TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
BẢN ÁN 32/2024/DS-ST NGÀY 05/12/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Long xét xử công khai đối với vụ án d n sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2022/TLST – DSST, ngày 04 tháng 10 năm 2022. về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐST – DS, ngày 18/11/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Phương Anh, sinh năm 1981 (Có mặt) Nơi cư trú: Số 647, Bùi Văn H a, tổ 1, khu phố 7, phường LB, tH2 nh phố Biên H a, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Số 76, tổ 2, khu phố PN, phường PĐ, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước Người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị Phương A1 là bà Vũ Ngọc B1 , sinh năm 1978 (Vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ 3, khu phố PB , phường AL, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
2. Bị đơn:
2.1 Ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1960 (Có mặt) Trú tại: Tổ 01, ấp VR, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn E là ông Nguyễn TL, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp Lồ Ô, xã An T y, tH2 nh phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (Có mặt)
2.2 Bà Đỗ Tường Minh Q, sinh năm 1965 (Có mặt) Trú tại: Tổ 01, ấp VR, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Khánh T1, sinh năm 1980 (Có mặt) Nơi cư trú: Số 647, Bùi Văn H a, tổ 1, khu phố 7, phường LB, tH2 nh phố Biên H a, tỉnh Đồng Nai.
3.12. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977 (Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ 02, khu phố An Bình, phường AL, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước; Chỗ hiện nay: Tổ 3, khu phố PC, phường AL, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
3.3. Ông Nguyễn Giang H, sinh năm 1969 (Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ 03, khu phố HT, phường HC, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước 3.4. Ủy ban nhân dân thị xã Bình Long.
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Bình Long Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Minh H2 , Phó ph ng Tài nguyên và Môi trường thị xã Bình Long (Xin vắng mặt).
3.5. S Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ph m Bá Trí, Giám đốc Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai thị xã Bình Long (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo của nguyên đơn bà Vũ Thị Phương A1 và bà Vũ Ngọc B1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị Phương A1 trình bày: Vào ngày 11/12/2021, bà Vũ Thị Phương A1 có thực hiện hợp đồng đặt cọc tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 928, tờ bản đồ số 31 tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Đại diện bên bán là ông Nguyễn VT, sinh năm 1975, trú tại xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Đến ngày 25/12/2021, hai bên đến Văn ph ng công chứng thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hoàn tất các nghĩa vụ liên quan. Khi nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Lê Thị T3 đứng tên. Bà Vũ Thị Phương A1 đã được S Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 20 tháng 01 năm 2022, thửa đất số 928, tờ bản đồ số 31, diện tích 210,1m2 tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
Do có nhu cầu x y dựng nH2 nên vào ngày 19/5/2022 bà Vũ Thị Phương A1 cùng cán bộ đo đạc Tộc Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai thị xã Bình Long và cán bộ địa chính xã TP tiến H2 nh đo đạc, cắm mốc và các nghĩa vụ khác theo đúng quy định của pháp luật. Khi chuẩn bị tiến H2 nh đo đạc thì ông E và bà Q đã ra ngăn cản, g y rối không cho cán bộ làm việc. Theo kết quả đo đạc ngày 02/6/2022 của Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai thị xã Bình Long xác định gia đình ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q lấn đất của bà Vũ Thị Phương A1 diện tích 103,9m2. Nay bà Vũ Thị Phương A1 yêu cầu T a án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q có nghĩa vụ trả l i cho bà Vũ Thị Phương A1 một phần đất diện tích 103,9m2 Tộc thửa số 928, tờ bản đồ số 31 tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, theo kết quả đo đạc ngày 02/6/2022 của Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai thị xã Bình Long.
Ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của bà Vũ Thị Phương Anh. Ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q thống nhất trình bày: Ông E và bà Q không lấn đất của bà Vũ Thị Phương Anh. Ông E và bà Q trình bày về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Nguồn gốc đất là do vợ chồng ông E và bà Q khai phá vào khoảng năm 1985 -1986, ban đầu là trồng tiêu và trồng điều quản lý sử dụng ổn định cho đến nay, c y tiêu đã chết c n l i c y điều. Ranh giới đất giữa gia đình ông E và bà Q với mảnh đất của ông Võ Tá Sầm (đã chết), bà Nguyễn Thị Chắt (sau nay là của ông Nguyễn Văn Dũng, bà Nguyễn Thị T, ông D tách thửa chuyển nhượng trong đó có mảnh Đất chuyển nhượng cho bà Vũ Thị Phương Anh), ranh giới hai đầu là 2 cột sắt, cột sắt cuối là giáp ranh với gia đình bà Đặng Thị Xu n, giữa hai cột sắt là H2 ng c y sống định ranh giữa gia đình chung bà Q, ông E và gia đình bà Chắt trước đ y. Sau khi khai phá được khoảng mấy năm thì để ổn định cho d n làm ăn NH2 nước đã cấp sổ trắng, giữa gia đình bà Q, ông E và gia đình bà Chắt vẫn sống h a Tận và sử dụng đất ổn định. Qua nhiều lần cấp đổi số thì gia đình bà Q, ông E với gia đình bà Chắt vẫn sử dụng H2 ng rào ranh giới ổn định, sau này bà Chắt chuyển nhượng cho nhiều người khác thì giữa gia đình bà Q, ông E với những chủ đất đó vẫn sử dụng ranh giới trên ổn định, không có tranh chấp. Đến năm 2021 thì vợ chồng ông D nhận chuyển nhượng mảnh đất giáp ranh với gia đình bà Q, ông E, ông Dtách thửa và chuyển nhượng cho bà Vũ Thị Phương A1 thửa đất số 928, tờ bản đồ số 31 giáp ranh với gia đình bà Q, ông E thì mới xảy ra tranh chấp. Ông D đã cưa H2 ng c y sống là ranh giới giữa hai bên, c n 2 cọc sắt hai đầu vẫn c n, gia đình bà Q, ông E đã báo chính quyền địa phương lập biên bản làm việc. Nay bà Vũ Thị Phương A1 kh i kiện yêu cầu vợ chồng bà Q, ông E có nghĩa vụ trả l i cho bà A phần đất có diện tích 103,9m2 Tộc thửa số 928, tờ bản đồ số 31 tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước thì bà Q, ông E không đồng ý vì bà Q, ông E không lấn đất của bà A. Đề nghị T a án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 trình bày: Vào ngày 09/02/2021 bà T có nhận chuyển nhượng của bà Phan Thị Yến một mảnh đất có diện tích 8859m2, trong đó có 300m2 đất , Tộc thửa đất số 294, tờ bản đồ số 31, tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, khi nhận chuyển nhượng trên đất có Diều. Sau khi nhận sang nhượng đã tiến H2 nh xem xét c y trồng trên đất là vườn điều đã già cỗi s u đục th n nhiều nên T dọn chuyển đổi c y trồng và làm thủ tục huyển đổi mục đích sử dụng và tách thửa, tháng 7 năm 2021 bà T có sang nhượng cho nột số người trong đó có ông Nguyễn Ngọc Hanh và bà Nguyễn Thị Nhung, thực đện tách thửa cho ông Hanh, bà Nhung mảnh đất có diện tích 210,1m2, trong đó có 50 m2 đất , thửa đất số 928, tờ bản đồ số 31, tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, đã thực hiện thủ tục sang nhượng, giao nhận đất ã đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Ngọc H nh và bà Nguyễn Thị Nhung, khi nhận chuyển nhượng đã giao nhận đất, có đo đạc, định vị, sau này ông H nh và bà Nhung, sang nhượng cho những ai thì bà T không biết. Mảnh đất hiện nay là bà Vũ Thị Phương A1 đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay bà Vũ Thị Phương A1 tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q là chủ thửa đất liền kề. Việc cấp sổ, tách thửa là do cơ quan có thẩm quyền thực hiện, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977 trình bày: Vào khoảng thời gian năm 2021 bà T có mua của vợ chồng bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 và chồng bà T là ông D sau đó sang l i cho ai cũng không nhớ vì chỉ mua bán hình thức ký giấy tờ tại Văn ph ng công chứng rồi giao tiền cho nhau, khi mua đất có Điều, biết khu vực đất và không biết vị trí cụ thể, sau khi nhận sang nhượng tôi cũng không canh tác, sau đó bà T sang nhượng cho người khác, bà T cũng không nhớ người nhận sang nhượng, vì Dũng, T giới thiệu người nhận sang nhượng bà T chỉ ký giấy rồi nhận tiền, tại thời điểm đó sang nhượng bao nhiêu cũng không nhớ. Hiện nay sang nhượng cho ai, tranh chấp như thế nào bà T cũng không biết.
