TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 301/2024/DS-PT NGÀY 07/05/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 241/2023/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 79/2022/DS-ST ngày 04/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 435/2023/QĐ - PT ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949 (vắng mặt tại phiên tòa).
2. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1945 (vắng mặt tại phiên tòa).
HKTT: P32 khu A L T, phường L Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Số 2e ngõ xxx đường L, phường L Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Bùi Văn Đ.
Địa chỉ: Tầng x số x phố Quần N, phường Liễu G, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (ông Đ vắng mặt tại phiên tòa).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông Vũ Hồng T, Luật sư Văn phòng Luật sư Thanh V thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Tầng x số x phố Quần N, phường Liễu G, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (ông Tcó mặt tại phiên tòa).
Bị đơn:
1. Bà Lê Thị C, sinh năm 1959 (vắng mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: Thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
2. Anh Văn Trọng S, sinh năm 1982 (có mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: Số xx ngách xx ngõ Gốc Đ, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980. HKTT: x/xx Quang T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Địa chỉ liên hệ: Công ty Luật TNHH Tài N, Tầng x, tháp A Keangnam, phố Dương Đình N, Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội (ông H có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức.
Địa chỉ: Số 2 phố Đại Đ, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn Tr, Phó Chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức (vắng mặt tại phiên tòa).
2. Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hữu N - Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội - Chi nhánh huyện Mỹ Đức (vắng mặt tại phiên tòa).
3. Chị Nguyễn Thị Thanh H (vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ: Số xx ngách xx ngõ Gốc Đ, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
4. Anh Văn Trọng K (vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ số xx ngách xx ngõ xxx, đường Khương Đ, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Văn Trọng K ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh H và bà Đặng Thị N, sinh năm 1997; HKTT: xã Đoan B, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ liên hệ: Công ty Luật TNHH Tài N, Tầng x, tháp A Keangnam, phố Dương Đình N, Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội (ông H có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Năm 2004 vợ chồng chúng tôi (Nguyễn Thị H và Nguyễn Thanh T) có nhận chuyển nhượng của gia đình ông Văn Trọng G (là bố đẻ anh Văn Trọng S - bị đơn trong vụ án) diện tích 300m2 đất tại thửa số 154, tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội với giá 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Việc mua bán giữa hai bên công khai, ngay tình và được lập thành văn bản, có chữ ký của đại diện Bên bán là ông Văn Trọng G và Bên mua là ông Nguyễn Thanh T.
Do ông Văn Trọng G gọi ông Nguyễn Thanh T bằng Cậu, nên sau khi nhận chuyển nhượng đất, vợ chồng bà H, ông T vẫn tin tưởng giao thửa đất đã nhận chuyển nhượng cho ông G quản lý, trông nom giúp.
Đến năm 2007 ông Văn Trọng G cùng UBND xã Mỹ T đã tiến hành bàn giao mốc giới cho vợ chồng bà H, ông T để tiến hành xây nhà kiên cố và tạo dựng nhiều tài sản trên thửa đất 154 mà bà H, ông T đã mua của gia đình ông G. Cũng trong năm 2007 (ngày 08/02/2007) hai bên tiếp tục lập 01 văn bản ghi nhận việc chuyển nhượng thửa đất 154 nêu trên giữa gia đình ông Văn Trọng G với vợ chồng bà H, ông T có xác nhận của UBND xã Mỹ T.
Sau khi ông Văn Trọng G chết (năm 2012) bà H, ông T yêu cầu vợ con ông G tiếp tục thực hiện việc sang tên trước bạ thửa đất 154 trên cho bà H, ông T thì con trai ông G là anh Văn Trọng S đã tiến hành các thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với thửa đất trên. Ngày 28/12/2012, UBND huyện Mỹ Đức cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 4794901 cho anh Văn Trọng S 300m2 đất thuộc thửa đất 154 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Ngày 18/04/2013, tại Văn phòng công chứng Hòa N, vợ chồng anh Văn Trọng S, chị Nguyễn Thị Thanh H đã tự nguyện ký hợp đồng có số công chứng số 90/2013/HĐCN để chuyển nhượng 300 m2 đất thuộc thửa đất 154 trên cho vợ chồng chúng tôi (do bà Nguyễn Thị H làm đại diện).
