TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 33/2024/DS-ST NGÀY 21/02/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 21 tháng 2 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 395/2023/TLST-DS ngày 24/10/2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-DS ngày 12/1/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2024/QĐST-DS ngày 25/1/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1963. Địa chỉ: E H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Nguyễn Trí T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: D L, ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc T2, sinh năm 1995. Địa chỉ: C Đường số G, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt) 3. Người làm chứng:
- Bà Trần Thị Thu T3, sinh năm 1959. (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: 4 L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1961. (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: T N, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trần Mạnh C, sinh năm 1966. (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: 1 T, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Trần Mạnh T4, sinh năm 1968. (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: 1 T, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Nguyễn Phương K, sinh năm 1993. (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: A B, phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Ngọc Phương U, sinh năm 1994. (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: E H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 23/10/2023, và các biên bản tự khai, biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Trần Thị T ủy quyền cho ông Lê Nguyễn Trí T1 trình bày:
Trước đây bà Trần Thị T có trực tiếp thỏa thuận và giao dịch nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Trần Ngọc P Uyên đối với diện tích 468,1 m² thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM272019, số vào số cấp GCN: CH02718 do UBND huyện N cấp ngày 19/10/2012, cập nhật biến động tên Trần Ngọc P Uyên ngày 09/11/2012. Việc giao dịch chuyển nhượng nêu trên có lập Hợp đồng đặt cọc đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/02/2013, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên bà Trần Thị T thường xuyên đi thăm con du học ở nước Úc nên bà T nhờ cháu Trần Nguyễn Phương K đứng tên giùm nên ngày 06/03/2013 bà Trần Ngọc Phương U và cháu Trần Nguyễn Phương K ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản đi với đất) số công chứng 001425, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Văn phòng công chứng P1 chứng thực. Ngày 03/4/2013 UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03074 đối với thửa đất nêu trên cho Trần Nguyễn Phương K (đứng tên giùm cho bà Trần Thị T) nhưng thực tế ngay chuyển nhượng bà T quản lý đất sử dụng đất diện tích 468,1 m² thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P.
Tuy nhiên sau đó, vì cháu K phải đi nước ngoài du học nên không thể tiếp tục đứng tên thửa đất nêu trên, bà Trần Thị T đã trao đối với cháu K là nhờ một người cháu tên Nguyễn Quốc T2 (T2 là con của người em gái ruột tên Trần Thị Thu L) đứng tên giùm cho bà Trần Thị T đối với thửa đất nêu trên và cháu K làm thủ tục sang tên lại để cháu T2 đứng tên. Ngày 18/6/2013 cháu K với cháu T2 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004101, quyền 02TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Văn phòng P1. Do đó Nguyễn Quốc T2 là người đứng tên giùm bà Trần Thị T trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp ngày 05/7/2013 đối với diện tích 168m² (loại đất trồng lúa nước) thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38 xã P huyện N. Trên thực tế thì bà T là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên cũng như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp ngày 05/7/2013 cho Nguyễn Quốc T2 thì bà T cất giữ. Đến ngày 02/8/2013 bà T có làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất ở trong đó 137,8 m² (ONT) và còn lại 30,2m² (LUK) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp ngày 05/7/2013 cập nhật biến động đối với diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)).
Bà Trần Thị T nhiều lần yêu cầu cháu Nguyễn Quốc T2 ký giấy tờ, làm thủ tục chuyển quyền sang tên thửa đất nêu trên lại cho bà Trần Thị T nhưng cháu T2 không đồng ý, đã làm đơn yêu cầu UBND xã P hòa giải tranh chấp nhưng cháu T2 vẫn không hợp tác, kết quả hòa giải không thành.
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị T ủy quyền cho ông Lê Nguyễn Trí T1 yêu cầu Tòa công nhận cho bà Trần Thị T là người có quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp cho Nguyễn Quốc T2 vào ngày 05/7/2013 cập nhật biến động ngày 02/8/2013. Đồng thời bà Trần Thị T liên hệ cơ quan có thẩm quyền xác lập quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
- Bị đơn Nguyễn Quốc T2 tại biên bản tự khai ngày 26/10/2023 trình bày:
Ngày 24/10/2023 ông T2 có nhận được giấy thông báo của Tòa án huyện Nhà Bè về việc tranh chấp Quyền sử dụng đất với bà Trần Thị T, và ông Trần Ngọc H1, địa chỉ thường trú E H, phường T, Quận G TP . về việc yêu cầu ông T2 sang tên lại thửa đất 595, tờ bản đồ số 38, tại xã P, huyện N.
