Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 34/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 34/2023/DS-ST NGÀY 17/05/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 285/2021/TLST-DS ngày 28-12-2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐST-DS ngày 20-4-2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh TC, sinh năm 1969; nơi cư tru: Số 504 tổ 17 ấp PH, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T; co măt.

Người đại diện hợp phap theo ủy quyền cua ông TC: Ông Trần VH, sinh năm 1963; nơi cư tru: ấp PL 1, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T; co măt

Bị đơn: Ba Nguyễn Thị KĐ, sinh năm 1967; co măt Ông Trần VV, sinh năm 1965; vắng măt.

Người đại diện hợp phap theo ủy quyền cua ông VV: Ông Trần VT, sinh năm 1989; co măt.

Cung nơi cư tru: Ấp PH, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ông TC va ngươi đaị diêṇ theo uy quyền cua ông TC trinh bay:

Năm 2020, ông TC đươc nhưng ngươi thưa kế cua ba Phạm KC (đã chết năm 1997, cha Huỳnh VN (chết năm 1986) lâp văn ban thoa thuân phân chia cho di san la thưa đất 88, tơ ban đồ 11, đất tai ấp PH, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T.

Nay ông TC khởi kiện yêu cầu bà KĐ, ông VV tra diên tich đất đo đac thưc tế 292,1 m2, thuôc môt phần thưa đất 88, tơ ban đồ 11, đồng thơi di dơi cac tai san trên đất để trả lại hiện trạng đất.

Đất là của cha me ông tặng cho ông vào năm 1989. Diện tích đất thời điểm tặng cho khoảng 11.000 m2 (bao gồm cả thưa đất 88, tơ ban đồ 11 hiên nay), tại ấp PH, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T. Lúc tặng cho không làm giấy tờ nhưng anh em trong gia đình đều biết và đồng ý; do đó, vào năm 2020 các thưa kế cua ba KC, ông Năm mơi lâp văn ban thoa thuân phân chia cho di san la thưa đất 184, 88, tơ ban đồ 11. Ngay 09-01-202, ông đa đăng ky va đươc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 8.333 m2; thưa đất 184 tơ ban đồ 11, giấy chưng nhân quyền sư dung đất.

Diên tich đất con lai thi 2.088 m2 đa giai quyết tranh chấp trong vu an vơi ông H (ban an số 133/2010/DSPT ngay 14-7-2010 cua Toa an nhân dân tinh T), kết quả giải quyết ông H được giữ lại diện tích đất tranh chấp, được công nhận tại bản án số 133/2010/DSPT ngày 14-7-2010 của TAND tỉnh T).

Nguồn gốc diên tich 292,1 m2 đang tranh chấp vơi ba KĐ, ông VV: Vao khoang năm 1987-1988 ba KC co chuyên nhương đất cho ba KĐ diên tich khoang 2.000 m2. Ba KĐ ông VV đa đươc cấp giấy chưng nhân quyền sư dung đất, ông không co tranh chấp hay y kiến gi đối vơi diên tich đất nay. Tai thơi điêm ba KC chuyên nhương đất thi diên tich đất măt tiền đất la thưa đất 88 tơ ban đồ 11 (đo thưc tế hiên nay diên tich 11.886,4 m2) la hanh lang kênh Tây, do nha nươc quan ly nên ba KC không co chuyên nhương đất cho vơ chồng ba KĐ, ông VV.

Nay ông khơi kiên đoi diên tich 292,1 m2 thuôc môt phần thưa đất 88 tơ ban đồ 11, do hiên nha nươc tra lai cho chu cu.

Bà Nguyễn Thị KĐ trình bày:

Đối vơi yêu cầu khơi kiên cua ông TC về viêc buôc vơ chồng ba tra diên tich đất đo đac thưc tế 292,1 m2, di dơi cac tai san trên đất để trả lại hiện trạng đất thi ba không đồng y.

Nguồn gốc đất tranh chấp: Vào năm 1992 vợ chồng ba có mua của bà Phạm KC.