Ngày 29/3/2013, UBND huyện Mỹ Đức đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số BN 505803 đối với 299,8 m2 đất thửa đất số 110, tờ bản đổ số 18 Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T mang tên chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị H.
Ngày 06/3/2019, UBND huyện Mỹ Đức ban hành Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 505803 do diện tích đất được cấp không đúng vị trí thửa đất theo Kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/01/2019 của UBND huyện Mỹ Đức.
Sau khi thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 505803, Sở Tài Nguyên và Môi trường (TNMT) thành phố Hà Nội đã cấp (thay thế) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 793437 cấp ngày 28/5/2019 mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị H. Diện tích đất được cấp là 300 m2 đất thuộc thửa đất 154 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Dựa trên vị trí, ranh giới và hình thể thửa đất được xác định theo Giấy chứng nhận số CR 793437 có tứ cận: phía bắc giáp rãnh tiêu thoát nước có chiều dài 26,30m; phía nam giáp hành lang giếng công cộng có chiều dài 26,30m; phía tây giáp đất UBND xã Mỹ T có chiều dài 11,40m và phía đông giáp đường làng có chiều dài dài 11,40m.
Ngày 24/7/2019 thực hiện Kết luận thanh tra số 65/KH-UBND ngày 10/01/2019 của UBND huyện Mỹ Đức - UBND xã Mỹ T cùng các tổ chức chính trị xã hội tại địa phương đã xuống thực địa bàn giao mốc giới quyền sử dụng 300 m2 đất tại thửa đất số 154 nêu trên cho gia đình bà H, ông T.
Khoảng giữa năm 2019, bà Lê Thị C cùng con trai là anh Văn Trọng S (là vợ, con của ông Văn Trọng G - chủ đất cũ đã chết) đã tự ý lắp dựng hàng rào bằng thép B40 ngăn đôi thửa đất 154 (thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chúng tôi) đồng thời bà Lê Thị C chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật diện tích khoảng 145 m2 đất có mặt tiền giáp đường làng dài 11,40m; sâu 12,70m.
Trước việc làm trái pháp luật của mẹ con bà Lê Thị C, bà H, ông T đã có đơn đề nghị UBND xã Mỹ T mở cuộc họp để hòa giải, giải quyết với mục đích yêu cầu gia đình bà Lê Thị C trả lại phần đất lấn chiếm trên cho gia đình bà H, ông T.
Ngày 25/07/2019 và ngày 19/09/2019, UBND xã Mỹ T đã mở cuộc họp hòa giải về tranh chấp đất đai giữa gia đình bà H, ông T với gia đình bà Lê Thị C, anh Văn Trọng S nhưng không có kết quả do không có sự hợp tác của anh Văn Trọng S. UBND xã Mỹ T đã lập Biên bản làm việc để ghi nhận lại sự việc là căn cứ chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Trước đó ngày 31/3/2016 và ngày 01/4/2016, UBND xã Mỹ T đã mở cuộc họp hòa giải về tranh chấp đất đai giữa gia đình ông T, bà H với bà Lê Thị C và con trai bà C là anh Văn Trọng S nhưng không có kết quả, do không có sự hợp tác từ phía gia đình bà Lê Thị C.
Nay, nguyên đơn - bà H, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị C, anh Văn Trọng S trả lại quyền sử dụng 145m2 đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên một phần hai thửa đất số 154, tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội cho bà H, ông T.
Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng thời cũng là đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Văn Trọng K, bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đồng thời có Đơn yêu cầu phản tố như sau:
Thứ nhất: Hủy bỏ Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 6/3/2019 của UBND huyện Mỹ Đức về việc thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất BN 505803 mang tên bà Nguyễn Thị H, xã Mỹ T do cấp không đúng vị trí thửa đất theo kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/1/2019 .
Thứ hai: Hủy bỏ Kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/1/2019 do kết luận không có cơ sở pháp lý, vi phạm nghiêm trọng pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình.
Thứ ba: Hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số 90/2013/HĐCN được văn phòng Công chứng Hòa N xác nhận ngày 18/4/2013 giữa gia đình bị đơn là ông Văn Trọng S cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh H với bà Nguyễn Thị H vô hiệu do giả tạo.