Ông T2 bày tỏ như sau: Thật sự vợ chồng ông Trần Ngọc H1 và bà Trần Thị T có nhờ ông T2 đứng tên đất năm 2013, nhưng ông T2 không giữ giấy gì cả, và cũng không biết đất nằm ở đâu. Mới đây ông H1 bà T có yêu cầu ông T2 cho mượn giấy CMND và làm giấy xác nhận độc thân. Nhưng bây giờ ông T2 không đồng ý đứng tên giúp nữa, vì thấy phiền phức và thưa kiện. Để tránh chuyện không hay xảy ra.
- Người làm chứng bà Trần Thị Thu T3 và bà Trần Thị Thu H và ông Trần Mạnh C và ông Trần Mạnh T4 trình bày tại văn bản tường trình và cam kết ngày 31/7/2023:
Bà Trần Thị Thu T3 và bà Trần Thị Thu H và ông Trần Mạnh C và ông Trần Mạnh T4 là chị ruột, em ruột của Trần Thị T và Trần Thị Thu L, còn Nguyễn Quốc T2 là con của Trần Thị Thu L.
Bà Trần Thị Thu T3 và bà Trần Thị Thu H và ông Trần Mạnh C và ông Trần Mạnh T4 khẳng định: Nguyên trước đây Trần Thị T có nhờ cháu Nguyễn Quốc T2 đứng tên giùm một thửa đất khác cũng tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, thửa đất này trước đây T nhờ cháu Trần Nguyễn Phương K đứng tên giùm nhưng cháu K phải đi du học ở nước ngoài nên T nhờ cháu Nguyễn Quốc T2 đứng tên giùm. Trên thực tế thì Trần Thị T là người trực tiếp quản lý, sử dụng đối với thửa đất 595, tờ bản đồ số 38, tại xã P, huyện N.
Việc Trần Thị T nhờ Trần Thị Thu L và cháu Nguyễn Quốc T2 và cháu Trần Nguyễn Phương K đứng tên giùm thì các anh chị em trong gia đình đều biết sự việc.
- Người làm chứng bà Trần Nguyễn Phương K trình bày tại biên bản tự khai ngày 01/11/2023:
Nguyên trước đây bác Trần Thị T có nhận chuyển nhượng thửa đất số 595; tờ bản đồ số: 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, TP ..
Vì lý do bác Trần Thị T thường xuyên đi thăm con du học ở nước Úc nên bác T nhờ Bà Trần Nguyễn Phương K đứng tên giùm thửa đất nêu trên. Do đó, bà Trần Nguyễn Phương K đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03074 do UBND huyện N cấp ngày 03/4/2013. Tuy nhiên bà Trần Nguyễn Phương K phải đi nước ngoài du học nên bà Trần Nguyễn Phương K không thể tiếp tục đứng tên thửa đất nêu trên. Bác T đã trao đối với bà Trần Nguyễn Phương K là nhờ một người cháu tên Nguyễn Quốc T2 đứng tên giùm cho bác T đối với thửa đất nêu trên và bà Trần Nguyễn Phương K làm thủ tục sang tên lại để ông T2 đứng tên. Do đó, ngày 18/6/2013 bà Trần Nguyễn Phương K với ông Nguyễn Quốc T2 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004101, quyền 02TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Văn phòng công chứng P1 chứng nhận cùng ngày 18/6/2013 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp ngày 05/7/2013 cho Nguyễn Quốc T2. Như vậy ông T2 là người thay Bà Trần Nguyễn Phương K đứng tên giùm cho bác T đối với thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, TP ..
Bà Trần Nguyễn Phương K cam kết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là theo yêu cầu của bác Trần Thị T để ông T2 đứng tên giùm cho bác T trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Trên thực tế thì bà Trần Nguyễn Phương K không có trao đổi, giao dịch và không giao nhận tiền với ông Nguyễn Quốc T2.
- Người làm chứng bà Trần Ngọc Phương U trình bày tại biên bản tự khai ngày 01/11/2023:
Trước đây bà Trần Ngọc P Uyên có đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM272019, số vào số cấp GCN: CH02718 do UBND huyện N cấp ngày 19/10/2012, cập nhật biến động tên Trần Ngọc P Uyên ngày 09/11/2012 đối với thửa đất số 595; tờ bản đồ số: 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, TP ..