Ý kiến của ông Nguyễn Giang H trình bày: Vào khoảng thời gian năm 2021 ông Nguyễn Giang H với bà Lê Thị T3 có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị T một mảnh đất có diện tích 210,1m2 thửa đất số 928, tờ bản đồ số 31, tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, đã thực hiện thủ tục sang nhượng, nhận đất, và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Lê Thị T3 và ông Nguyễn Giang H, khi nhận chuyển nhượng ông H có đến xem và nhận đất, lô đất thẳng, không pH hiện tr ng chéo, lô đất nằm bên ngoài vườn Điều, Tộc khu vực đất trống hết, đã san phẳng đất sỏi, có cọc sắt bốn góc, ông H chỉ đến nhìn đất chứ không có đo đạc, không định vị. Đến tháng 12/2021 ông H ký sang nhượng l i mảnh đất trên cho bà Vũ Thị Phương Anh, đã nhận đủ tiền, đã thực hiện chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Nan ranh giới mảnh đất đo đạc, định vị như thế nào thì ông H không biết.
Đại diện Ủy ban nhân dân thị xã Bình Long ông Tô Minh H2 trình bày:
Đối với nội dung yêu cầu theo Công văn số 06/2024/CV-TA ngày 10 tháng 5 năm 2024 của T a án nh n d n thị xã Bình Long thì thẩm quyền của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Phước thực hiện.
Ý kiến của S Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước trình bày: Về trình tự, thủ tục tách thửa cấp giấy chứng nhận đối với các thửa đất số 922, 923, 924, 925, 926, 927, 928, tờ bản đồ số 31: Việc cấp giấy chứng nhận cho bà Nguyễn Thị T Tộc thửa 922, tờ bản đồ 31, diện tích 7355,5m² đất trồng c y l u năm; bà Nguyễn H Đường Tộc thửa 923, tờ bản đồ 31, diện tích 291m² (50 m² ONT); bà Cao Thị Lộc Ninh Tộc thửa 924, tờ bản đồ 31, diện tích 275,3m² (50 m² ONT); bà Nguyễn Thị T Tộc thửa 925, tờ bản đồ 31, diện tích 259,2m² (50 m² ONT); bà Lê Thị T An Tộc thửa 926, tờ bản đồ 31, diện tích 242,3m² (50 m² ONT); bà Đặng Thị Ngà Tộc thửa 927, tờ bản đồ 31, diện tích 225,6m² (50 m² ONT); ông Nguyễn Ngọc Hanh và bà Nguyễn Thị Nhung Tộc thửa 928, tờ bản đồ 31, diện tích 210,1m² (50 m² ONT) được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại thủ tục số 32, mã số hồ sơ 2.000889 000.00.00.H10 Danh mục thủ tục H2 nh chính Tộc thẩm quyền giải quyết của ngành Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước ban H2 nh kèm theo Quyết định số 1632/QĐ - UB ngày 17/7/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
Về thủ tục tách thửa đối với các thửa đất số 922, 923, 924, 925, 926, 927, 928, tờ bản đồ số 31 và ký giáp ranh, đo đạc ranh mốc, xác minh thực tr ng sử dụng đất, có định vị khi tách thửa thì S Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước có ý kiến như sau: Do chủ sử dụng đất không yêu cầu kiểm tra hiện tr ng sử dụng đất so với giấy chứng nhận đã được cấp cũng như bản đồ địa chính nên Chi nhánh căn cứ vào bản đồ địa chính, giấy chứng nhận đã được cấp và sử dụng thước d y để xác định kích thước phần diện tích cần tách ra theo yêu cầu của chủ sử dụng đất mà không kiểm tra, xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo bản đồ địa chính. Mặt khác, trường hợp tách thửa nêu trên không có sự thay đổi ranh giới so với giấy chứng nhận đã cấp nên Chi nhánh không thực hiện lập bản mô tả, ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất liền kề theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trường hợp có cơ s cho rằng việc tách thửa đất số 928, tờ bản đồ số 31 theo bản đồ trích đo của Chi nhánh ngày 02/6/2022 là có sai sót so với thực tr ng sử dụng đất diện tích 103,9 m² cần pH T hồi giấy chứng nhận để điều chỉnh thì cơ quan nào thực hiện: Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 928, tờ bản đồ số 31, có diện tích 210,1m² (50m² ONT) đã thực hiện chuyển quyền (từ ông Nguyễn Ngọc Hanh sang bà Lê Thị T3, từ bà T3 chuyển nhượng cho bà Vũ Thị Phương Anh) nên không thực hiện T hồi được giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi H2 nh một số điều của Luật Đất đai. Việc T hồi giấy chứng nhận đã cấp nêu trên chỉ được thực hiện khi có Bản án hoặc Quyết định của T a án nh n d n đã được thi H2 nh theo quy định tại khoản 6 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Sau khi Bản án hoặc Quyết định của T a án nh n d n có hiệu lực, S Tài nguyên và Môi trường sẽ chỉ đ o các đơn vị, ph ng, ban chuyên môn xem xét, thực hiện theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên phát biểu tại phiên t a: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tu n thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng d n sự trong quá trình giải quyết vụ án, người tham gia tố tụng chấp H2 nh đúng quy định. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà các bên cung cấp và T a án T thập được và kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên t a và quá trình các bên sử dụng đất, bà Vũ Thị Phương A1 kh i kiện yêu cầu T a án buộc ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q có nghĩa vụ trả l i cho bà Vũ Thị Phương A1 phần đất có diện tích đất 103,9m2 Tộc thửa số 928, tờ bản đồ số 31 tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước là chưa có đủ cơ s đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Phương Anh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn kh i kiện của bà Vũ Thị Phương A1 yêu cầu T a án buộc ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q trả l i cho bà Vũ Thị Phương A1 diện tích đất 103,9m2 Tộc thửa số 928, tờ bản đồ số 31 tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại các Điều 164 và Điều 166 của Bộ luật d n sự, Điều 203 Luật đất đai. Diện tích đất các bên tranh chấp 103,9m2 Tộc thửa số 928, tờ bản đồ số 31 tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước; Căn cứ quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng d n sự vụ án Tộc thẩm quyền giải quyết của T a án nh n d n thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
[2] Về nội dung vụ án: Theo đơn kh i kiện và lời trình bày tại phiên t a của nguyên đơn bà Vũ Thị Phương A1 yêu cầu T a án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q có nghĩa vụ trả l i cho bà Vũ Thị Phương A1 một phần đất diện tích 103,9m2 Tộc thửa số 928, tờ bản đồ số 31 tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, theo kết quả đo đạc ngày 02/6/2022 của Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai thị xã Bình Long. Ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q trả không đồng ý với yêu cầu của bà Vũ Thị Phương Anh.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Ngày 11/12/2021 bà Vũ Thị Phương A1 có thực hiện hợp đồng đặt cọc tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng một mảnh đất có diện tích 210,1m2 Tộc thửa đất số 928, tờ bản đồ số 31, tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Đại diện bên sang nhượng là một người tên ông Nguyễn VT, sinh năm 1975 (không rõ tổ ấp), trú tại xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Đến ngày 25/12/2021, hai bên ra Văn ph ng công chứng thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hoàn tất các nghĩa vụ liên quan. Khi nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Lê Thị T3 đứng tên (trang tư). Bà A đã trả đủ tiền, các bên đã thực hiện các thủ tục sang nhượng theo quy định của pháp luật và đã được S Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 20/01/2022 đứng tên bà Vũ Thị Phương Anh. Bà A cũng xác định bà T3 không có mặt khi sang nhượng, bà T3 không chỉ đất, không có mặt khi bàn giao ranh mốc mà thực hiện thông qua một người tên Thắng. Khi bà A tiến H2 nh đo đạc, cắm mốc kiểm tra ranh mốc giới thì bị ông E và bà Q đã ra ngăn cản, g y rối không cho cán bộ đo đạc, không cho bà A thực hiện quyền sử dụng đất. Nay bà Vũ Thị Phương A1 yêu cầu T a án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q có nghĩa vụ trả l i cho bà Vũ Thị Phương A1 phần đất có diện tích đất 103,9m2 Tộc thửa số 928, tờ bản đồ số 31 tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, theo sơ đồ đo đạc ngày 02/6/2022 của Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai thị xã Bình Long. Theo ý kiến của S Tài nguyên và môi trường thì thủ tục tách thửa đối với các thửa đất số 922, 923, 924, 925, 926, 927, 928, tờ bản đồ số 31, tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Do chủ sử dụng đất không yêu cầu kiểm tra hiện tr ng sử dụng đất so với giấy chứng nhận đã được cấp cũng như bản đồ địa chính nên Chi nhánh căn cứ vào bản đồ địa chính, giấy chứng nhận đã được cấp và sử dụng thước dây để xác định kích thước phần diện tích cần tách ra theo yêu cầu của chủ sử dụng đất mà không kiểm tra, xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo bản đồ địa chính. Trong khi tách thửa không sử dụng phương tiện máy tiến H2 nh đo đạc, không định vị, không xác minh thực tr ng sử dụng đất, không ký giáp ranh giữa các thửa đất đã dẫn đến có sai sót và xảy ra tranh chấp khi san lấp mặt bằng, giữa ông