng 60-70 năm. Thửa đất ông, bà T N3 đang sử dụng trong đó có cả phần diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của ông bà ngoại bà T cho vợ chồng bà. Bà T trình bày: Bà sinh ra và lớn lên trên thửa đất này, từ khi bà sinh ra cho đến nay phần diện tích đất tranh chấp vẫn do gia đình bà sử dụng. Hiện trạng sử dụng thửa đất vẫn còn thể hiện trên phần diện tích tranh chấp hiện nay có con đường mà gia đình bà sử dụng từ thời ông bà ngoại bà cho đến nay. Khoảng tháng 2/2022 gia đình bà xây lại nhà mới thì mở con đường đi khác, nhưng con đường này hiện nay vẫn còn để đi vào ngôi nhà cũ. Diện tích đất tranh chấp gia đình bà sử dụng trước kia trồng tre sau đó phá bỏ đi nay trồng chè. Gianh giới đất giữa gia đình nhà bà với thửa đất gia đình bà T trước kia là giao thông hào do chính ông T4 là người đào để ngăn cách. Năm 2007 gia đình ông Thạch hạ cốt nền cũng hạ từ chính đường giao thông hào. Năm 2012 chính ông T4 xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình bà nên đã nói với gia đình bà cho con trai ông T4 là cháu H3 phần diện tích có chiều rộng 2m đất, chiều dài 11m, tổng 22m2 giáp với đất nhà ông T4. Gia đình bà đồng ý cho và sau đó gia đình ông T4 hạ cốt 22m2. Hiện nay thế đất nhà ông T4, bà T thấp hơn thế đất nhà bà khoảng 2,5m. Lời trình bày của bà T1 phù hợp kết quả xem xét thẩm định tại chỗ tài sản xác định phần diện tích đất tranh chấp theo đo vẽ thực tế là 108,5m2 của Tòa án nhân dân huyện H trên phần diện tích đất tranh chấp có con đường đi vào thửa đất gia đình ông N3, bà T1. Phù hợp với thực tế hiện trạng gia đình ông bà N, T1 đang sử dụng trồng cây chè trên phần diện tích đất này. Ngoài ra còn phù hợp với trình bày của những người làm chứng sống cùng khu dân cư giáp với thửa đất tranh chấp đều xác định nguồn gốc sử dụng phần diện tích đất tranh chấp từ trước đến nay do gia đình ông N3, bà T1 sử dụng.

Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là biên bản làm việc tại: khu H, xã H, huyện H ngày 18/10/2012 trong đó có đại diện ủy ban nhân dân xã H, cán bộ địa chính, trưởng khu dân cư, ông T4, ông N3. Trong biên bản làm việc nội dung: Xác định phần diện tích đất tranh chấp gia đình ông N3 đang sử dụng thuộc quyền sử dụng của ông bà T1, N3. Ông N3 cắt cho anh H3 phần diện tích 22m2 trong đó có chiều dài 11m, chiều rộng 02m.

Căn cứ vào những phân tích nhận định trên xác định phần diện tích đất tranh chấp từ trước đến nay không thuộc quyền sử dụng của gia đình bà T, ông T4. Năm 1999 UBND huyện H cấp phần diện tích đất này vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông T4 là có sai sót, nhầm lẫn nghĩa là cấp giấy chứng nhận cho ông T4 không đúng hiện trạng sử dụng, không đúng quy định của pháp luật. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T2.