Thời điểm mua đất rất rẻ, vợ chồng ba mua của ba KC 2.500 m2 (trong đó bao gồm cả diện tích đất hiện đang tranh chấp 292,1 m2), tại ấp PH, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T với giá 2.500.000 đồng (đã giao đủ tiền cùng lúc mua), giao tiền xong thì ba KC chỉ đất cho vợ chồng ba, hai bên lúc đó không đo đạc thực tế mà ba KC trực tiếp chỉ ranh đám đất cho vợ chồng tôi. Việc mua bán giữa hai bên có lập giấy tay, nhưng do lâu và đã làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất do vợ chồng tôi đứng tên nên đã bị thất lạc mất. Khi vơ chồng ba mua đất ba KC co noi hiên đất phia trươc thuôc hanh lang kênh tây ba KC không dam ban, nếu sau nay nha nươc tra lai diên tich đất tai hanh lang kênh Tây thi vơ chồng ba đươc hương. Tuy nhiên luc đo hai bên chi noi miêng, không co lam văn ban.

Vao năm 1995 vơ chồng ba co mua thêm cua ông Sau Tr (không nhơ ho tên, đa chết) 04 công đất, gia 16 chi vang 24k, mua co lam giấy tay lâu qua đa mất rồi), luc đo ông Sau Tr không co giấy chưng nhân quyền sư dung đất.

Vao năm 1997 vơ chồng ba co mua thêm cua ba Kh (không nhơ ho tên, đa chết) 01 công đất, gia 1.000.000 đồng, mua co lam giấy tay (lâu qua đa bi không co giấy chưng nhân quyền sư dung đất.

ất), luc đo ba Kh Vào năm 1997 vợ chồng ba gom toan bô diên tich đất mua cua ba KC, ông Sau Tr, ba Kh đê đi đăng ky kê khai quyền sư dung đất, va được cấp giấy chưng nhân quyền sư dung đất diện tích khoảng 10.000 m2.

Trong diên tich được cấp giấy chưng nhân quyền sư dung đất, đó không có diện tích đất tranh chấp 292, 1 m2, vì diện tích đất nay là đất thuộc lưu không kênh Chính Tây, thuộc đất Nhà nước quản lý nên dân không đăng ký kê khai được - Ba có nộp kèm Thông báo số 07 - 20/6/2005 về việc dân phải giải tỏa nhà ở thuộc phạm vi vùng cận bảo vệ kênh Chính Tây).

Thực tế phần diện tích thuộc lưu không kênh Tây thì nhà nước không cho làm công trình kiên cố, không cho trồng cây lâu năm. Nhà nước có đuổi dân sống thuộc lưu không kênh Tây nhiều lần nhưng do khổ nên người ta không đi, vì vậy những người ở trên đất này làm nhà lá tạm, như vợ chồng ba làm giàn bánh tráng đơn giản dễ dỡ bỏ thì Nhà nước không có đuổi đi. Vơ chồng làm lò bánh tráng và làm giàn phơi bánh tráng trên đất tranh chấp đã khoảng 10 năm, còn trước đó đất tranh chấp ba sử dụng làm bột phơi bột củ mì, xác củ mì khoảng 17 năm; nhưng không có ai cản trở gì cả.

Đất tranh chấp là do thuộc kênh Tây, đất nhà nước nên ba không đăng ký được, nếu được thì ba đã đăng ký rồi. Ba có biết UBND tỉnh T có văn bản về việc trả lại diện tích đất lưu không Tây ba đã đi đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, nhưng lúc đó ông Cường đang tranh chấp với ông H nên ba không đăng ký tiếp được.

Trươc đấy ơ xa ba co đề xuất mua 200.000.000 đồng/01 công, nay nếu ông TC không đồng y thi ba cung không đồng y.

Vợ chồng ba đã sử đất tranh chấp từ năm 1992 đến nay, do đó, vơ chồng ba không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông TC.

Phia ông TC trinh bay về viêc nha nươc co hop dân như nêu trên thi ba không biết. Khi ba mua đất cua ba KC thi ba co biết, vi vây ba va ba KC co thoa thuân vơi nhau, ba KC co noi ro vơi vơ chồng ba nếu nha nươc tra lai đất cho ba thi vơ chồng ba đươc hương. Ba chi thiếu sot la không lam văn ban ghi ro về thoa thuân nay thôi. Thưc tế ba đa sư dung đất tư khi mua đất đến nay.

Ông Trần VT trinh bay: Thống nhất lơi trinh bay va quyết điṇh cua ba KĐ.