Thứ tư: Buộc gia đình ông T, bà H trả lại toàn bộ diện tích bao gồm: 300m2 đất tại thửa đất số 154 tờ bản đồ số 05, khôi phục Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BN 479401 cấp ngày 28 tháng 12 năm 2012 số vào sổ cấp GCN: 28578 A. Buộc gia đình ông T, bà H trả lại cho bị đơn toàn bộ diện tích mà ông Văn Trọng G khai hoang lấn chiếm và bị quyết định kỷ luật Đảng số 10/QĐ-ĐU ngày 29 tháng 10 năm 2007 của Đảng bộ xã Mỹ T.
Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức; Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội giữ nguyên các văn bản đã ban hành và đề nghị không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2022/DS-ST ngày 04/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
Buộc anh Văn Trọng S và bà Lê Thị C phải trả lại cho ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị H phần đất có diện tích 146,9m2 (theo kết quả thẩm định) và toàn bộ tài sản gắn liền tại thửa đất số 154 tờ bản đồ số 05 tại xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 793437 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 28/5/2019 (bổ sung 09/7/2019) vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS-MĐ 07576 mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị H do anh S và bà C chiếm dụng, quản lý trái phép.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn gồm các nội dung:
Thứ nhất: Hủy bỏ Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 6/3/2019 của UBND huyện Mỹ Đức về việc thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất BN 505803 mang tên bà Nguyễn Thị H, xã Mỹ T do cấp không đúng vị trí thửa đất theo kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/1/2019 .
Thứ hai: Hủy bỏ kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/1/2019 do kết luận không có cơ sở pháp lý, vi phạm nghiêm trọng pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình.
Thứ ba: Hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số 90/2013/HĐCN được văn phòng Công chứng Hòa N xác nhận ngày 18/4/2013 giữa gia đình tôi là Văn Trọng S cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh H với bà Nguyễn Thị H vô hiệu do giả tạo.
Thứ tư: Buộc gia đình ông T, bà H trả lại cho bị đơn toàn bộ diện tích bao gồm: 300 m2 đất tại thửa đất số 154 tờ bản đồ số 05, khôi phục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BN 479401 cấp ngày 28 tháng 12 năm 2012 số vào sổ cấp GCN: 28578 A. Buộc gia đình ông T, bà H trả lại cho bị đơn toàn bộ diện tích mà bố của bị đơn khai hoang lấn chiếm và bị trả giá bằng quyết định kỷ luật Đảng số 10/QĐ-ĐU ngày 29 tháng 10 năm 2007 của Đảng bộ xã Mỹ T Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các của các bên đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 17/11/2022, bị đơn anh Văn Trọng S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Văn Trọng K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do, Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá, xem xét một cách đầy đủ, toàn diện khách quan tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, không xác minh, điều tra làm rõ nguồn gốc thửa đất 110 và đã kết luận sai sự thật khách quan dẫn đến phán quyết của Tòa án ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; tuyên Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng công chứng số 90/2013/HĐCN ngày 18/4/2013 vô hiệu do giả tạo, đồng thời buộc gia đình ông T bà H trả lại gia đình bị đơn toàn bộ diện tích bao gồm quyền sử dụng thửa đất 154 tờ bản đồ số 5 diện tích 300m2, quyền sử dụng thửa đất số 110 diện tích 150m2 ; khôi phục Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 479401 cấp ngày 28/12/2012 số vào sổ số 28578 A đứng tên ông Văn Trọng G; Không công nhận giao dịch giữa ông G với ông T, bà H do thỏa thuận này trái thẩm quyền, không phù hợp quy định của pháp luật.