D, bà T với ông E đã được tiến H2 nh h a giải tại Ủy ban nhân dân xã TP, thị xã Bình Long vào các ngày 08/4/2021, ngày 12/5/2021 và ngày 27/5/2021 (Búi lục 55, 56,52) các bên không tiến H2 nh giải quyết tranh chấp dứt điểm vụ việc mà tiếp tục tiến H2 nh tách thửa và sang nhượng khi đất vẫn trong tình tr ng tranh chấp như vậy là không đảm bảo tính hợp pháp, tính khách quan, ngay tình. Việc các bên tách thửa không ký giáp ranh dẫn đến có sai sót giữa diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thực tr ng sử dụng đất, khi tiến H2 nh các thủ tục sang nhượng cũng không tiến H2 nh định vị, không bàn giao ranh mốc đất để xác định tính công khai, ngay tình khi sang nhượng và nhận sang nhượng dẫn đến tranh chấp. Trong khi gia đình ông E, bà Q canh tác d ng đất khai phá, quản lý sử dụng đất từ những năm 1985, 1986 và sử dụng ổn định nhưng khi cơ quan có thẩm quyền l i cấp giấy chứng nhận là một đường thẳng, không đúng với thực tr ng sử dụng đất của các hộ khai phá và canh tác theo kiểu truyền thống. Theo bà Q, ông E và người đại diện theo ủy quyền của ông E thì gia đình ông E, bà Q sử dụng thửa đất từ năm 1985 tới nay, sử dụng ổn định về ranh, mốc, quá trình sử dụng đã được cấp sổ trắng, nhiều lần đổi sổ, tách thửa nhưng không thực hiện đo đạc cắm mốc trên thực địa của các thửa đất, không thực hiện ký giáp ranh, các bên vẫn sử dụng ổn định nên theo quy định tại Điều 175 và Điều 176 của Bộ luật d n sự, thì H2 ng rào, ranh mốc thực địa sử dụng đất được xác định là ranh giới giữa hai thửa đất của ông E, bà Q với thửa đất liền kề (đất của bà Chắt chủ trước) là phù hợp. Ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà A và đại diện của bà A không đưa ra được căn cứ gì để chứng minh việc ông E và bà Q lấn chiếm đất của mình, bà A khi nhận sang nhượng đất không tiến H2 nh đo đạc, định vị kiểm tra thửa đất mà sau khi nhận chuyển nhượng mới tiến H2 nh đo đạc kiểm tra và cho rằng ông E và bà Q lấn chiếm đất của bà A là không có đủ căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[4]. Chi phí tố tụng: Căn cứ vào các Điều 157 và 165 của Bộ luật tố tụng d n sự:
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), do yêu cầu kh i kiện không được chấp nhận nên bà Vũ Thị Phương A1 chịu, được trừ vào số tiền t m ứng đã nộp, theo biên nhận ngày 23/8/2023 của T a án nh n d n thị xã Bình Long.
[5] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng d n sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về T, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí t a án; Do yêu cầu không được chấp nhận nên bà Vũ Thị Phương A1 chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tiền án phí d n sư sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 203 của Luật đất đai, các Điều 164, Điều 166, Điều 169, Điều 175 và Điều 176 của Bộ luật dân sự, Tuyên xử:
1. Không Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Phương A1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn E và bà Đỗ Tường Minh Q có nghĩa vụ trả l i cho bà Vũ Thị Phương A1 một phần đất có diện tích 103,9m2 Tộc thửa số 928, tờ bản đồ số 31, tọa l c tại ấp Phú Long, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, theo kết quả đo đạc ngày 02/6/2022 của Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai thị xã Bình Long.
2. Chi phí tố tụng: Căn cứ vào các Điều 157 và 165 của Bộ luật tố tụng dân sự; Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), bà Vũ Thị Phương A1 chịu, được trừ vào số tiền t m ứng đã nộp, theo biên nhận ngày 23/8/2023 của T a án nh n d n thị xã Bình Long.
3. Về án phí: Căn cứ theo theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng d n sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về T, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Vũ Thị Phương A1 chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí d n sự sơ thẩm, được trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp theo biên lai T số 0002763 ngày 27/9/2022 của Chi Cục Thi H2 nh án d n sự thị xã Bình Long.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ này bản án được tống đ t hợp lệ.
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 32/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 32/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Bình Long - Bình Phước |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 05/12/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về