Diên tich đất tranh chấp đo đac thưc tế 292,1 m2, thuôc môt phần thưa đất 88 (thưa đất 88 co diên tich 1.886,4 m2), tơ ban đồ 11, tai ấp PH, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T, tri ̣gia 176.847.271 đồng.

Tai công văn số 2292/UBND ngay 22-12-2022 cua UBND Huyên Dương Minh Châu thê hiên: Thưa đất số 88 tơ ban đồ 11, tơ ban đồ điạ chinh xa Phươc Ninh, theo hồ sơ điạ chinh thê hiên ông VV, ba KĐ kê khai đăng ky nhưng chưa đươc cấp giấy chưng nhân quyền sư dung đất.

Theo sơ đồ hiên trang đất đa đươc Phong tai nguyên va Môi trương nghiêm thu, xac nhân, thê hiên phần diên tich đất 1.886,4 m2 thuôc thưa 88, tơ ban đồ 11, ban đồ điạ chinh xa Phươc Ninh, không thuôc pham vi lưu không kênh 15 (tinh tư mep trong bơ kênh Tây) do nha nươc đang quan ly, do đo diên tich đất nay đươc xem xet, cấp giấy chưng nhân theo quy điṇh phap luât.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 166, 221 Bộ luật dân sự 2015, Điều 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh TC đối với ông Trần VV, bà Nguyễn Thị KĐ về tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 292,1 m2 thuộc một phần thửa 88, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính xã PN.

+ Giao cho ông VV, bà KĐ được quyền sử dụng phần đất có diện tích 292,1 m2 thuộc một phần thửa 88, tờ bản đồ số 11 tọa lạc ấp PH, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T.

+ Ông VV, bà KĐ thanh toán lại cho ông Cường giá trị tài sản đất tranh chấp (292,1m2) theo gia tri ̣thê hiên tai chứng thư trên cơ sở có xem xét đến công cải tạo đất của ông VV, bà KĐ.

Đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quá trình giải quyết vụ án, ông VV vắng măt, co ngươi đai diên theo uy quyền co măt. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Pham vi khơi kiên: Ban đầu ông TC khơi kiên tranh chấp 315,1 m2. Qua trinh giai quyết ông TC rut lai yêu cầu khơi kiên đối vơi diên tich đất 23 m2 đa đươc giai quyết tai ban an số 133/2010/DSPT ngay 14-7-2010 cua Toa an nhân dân tinh T; do đo đinh chi yêu cầu của ông Huynh TC đối vơi diên tich đất 23 m2. Nay ông TC khởi kiện yêu cầu bà KĐ, ông VV tra diên tich đất đo đac thưc tế 292,1 m2, di dơi cac tai san trên đất để trả lại hiện trạng đất. Căn cư Điều 5 Bô luât tố tung dân sư, Tòa án giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện nay cua ông TC.

Tai phiên toa, ông TC va ngươi đai diên yêu cầu giai quyết thêm diên tich đất khoang 1.500 m2 thuộc một phần thửa 88, tờ bản đồ số 11 tọa lạc ấp PH, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T, do ông VV, ba KĐ mơi lấn chiếm. Viêc bô sung yêu cầu khơi kiên vươt qua yêu cầu khơi kiên ban đầu nên không xem xet trong vu an nay.

[2] Xét yêu cầu khơi kiên:

Qua trinh giai quyết, ông TC, ông VV, ba KĐ cung thưa nhân vao khoang năm 1987-1988 ba KC co chuyên nhương cho ông VV, ba KĐ diên tich đất khoang 2.000 m2; ông VV, ba KĐ đa đươc cấp giấy chưng nhân quyền sư dung đất cac bên không tranh chấp. Tai thơi điêm chuyên nhương, diên tich đất 1.886,3 m2 9die65n tich đang tranh chấp 292,1 m2) giap kênh tây thưa đất 88, tơ ban đồ 11 thuôc quy hoach hanh lang kênh Tây nên ba KC, ông VV, ba KĐ không co thoa thuân chuyên nhương. Hai bên đương sư đều cho rằng thơi điêm nay ba KC hưa tăng cho diên tich đất tai thưa đất 88, tơ ban đồ 11 khi nha nươc tra lai đất cho ngươi dân nhưng không ai cung cấp đươc chưng cư.