Ngày 18/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức có Quyết định kháng nghị số 04/QĐKNPT/VKS-MĐ, kháng nghị đối với bản án sơ thẩm với các lý do:
- Bị đơn là anh Văn Trọng S có yêu cầu phản tố yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 90/2013/HĐCN giữa Bên chuyển nhượng là anh Văn Trọng S, chị Nguyễn Thị Thanh H với Bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị H là vô hiệu do giả tạo, Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Hòa N ngày 18/4/2013, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Văn phòng công chứng Hòa N vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xác minh làm rõ trình tự thủ tục công chứng nội dung chuyển nhượng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
- Bà Lê Thị C đã tặng cho anh Văn Trọng S quyền sử dụng thửa đất số 154, tờ bản đồ số 5 nêu trên, anh S đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mình, sau đó chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H. Như vậy phần diện tích 145m2 đất hiện cho anh S là người quản lý. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà C là bị đơn và buộc bà C liên đới cùng anh S trả lại quyền sử dụng 145m2 đất tranh chấp và có quan điểm áp dụng án phí đối với bà C là không có căn cứ và sai tư cách tố tụng.
Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử hủy bản án dân sự sơ thẩm số 79/2022/DSST ngày 04/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn là anh Văn Trọng S và người đại diện theo ủy quyền của anh S, anh Khang trình bày quan điểm:
- Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh S và anh Khang; xác định giao dịch chuyển nhượng giữa ông G với ông T, bà H là có thực tế, số tiền ông T thanh toán cho ông G là 75.000.000 đồng không phải là 100.000.000đồng. Phần diện tích đất chuyển nhượng là 300m2 nhưng có 150m2 đất thổ cư thuộc thửa đất 154 và 150m2 đất khai hoang thuộc thửa đất 110 và ông T, bà H đã xây nhà trên hai thửa đất này. Phần diện tích đất chuyển nhượng nằm trên cả hai thửa đất, ông T, bà H cũng có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, phù hợp với lời khai của một số người làm chứng khác.
Giao dịch chuyển nhượng giữa vợ chồng anh S, chị Huyền với bà H là giả tạo, che giấu cho giao dịch chuyển nhượng trước đó của ông G với vợ chồng ông T, bà H vì sau khi ký hợp đồng với anh S, chị Huyền thì hai bên không thực hiện bất cứ quyền, nghĩa vụ nào. Không có việc ông T, bà H thanh toán số tiền 159.000.000 đồng theo Hợp đồng cho anh S, chị Huyền; không có việc hai bên tiến hành bàn giao đất thực tế.
Bị đơn giữ nguyên quan điểm như trong đơn kháng cáo. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện, xét xử đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 18/4/2013 là vô hiệu do giả tạo. Công nhận hợp đồng chính giữa ông G với bà H, ông T đã hoàn thành từ năm 2007, các bên đã bàn giao và chuyển nhượng theo đúng diện tích của hợp đồng chính mà ông G và gia đình bà H, ông T đã giao kết với nhau.
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu:
- Khẳng định việc mua bán, chuyển nhưởng quyền sử dụng đất là có thực tế; đối tượng các bên thỏa thuận chuyển nhượng trong tất cả các văn bản đều thể hiện là thửa đất số 154, diện tích chuyển nhượng là 300m2. Tại phiên tòa bị đơn cho rằng các bên có thỏa thuận phần diện tích đất chuyển nhượng là thửa 110, tuy nhiên không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện các bên thỏa thuận chuyển nhượng một phần diện tích đất là trên thửa 110.
- Tại thời điểm chuyển nhượng tất cả các thành viên trong gia đình ông G đều biết việc chuyển nhượng nên không thể xác định giao dịch giữa vợ chồng anh S với vợ chồng ông T là giả tạo.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung:
Sau khi phân tích, đánh giá tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm rút một phần kháng nghị liên quan đến xác định tư cách tố tụng của bà Lê Thị C. Đối với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức về việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Văn phòng công chứng Hòa N nay là Văn phòng công chứng Nguyễn Như Dưỡng vào tham gia tố tụng là có căn cứ, tuy nhiên tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã bổ sung nội dung này nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.
Đối với kháng cáo của bị đơn - anh Văn Trọng S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - anh Văn Trọng K là không có cơ sở nên không có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2022/DS-ST ngày 04/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng: Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức có văn bản kháng nghị; bị đơn là anh Văn Trọng S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Văn Trọng K có đơn kháng cáo đều trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Anh S, anh Khang đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên xác định kháng cáo hợp lệ về hình thức.
Đối với sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có đơn kháng cáo. Toà án đã tống đạt và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
2. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Văn Trọng K.