Năm 1999 UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 138-2, tờ bản đồ số 36 địa chỉ thửa đất tại: Khu H, xã H, huyện H, tỉnh P cho ông T4 bao gồm cả phần diện tích đất tranh chấp. Năm 2007 ông T4, bà T tặng cho con trai là anh H3 diện tích 187m2, anh H3 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H3 có ghi phần diện tích đất tranh chấp là thuộc thổ cư ông T4, còn diện tích đất còn lại của ông T4 được điều chỉnh tại trang 4 mà không cấp giấy chứng nhận mới. Như vậy, hiện tại phần diện tích đất tranh chấp vẫn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T4. UBND huyện H cho rằng phần diện tích đất này hiện nay chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân nào là không đúng với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bác yêu cầu khởi kiện của bà T tức là xác định diện tích đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng của gia đình bà T, ông T4, nhưng lại không huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T4 đối với phần diện tích đất tranh chấp là chưa giải quyết triệt để đối với vụ án này. Đối với nội dung này Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình chỉnh lý bản đồ địa chính (bản đồ giải thửa 299) xã H để cấp giấy chứng nhận QSD đất có sai sót, nhầm lẫn dẫn đến việc cấp GCN QSD đất cho hộ ông Tạ Quang T4 chưa đúng thực tế sử dụng. Như vậy, UBND huyện H cấp GCNQSDĐ phần diện tích đất tranh chấp sai đối tượng nên không cần huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T4 mà cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 106 Luật đất đai, điểm a khoản 4 mục 26 Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính Phủ kiến nghị UBND huyện H thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày ngày 22/01/1999, đứng tên chủ hộ là ông Tạ Công T5 (là chồng bà T), địa chỉ thường trú: khu F, xã H, huyện H và cấp lại theo đúng hiện trạng sử dụng sau khi trừ đi diện tích đất tranh chấp 108,5m2 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh H3 năm 2007 trong giấy chứng nhận có ghi phần diện tích đất tranh chấp là thổ cư ông T5 cũng cần phải và thu hồi và cấp lại cho anh H3 để bỏ nội dung ghi thổ cư ông T5 trong giấy chứng nhận.

Bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, trong phạm vi giải quyết của vụ án, bà T2 không có phản tố nhưng bản án quyết định: Xác định phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Bùi Trọng N và bà Nguyễn Thị T1 từ thời ông bà để lại và đã được các bên thống nhất, xác nhận từ năm 2012. Ông N, bà T1 liên hệ cơ quan có thẩm quyền để chỉnh lý sơ đồ thửa đất cho phù hợp thực tế sử dụng đất là vượt quá phạm vi yêu cầu giải quyết của vụ án, nên nội dung này cần rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm.

[3] Về án phí phúc thẩm: Bà T kháng cáo không chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm nhưng bà T thuộc trường hợp được miễn án phí Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà T, nhưng sửa cách tuyên của bản án sơ thẩm số: 02/2023/DS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hoà, tỉnh P là phù hợp với pháp luật, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T. Sửa cách tuyên của bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2023/DS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hoà, tỉnh P.

Căn cứ vào khoản 1 điều 175 Bộ luật Dân sự; khoản 1 điều 147; khoản 1 điều 157, khoản 1 điều 165; khoản 1, 2 Điều 228; điều 271, điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; khoản 5 điều 98; khoản 5 điều 202; khoản 1 điều 203 Luật đất đai 2013. Điểm đ khoản 1 Điều 12 và danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

[2]. Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T khởi kiện đề nghị ông Bùi Trọng N và bà Nguyễn Thị T1 trả lại phần diện tích đất mà ông N, bà T1 hiện đang trồng chè, mốc giới từ phần đất 2 bên đã đóng mốc giới lên 8m, có diện tích khoảng 80m2.

[3] Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh P thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 22/01/1999 đứng tên hộ ông Tạ Công T5 đối với thửa đất số 138-2, tờ bản đồ số 36 địa chỉ thửa đất tại: Khu H, xã H, huyện H, tỉnh P và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo đúng hiện trạng sử dụng sau khi trừ đi diện tích đất tranh chấp 108,5m2 (có sơ đồ bản vẽ hiện trạng kèm theo).

Thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 386504 ngày 11/6/2007 do UBND huyện H cấp cho cho ông Tạ Việt H3, diện tích là 187m2 đối với thửa đất số 138-2A tờ bản đồ số 36 tại: Khu H, xã H, huyện H, tỉnh P và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H3 bỏ nội dung ghi thổ cư ông T5 trong giấy chứng nhận.

Các đương sự có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

[4] Về án phí phúc thẩm: bà Trần Thị T thuộc trường hợp được miễn án phí.

“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

[5] Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

154
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 49/2023/DS-PT

Số hiệu:49/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về