Bà Trần Ngọc Phương U đã trao đổi, thỏa thuận và trực tiếp giao dịch chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà Trần Thị T, việc chuyển nhượng nêu trên có lập Hợp đồng đặt cọc đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/02/2013. Giá chuyển nhượng tại thời điểm ký hợp đồng là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Bà Trần Thị T là người trực tiếp thanh toán đủ 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) cho Trần Ngọc Phương U và Trần Ngọc Phương U cũng đã bàn giao đất cho bà Trần Thị T sử dụng. Tuy nhiên, do đã thỏa thuận từ trước, bà Trần Thị T không trực tiếp đứng tên trên hợp đồng công chứng mà nhờ người cháu là Trần Nguyễn Phương K đứng tên giùm trên hợp đồng công chứng. Bà Trần Ngọc P Uyên cam kết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là do Trần Ngọc P Uyên trao đổi, giao dịch trực tiếp với bà Trần Thị T. Bà Trần Nguyễn Phương K chỉ có mặt khi ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản đi với đất) số công chứng 001425, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Văn phòng công chứng P1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè phát biểu ý kiến: Qua thực hiện công tác kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đối với vụ án nhận thấy, trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử cũng như diễn biến tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã tuân thủ thực hiện đúng, đủ pháp luật về tố tụng; người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về tố tụng. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn công nhận cho bà Trần Thị T là người có quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp cho Nguyễn Quốc T2 vào ngày 05/7/2013 cập nhật biến động ngày 02/8/2013. Đồng thời bà Trần Thị T liên hệ cơ quan có thẩm quyền xác lập quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)..
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét nguyên đơn bà Trần Thị T yêu cầu công nhận cho bà Trần Thị T là người có quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Tài sản đang tranh chấp là bất động sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ căn cứ Khoản 9 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy đây là tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.1] Trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã nhiều lần tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng bị đơn Nguyễn Quốc T2 đến Tòa án để giải quyết, xét xử nhưng bị đơn vẫn không đến, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Quốc T2.
[1.2] Ông Trần Ngọc H1 và bà Trần Thị T là vợ chồng sự việc bà Trần Thị T có giao dịch với Trần Ngọc P Uyên đối với diện tích 468,1 m² thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh là phần tiền riêng bà T. Ông Trần Ngọc H1 xác định việc bà T yêu cầu công nhận cho bà Trần Thị T là người có quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông H1 xác định đó là tài sản riêng bà T đề nghị không triệu tập ông H1 với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo bản tự khai ngày 31/10/2023. Do đó không xác định ông Trần Ngọc H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu công nhận cho bà Trần Thị T là người có quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp cho Nguyễn Quốc T2 vào ngày 05/7/2013 cập nhật biến động ngày 02/8/2013. Đồng thời bà Trần Thị T liên hệ cơ quan có thẩm quyền xác lập quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
[2.1] Xét phần diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp cho Nguyễn Quốc T2 vào ngày 05/7/2013 cập nhật biến động ngày 02/8/2013. Về nguồn gốc đất trước đây bà Trần Thị T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Trần Ngọc Phương U đối với diện tích 468,1 m² thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P (theo Hợp đồng đặt cọc đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/02/2013 giữa bà T với bà U giao dịch trả tiền chuyển nhượng), sau đó bà T có nhờ bà Trần Nguyễn Phương K đứng tên giùm cho bà T được người làm chứng bà K và bà U thừa nhận các thủ tục chuyển nhượng đứng tên giùm (như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có tài sản đi với đất số công chứng 001425, quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Văn phòng công chứng P1 chứng thực giữa bà U với bà K được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03074 cho bà Trần Nguyễn Phương K vào ngày 03/4/2013). Cũng như việc người làm chứng bà K với bị đơn ông T2 thừa nhận ông T2 đứng tên giùm không có sử dụng đất chỉ để làm các các thủ tục chuyển nhượng đứng tên giùm (như Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 004101, quyền 02TP/CC-SCC/HĐGD do công chứng viên Văn phòng công chứng P1 chứng nhận giữa bà K với ông T2 thì được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 cho Nguyễn Quốc T2 vào ngày 05/7/2013). Do đó Hội đồng xét xử xác định ông T2 là người đứng tên giùm (hộ) cho bà Trần Thị T đối với phần diện tích 168m² thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 cho Nguyễn Quốc T2 vào ngày 05/7/2013.