2.1 Xem xét tính hợp pháp đối với các giao dịch chuyển nhượng Căn cứ vào trình bày của các đương sự; tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập được thể hiện, năm 2004, vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Thanh T nhận chuyển nhượng của ông Văn Trọng G (là chồng của bà Lê Thị C, là bố đẻ của anh Văn Trọng S) diện tích 300m2 đất tại thửa số 154, tờ bản đồ số 05, tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội với giá 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Việc mua bán giữa hai bên công khai, ngay tình và được lập thành văn bản có chữ ký của ông Văn Trọng G và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Thanh T. Hai bên xác nhận đã thanh toán và nhận đầy đủ tiền chuyển nhượng.
Năm 2007, ông Văn Trọng G cùng UBND xã Mỹ T đã tiến hành bàn giao mốc giới để vợ chồng ông T, bà H xây nhà kiên cố và tạo dựng nhiều tài sản trên thửa đất số 154 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã mua của gia đình ông G. Cũng trong năm 2007 (ngày 08/02/2007), hai bên tiếp tục lập 01 văn bản ghi nhận việc chuyển nhượng thửa đất số 154 nêu trên giữa ông Văn Trọng G với vợ chồng ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị H, có xác nhận của UBND xã Mỹ T.
Sau khi ông Văn Trọng G chết (năm 2012), ông T và bà H yêu cầu vợ, con ông G tiếp tục thực hiện việc sang tên trước bạ thửa đất số 154 nêu trên, nhưng con trai ông G là anh Văn Trọng S đã tiến hành các thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với thửa đất trên. Ngày 28/12/2012 UBND huyện Mỹ Đức cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 4794901 cho anh Văn Trọng S diện tích 300m2 đất thuộc thửa đất 154 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Ngày 18/04/2013, tại Văn phòng công chứng Hòa N, vợ chồng anh Văn Trọng S, chị Nguyễn Thị Thanh H đã tự nguyện ký Hợp đồng công chứng số 90/2013/HĐCN để chuyển nhượng 300m2 đất thuộc thửa đất số 154 trên cho vợ chồng ông T và bà H (do bà Nguyễn Thị H làm đại diện).
Nguyên đơn cho rằng thửa đất trên nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng hợp pháp nên có quyền quản lý, sử dụng.
Bị đơn cho rằng, ông Văn Trọng G không có quyền bán đất vì thửa đất cấp cho hộ gia đình; Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số 90/2013/HĐCN được Văn phòng Công chứng Hòa N xác nhận ngày 18/4/2013 giữa gia đình anh Văn Trọng S cùng vợ là chị Nguyễn Thị Thanh H với bà Nguyễn Thị H vô hiệu do giả tạo; gia đình bị đơn bán 300m2 đất, trong đó có 150 m2 đất khai hoang (một phần thửa 110) và chỉ bán 150 m2 đất thuộc thửa đất 154.
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện, các bên đều thỏa thuận mua bán chuyển nhượng đối với thửa đất số 154 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, diện tích chuyển nhượng là 300m2 đất. Việc mua bán, chuyển nhượng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, các bên đã thực hiện việc bàn giao mốc giới trên thực địa, bên chuyển nhượng xác nhận đã nhận tiền đầy đủ. Tại thời điểm anh S, chị Huyền ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thửa đất 154 nêu trên đã được sang tên cho anh S, chị Huyền nên anh S, chị Huyền có quyền của chủ sử dụng đất ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H. Hợp đồng chuyển nhượng được lập thành văn bản và công chứng hợp pháp. Việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng là nhằm thực hiện đối với các thủ tục pháp lý do thỏa thuận của các bên từ trước đó (đối tượng chuyển nhượng vẫn là thửa đất 154) nên giao dịch này là hợp pháp và không bị vô hiệu, các thành viên trong gia đình anh S đều biết, nên giao dịch này không phải là giao dịch giả tạo, các bên không có mục đích che giấu cho một giao dịch dân sự khác.
Do vậy yêu cầu của bị đơn đề nghị tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 90/2013/HĐCN ngày 18/4/2013 vô hiệu do giả tạo và buộc ông T, bà H phải trả lại quyền sử dụng thửa đất 154 tờ bản đồ số 5 có diện tích 300m2 đất là không có cơ sở nên không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.