Qua xem xet thưc tế sư dung đất, hồ sơ đất đai, ông VV, ba KĐ sư dung diên tich đất nhân chuyên nhương cua ba KC, bao gồm ca diên tich 292,1 m2 đang tranh chấp tư thơi điêm chuyên nhương cua ba KC năm 1987-1988 cho đến nay, sư dung đa trên 30 năm. Tai vi ̣tri thưa đất 88 ba KĐ, ông VV sư dung làm nơi phơi bột củ mì, xác củ mì, lam lò bánh tráng, sư dung môt phần diên tich lam đương đi, đồng thơi tiến hanh đăng ky kê khai diên tich đất tai thưa đất 88, tơ ban đồ 11 vơi diên tich 2.410,7 m2 nhưng không ai ngăn can.

Ông TC cho rằng vao năm 1989 ông Năm, ba KC đa tăng cho ông diên tich đất tai đất thưa đất 88 tơ ban đồ 11 (trong đo co diên tich đất tranh chấp 292,1 m2) không lam giấy tơ, nhưng tư thơi điêm đươc cha me tăng cho ông không quan ly, sư dung đất.

Theo quy định pháp luật, quyền sư dung đất cua ca nhân đươc hinh thanh do đươc Nha nươc giao quyền sư dung đất, đươc thưa kế quyền sư dung đất, đươc chuyên nhương Quyền sư dung đất va con đươc Nha nươc công nhân Quyền sư dung đất.

Khoan 9 Điều 3 Luât đất đai 2013 quy điṇh: “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định.” Trong trương hơp nay, ông VV, ba KĐ đa sư dung đất ôn điṇh theo Điều 21 Nghị điṇh số 43/2014/NĐ-CP cua Chinh phu từ năm 1987-1988 va đa thưc hiên viêc đăng ky quyền sư dung đất tai sô muc kê xa Phươc Ninh vao năm 2008 nên đa hinh thanh quyền sư dung đất hơp phap. Gia đinh ông TC không đăng ky kê khai quyền sư dung đất, cũng không quan ly sư dung, không thưc hiên cac nghia vu cua ngươi sư dung đất nên quyền sử dụng đất đa không con tồn tai.

Khi kiên đoi lai tai san, ông TC không chưng minh đươc ông la ngươi sư dung hơp phap. Do đo, không co căn cư chấp nhân yêu cầu khơi kiên cua ông TC; không chấp nhân đề nghi ̣cua Kiêm sat viên.

[5] Về chi phí thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá: Theo Khoản 1 Điều 157; Khoản 1, 6 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự:

Chi phí tổng cộng là 18.000.000 đồng. Ông TC phải chịu toàn bộ do yêu cầu khởi kiện của ông không được chấp nhận (ghi nhân đa nôp xong).

Ông VV, bà Đê không phải chịu.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Ông TC phải chịu an phi do yêu cầu khởi kiện của ông không được chấp nhận:

176.847.271 đồng x 5% = 8.842.364 đồng.

Ông VV, bà Đê không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoan 9 Điều 3 Luât đất đai 2013, Điều 21 Nghi ̣ điṇh số 43/2014/NĐ-CP cua Chinh phu; Điều 190, 160 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huynh TC đối vơi tranh chấp quyền sử dụng đất diên tich 292,1 m2; thuộc môt phần thửa đất số 88, tờ bản đồ số 11. Đất tai ấp PH, xã PN, huyện Dương Minh Châu, tỉnh T.

Đinh chi yêu cầu khởi kiện của ông Huynh TC đối vơi diên tich đất 23 m2.

2. Về chi phí thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá:

Ông Huynh TC phải chịu toàn bộ là 18.000.000 đồng (ghi nhận đã nộp xong).

Ông Trần VV, bà Nguyễn Thi ̣KĐ không phải chịu.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Huynh TC phải chịu 8.842.364 đồng, đươc khấu trư vao 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011968 ngày 22-12-2021 tai Chi cuc Thi hanh an Dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh T. Ông Huynh TC con phai nôp thêm 8.542.364 (tam triêụ năm trăm bốn mươi hai nghin ba trăm sau mươi bốn) đồng.

Ông Trần VV, bà Nguyễn Thi ̣KĐ không phải chịu.

4. “Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo đến Toà án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

83
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 34/2023/DS-ST

Số hiệu:34/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/05/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về