[2.2] Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/11/2023 đối với phần diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P trên thực tế thì bà T là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên có căn phòng trọ ngang khoảng 10m dài 12 m bà T chưa cho ai thuê, cũng như Công văn số 1852/UBND ngày 06/11/2023 UBND xã P trả lời xác minh thông tin phần đất tranh chấp, cũng như phía bị đơn ông T2 khẳng định thực tế không có quản lý sử dụng không biết đất ở đâu chỉ đứng tên giùm (hộ) cho bà T kể cả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp ngày 05/7/2013 cho Nguyễn Quốc T2 thì bà T cất giữ. Đồng thời ngày 02/8/2013 bà T làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất ở trong đó 137,8 m² (ONT) và còn lại 30,2m² (LUK) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp ngày 05/7/2013 cập nhật biến động đối với diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)). Do đó Hội đồng xét xử xác định ông T2 không phải là người trực tiếp sử dụng đất đối với phần diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp ngày 05/7/2013 cập nhật biến động vào ngày 02/8/2013.
[2.3] Xét tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên giùm (hộ) đối với diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P thì ông Nguyễn Quốc T2 chỉ là người đứng tên giùm (hộ) cho bà Trần Thị T không có trực tiếp công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất mà bà T là người trực tiếp quản lý chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất ở được ông T2 thừa nhận. Do đó ông Nguyễn Quốc T2 không có công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên giùm (hộ) đối với diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P. Từ những mục phân tích nêu trên xác định bà Trần Thị T là người nhận chuyển quyền sử dụng đất từ năm 2013 (từ bà U chuyển giao đất trực tiếp cho bà T) từ đó đến nay bà T người trực tiếp quản lý sử dụng đất là người có quyền sử dụng đất đối với diện tích 168m² (diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh còn ông Nguyễn Quốc T2 là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03303 do UBND huyện N cấp ngày 05/7/2013 cập nhật biến động vào ngày 02/8/2013 là người đứng tên giùm (hộ) cho bà Trần Thị T. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 4, Điều 5, Điều 166, Điều 169 Luật Đất đai 2013 công nhận cho bà Trần Thị T là người sử dụng đất đối với phần diện tích 168m² (trong đó diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời bà Trần Thị T liên hệ cơ quan có thẩm quyền xác lập quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì bà T có nghĩa vụ giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO457887 (Số vào sổ cấp GCN: CH03303) do UBND huyện N cấp cho Nguyễn Quốc T2 vào ngày 05/7/2013 cập nhật biến động ngày 02/8/2013 cho cơ quan có thẩm quyền thu hồi theo quy định khi cấp mới giấy chứng nhận cho bà Trần Thị T.
[3] Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 26; Điểm a Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án.
[3.1] Xét án phí dân sự sơ thẩm bị đơn ông Nguyễn Quốc T2 phải nộp do chấp nhận yêu cầu nguyên đơn do tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án không xem xét giá trị, chỉ xem xét về quyền sử dụng đất của ai thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch, nên mức án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
[3.2] Về chi phí tố tụng thẩm định tại chỗ: Về phí thẩm định tại chỗ nguyên đơn bà Trần Thị T tự nguyện chịu chi phí này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 9 Điều 26; Điều 34, Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 147; Điều 184; Điều 192; Điều 217; Điều 225; Điều 227; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 269; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 4; Điều 5; Điều 166; Điều 169 Luật Đất đai 2013;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26; Điểm a Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 và Pháp Lệnh số 10/2009/UBTVQH12 quy định về án phí, lệ phí tòa án ngày 27-02-2009.
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn công nhận cho bà Trần Thị T là người sử dụng đất đối với phần diện tích 168m² (trong đó diện tích 137,8m² (ONT) và 30,2m² (LUK)) thuộc thửa đất số 595, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời bà Trần Thị T liên hệ cơ quan có thẩm quyền xác lập quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì bà T có nghĩa vụ giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO457887 (Số vào sổ cấp GCN: CH03303) do UBND huyện N cấp cho Nguyễn Quốc T2 vào ngày 05/7/2013 cập nhật biến động ngày 02/8/2013 cho cơ quan có thẩm quyền thu hồi theo quy định khi cấp mới giấy chứng nhận cho bà Trần Thị T.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Quốc T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Án phí dân sự không xử lý do bà Trần Thị T thuộc trường hợp Miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án theo quy định Người cao tuổi theo điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và Điều 2 Luật Người cao tuổi 2009.
Về chi phí thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn bà Trần Thị T tự nguyện chịu chi phí này.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 33/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 33/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 21/02/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về