2.2 Đối với yêu cầu của bị đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đứng tên anh Văn Trọng S do cho rằng cấp không đúng đối tượng Nội dung này đã được Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, tại thời điểm anh S được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình không ai có ý kiến hay khiếu nại gì. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận anh S mới thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H, như đã nhận định nêu trên thì việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh S, chị Huyền với bà H là tự nguyện, ngay tình nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh S. Trường hợp có căn cứ hợp pháp cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh S là không đúng và ảnh hưởng quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình thì các thành viên trong gia đình anh S có quyền khởi kiện đối với anh S để đảm bảo quyền lợi của mình bằng vụ kiện dân sự khác theo quy định của pháp luật.
2.3. Đối với nội dung bị đơn yêu cầu hủy các quyết định do UBND huyện Mỹ Đức ban hành và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị H.
Xét thấy, ngày 29/3/2013, UBND huyện Mỹ Đức đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 505803 đối với 299,8m2 đất thửa đất số 110, tờ bản đổ số 18 Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T mang tên chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị H.
Ngày 06/3/2019, UBND huyện Mỹ Đức ban hành Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 505803 do diện tích đất được cấp không đúng vị trí thửa đất theo Kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/01/2019 của UBND huyện Mỹ Đức.
Sau khi thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 505803, Sở Tài Nguyên và Môi trường (TNMT) thành phố Hà Nội đã cấp (thay thế) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 793437 cấp ngày 28/5/2019 mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị H. Diện tích đất được cấp là 300 m2 thuộc thửa đất 154 tờ bản đồ số 05 địa chỉ tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội kích thước 10 x 30m. Ngày 09/7/2019, thửa đất được thay đổi lại kích thước: phía bắc giáp rãnh tiêu thoát nước có chiều dài 26,30m; phía nam giáp hành lang giếng công cộng có chiều dài 26,30m; phía tây giáp đất UBND xã Mỹ T có chiều dài 11,40m và phía đông giáp đường làng có chiều dài dài 11,40m.
Ngày 24/7/2019, thực hiện Kết luận thanh tra số 65/KH-UBND ngày 10/01/2019 của UBND huyện Mỹ Đức - UBND xã Mỹ T cùng các tổ chức chính trị xã hội tại địa phương đã xuống thực địa bàn giao mốc giới quyền sử dụng 300 m2 đất tại thửa đất số 154 nêu trên cho gia đình ông T và bà H.
Nhận thấy, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BN 479041 cấp ngày 28 tháng 12 năm 2012 Số vào sổ cấp GCN: 28578A do UBND huyện Mỹ Đức cấp cho Ông Văn Trọng S là đúng nguồn gốc, vị trí và hình thửa. Sau khi anh S chuyển nhượng cho bà H thì bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số BN 505803 đối với 299,8 m2 đất thửa đất số 110, tờ bản đổ số 18 Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T. Vì cấp sai vị trí, hình thửa nên Ngày 06/3/2019 UBND huyện Mỹ Đức ban hành Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 505803 do diện tích đất được cấp không đúng vị trí thửa đất theo Kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/01/2019 của UBND huyện Mỹ Đức. Tiếp đó, Sở Tài Nguyên và Môi trường (TNMT) thành phố Hà Nội đã cấp (thay thế) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 793437 cấp ngày 28/5/2019 mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị H. Diện tích đất được cấp là 300 m2 thuộc thửa đất số 154 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội kích thước 10 x 30m. Ngày 09/7/2019, thửa đất được thay đổi lại kích thước: phía bắc giáp rãnh tiêu thoát nước có chiều dài 26,30m; phía nam giáp hành lang giếng công cộng có chiều dài 26,30m; phía tây giáp đất UBND xã Mỹ T có chiều dài 11,40m và phía đông giáp đường làng có chiều dài dài 11,40m. Đây chính là thửa đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BN 479041 cấp ngày 28 tháng 12 năm 2012 Số vào sổ cấp GCN: 28578A do UBND huyện Mỹ Đức cấp cho Ông Văn Trọng S (do cấp sai vị trí và hình thửa nên cấp lại) Vì vậy các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, đúng thực tế theo quy định của pháp luật về nguồn gốc, vị trí, kích thước thửa đất mà ông Sang và bà Huyền chuyển nhượng cho bà H (thửa 154).
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu Hủy bỏ Quyết định số: 453/QĐ-UBND ngày 6/3/2019 của UBND huyện Mỹ Đức về việc thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất BN 505803 mang tên bà Nguyễn Thị H, xã Mỹ T do cấp không đúng vị trí thửa đất theo kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/1/2019 là có căn cứ.
2.4. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về đòi quyền sử dụng đối với phần diện tích đất do bị đơn và người liên quan chiếm hữu bất hợp pháp Căn cứ vào trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp thể hiện, khoảng giữa năm 2019, bà Lê Thị C cùng con trai là anh Văn Trọng S đã tự ý lắp dựng hàng rào bằng thép B40 ngăn đôi thửa đất 154 (thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn) đồng thời bà Lê Thị C chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật đối với phần diện tích 146,9 m2 đất có mặt tiền giáp đường làng dài 11,40m; sâu 12,70m (theo kết quả thẩm định của Tòa án cấp sơ thẩm) Xét thấy: Bà H được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 793437 cấp ngày 28/5/2019 ( bổ sung 09/7) mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị H. Diện tích đất được cấp là 300 m2 thuộc thửa đất 154 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, phía bắc giáp rãnh tiêu thoát nước có chiều dài 26,30m; phía nam giáp hành lang giếng công cộng có chiều dài 26,30m; phía tây giáp đất UBND xã Mỹ T có chiều dài 11,40m và phía đông giáp đường làng có chiều dài dài 11,40m. Do bà Lê Thị C cùng con trai là anh Văn Trọng S đã tự ý lắp dựng hàng rào bằng thép B40 ngăn đôi thửa đất 154 đồng thời bà Lê Thị C chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật diện tích khoảng 146,9 m2 đất có mặt tiền giáp đường làng dài 11,40m; sâu 12,70m (theo kết quả thẩm định của Tòa án cấp sơ thẩm) là hành vi chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp.
Như đã phân tích ở các nội dung nêu trên, có căn cứ xác định thửa đất 154 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn nên hành vi chiếm hữu, sử dụng đất của bà C và anh S là bất hợp pháp nên nguyên đơn có quyền khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất bị chiếm hữu là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xác định bà C là đồng bị đơn là đúng địa vị tố tụng và đúng quy định của pháp luật.
2.5. Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức về việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Văn phòng công chứng Hòa N vào tham gia tố tụng là thiếu người tham gia tố tụng, vi phạm thủ tục tố tụng.
Tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có Quyết định cung cấp tài liệu chứng cứ số 356/2024/QĐ-CCTLCC gửi Văn phòng công chứng Hòa N nay là Văn phòng công chứng Nguyễn Như Dưỡng, yêu cầu cung cấp hồ sơ liên quan việc công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 90/2013/HĐCN ngày 18/4/2013, giữa Bên chuyển nhượng là anh Văn Trọng S, chị Nguyễn Thị Thanh H với Bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị H.
Ngày 06/4/2024, Văn phòng công chứng Hòa N nay là Văn phòng công chứng Nguyễn Như Dưỡng có quan điểm:
- Đối tượng của Hợp đồng chuyển nhượng là thửa đất số 154, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại Đội 4, thôn Vĩnh L, xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, diện tích chuyển nhượng là 300m2, giao dịch chuyển nhượng là có thật, thửa đất đã được UBND huyện Mỹ Đức cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 479401, số vào sổ cấp GCN 28578 A cấp ngày 28/12/2012.
- Thửa đất thuộc trường hợp được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định.
- Trình tự thủ tục công chứng đảm bảo đúng quy định của pháp luật Văn phòng công chứng Nguyễn Như Dưỡng đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Kèm theo là hồ sơ công chứng đối với Hợp đồng nêu trên.
Căn cứ vào hồ sơ công chứng do Văn phòng công chứng Hòa N nay là Văn phòng công chứng Nguyễn Như Dưỡng cung cấp thể hiện, việc công chứng được Văn phòng công chứng thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 90/2013/HĐCN ngày 18/4/2013 giữa Bên chuyển nhượng là anh Văn Trọng S, chị Nguyễn Thị Thanh H với Bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị H được xác định là hợp pháp.
Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót khi không thu thập chứng cứ từ Văn phòng công chứng Hòa N, nên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức về nội dung này là có căn cứ. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm nội dung này đã được bổ sung, Văn phòng công chứng đề nghị không tham gia tố tụng và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật nên không phải là căn cứ để hủy bản án sơ thẩm.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
3. Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn bà Lê Thị C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Anh Văn Trọng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận.
Do không chấp nhận kháng cáo nên anh Văn Trọng S và anh Văn Trọng K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 131, Điều 705, Điều 705, Điều 707, Điều 711 của Bộ luật Dân sự năm 1995;
Căn cứ Điều 122, Điều 124, Điều 129, từ Điều 697 đến Điều 702 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ Điều 129, Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015
Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai năm 2003,
Căn cứ Luật đất đai năm 2013
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xác định giao dịch dân sự về chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2004, giữa vợ chồng ông Nguyễn Thanh T, bà Nguyễn Thị H với ông Văn Trọng G, đối với thửa đất số 154 tờ bản đồ số 05 tại địa chỉ xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, diện tích 300m2 là có hiệu lực pháp luật (hiện vợ chồng ông T, bà H đang quản lý, sử dụng).
2. Buộc anh Văn Trọng S và bà Lê Thị C phải trả lại cho ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị H phần đất có diện tích 146,9 m2 (có sơ đồ kèm theo bản án) và toàn bộ tài sản gắn liền trên thửa đất số 154, tờ bản đồ số 05 tại địa chỉ xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 793437 do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 28/5/2019 (bổ sung 09/7/2019) vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS-MĐ 07576 mang tên chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị H.
Nguyên đơn - ông Nguyễn Thanh T, bà Nguyễn Thị H được quyền tháo dỡ các vật cản trở do gia đình phía bị đơn làm (bao gồm hàng rào sắt, thép…) ngăn trên thửa đất số 154, tờ bản đồ số 05 tại địa chỉ xã Mỹ T, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội mà không phải đền bù giá trị bằng tiền cho bị đơn.
2. Không chấp nhận các yêu cầu phản tố của bị đơn gồm:
- Hủy bỏ Quyết định số 453/QĐ-UBND ngày 6/3/2019 của UBND huyện Mỹ Đức về việc thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất BN 505803 mang tên bà Nguyễn Thị H, xã Mỹ T do cấp không đúng vị trí thửa đất theo kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/1/2019 .
- Hủy bỏ kết luận số 65/KL-UBND ngày 10/1/2019 do kết luận không có cơ sở pháp lý, vi phạm nghiêm trọng pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình.
- Hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số 90/2013/HĐCN được văn phòng Công chứng Hòa N xác nhận ngày 18/4/2013 giữa gia đình anh Văn Trọng S cùng vợ là chị Nguyễn Thị Thanh H với bà Nguyễn Thị H vô hiệu do giả tạo.
- Buộc gia đình ông T, bà H trả lại toàn bộ diện tích bao gồm 300 m2 đất tại thửa đất số 154 tờ bản đồ số 05, khôi phục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BN 479401 cấp ngày 28 tháng 12 năm 2012 số vào sổ cấp GCN: 28578 A. Buộc gia đình ông T, bà H trả lại toàn bộ diện tích mà ông G khai hoang lấn chiếm và bị trả giá bằng quyết định kỷ luật Đảng số 10/QĐ-ĐU ngày 29 tháng 10 năm 2007 của Đảng bộ xã Mỹ T.
3. Về án phí: Anh Văn Trọng S phải chịu 300.000 án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận; 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố đã nộp tại Biên lai số 0038615 ngày 27/9/2021 và 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0039310 ngày 08/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Số tiền án phí anh S còn phải nộp là 300.000 đồng.
Anh Văn Trọng K phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0039309 ngày 08/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Xác nhận anh Khang đã nộp xong tiền án phí.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai phúc thẩm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 301/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 301/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 07/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về