Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 193/2023/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 193/2023/DS-PT NGÀY 25/04/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Hôm nay, ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2023/TLPT-DS ngày 03/02/2023 về Tranh chấp quyền sử dụng đất;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2022/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố S bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 179/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lê Thị S, sinh năm: 1952;

Địa chỉ: Số nhà 150/1, ấp Khánh Nghĩa, xã Tân Khánh Đông, thành phố S, tỉnh Đ.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Ông Hứa Văn Đ, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số nhà 135, ấp Khánh Nghĩa, xã Tân Khánh Đông, thành phố S, tỉnh Đ.

- Bị đơn: Lê Hoàng P, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Số nhà 64, rạch Ngã Bát, Khóm 2, Phường 2, thành phố S, tỉnh Đ.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là: Bà Nguyễn Thu L, sinh năm 1955. Địa chỉ: Số nhà 25, đường Lê Thị Riêng, Khóm 2, Phường 1, thành phố S, tỉnh Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hồ Thị Tâm A, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Số nhà 150/1, ấp Khánh Nghĩa, xã Tân Khánh Đông, thành phố S, tỉnh Đ.

Người đại diện theo ủy quyền của chị A là: Ông Hứa Văn Đ, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số nhà 135, ấp Khánh Nghĩa, xã Tân Khánh Đông, thành phố S, tỉnh Đ.

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị S là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn bà Lê Thị S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Thị Tâm A trình bày:

Bà Lê Thị S là chị ruột của ông Lê Văn D (Chết năm 2015, ông D là cha ruột của anh Lê Hoàng P).

Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha, mẹ bà S là cụ Lê Văn N (Chết năm 1995) và cụ Lê Thị S (Chết năm 2009). Vào năm 1996, khi cụ S còn sống đã cho bà S phần đất có kích thước ngang khoảng 4,30m x dài 11,40m để cất nhà ở. Vị trí phần đất, nằm phía sau nhà của cụ S và phần đất ngang 1,3m x dài 23m để làm lối đi ra đường công cộng thuộc thửa đất số 2117, tờ bản đồ 01 do cụ Lê Thị S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Việc cụ S cho bà S phần đất trên chỉ nói miệng nhưng tất cả anh, chị, em trong gia đình (Trong đó, có ông Lê Văn D) đều biết và thống nhất.

Quá trình sử dụng, từ năm 1996 đến 2008, cụ S nhiều lần kêu bà S làm thủ tục đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà S nghĩ đất của mẹ cho được anh, chị, em thống nhất và một phần do không am hiểu pháp luật nên bà S chưa làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.

Đến năm 2015, sau khi ông D chết, anh Lê Hoàng P về ở nhà thờ và không đồng ý cho bà S làm thủ tục tách thửa quyền sử dụng đất đối với phần đất bà S đang quản lý, sử dụng. Hiện tại, phần đất tranh chấp bà S và con gái tên Hồ Thị Tâm A đang quản lý, sử dụng thuộc một phần của thửa 2117, tờ bản đồ 01, tại Khóm 2, Phường 2, thành phố S do Lê Hoàng P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2016. Ngoài phần đất tranh chấp, bà S không còn chỗ ở nào khác vì từ năm 1996 đến nay, bà S không còn sống chung với chồng (là ông Hồ Văn Ba) tại địa chỉ số: 150/1 ấp Khánh Nghĩa, xã Tân Khánh Đông, thành phố S.

Vì vậy, bà S yêu cầu công nhận cho bà S quyền sử dụng đất diện tích 49,6m2 thể hiện tại hình 1 gồm các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 14 đến 3 và diện tích lối đi 21,6m2 thể hiện tại hình 2 gồm các mốc 1, 2, 3, 14, 13, 12 đến 1, theo sơ đồ đo đạc ngày 29/6/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

Chị Hồ Thị Tâm A là con đẻ của bà S. Chị A thống nhất với yêu cầu của bà S. Ngoài ra, chị A không có yêu cầu gì khác.

- Bị đơn anh Lê Hoàng P trình bày:

A là con ruột của ông Lê Văn D (Chết năm 2015), bà S là cô ruột của anh.

Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ Lê Thị S (Chết năm 2009, là bà nội của anh P) quản lý, sử dụng trước năm 1975. Đến năm 1999, cụ S kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất và được UBND thị xã S (Nay là Thành phố) S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 18/01/1999.

Quá trình sử dụng đất, khoảng năm 2000, cụ S có cho bà S cất nhà lá ở tạm để làm bột vì khi đó bà S đang sống chung với chồng tại xã Tân Khánh Đông nhưng do vợ chồng có mâu thuẫn nên bà S về cất nhà ở tạm.

Ngày 09/8/2005, cụ S lập di chúc để toàn bộ tài sản là thửa đất 2117, tờ bản đồ 01, diện tích 303m2 cùng căn nhà số 64 gắn liền với đất cho ông Lê Văn D. Năm 2015, ông D chết không để lại di chúc nên các con của ông gồm: A Lê Hoàng P, anh Lê Văn Hiếu, anh Lê Hữu Nghĩa và anh Lê Hoàng Biểu thống nhất thỏa thuận phân chia di sản của ông D với nội dung: A Hiếu, anh Nghĩa và anh Biểu đồng ý tặng cho toàn bộ di sản là căn nhà gắn liền với đất thuộc thửa 2117 cho anh Lê Hoàng P. Đến tháng 5/2016, anh được cấp quyền sử dụng đất diện tích 170m2 thuộc thửa đất số 2117, tờ bản đồ số 1 (Thửa số 27, tờ bản đồ số 24 theo bản đồ lưới có tọa độ).

Do đó, anh không đồng ý theo yêu cầu của bà S. A chỉ đồng ý cho bà S ở sử dụng phần đất tranh chấp tại hình 1 và hình 2 đến cuối đời chứ không đồng ý tách diện tích đất tranh chấp cho bà S đứng tên. Bởi vì, phần đất tranh chấp thuộc một phần của thửa đất số 2117 do anh đứng tên. Trước đây, cụ S chỉ cho bà S cất nhà ở tạm trên đất chứ không có cho luôn.

Trường hợp, bà S không có chỗ ở nào khác và được tiếp tục ở trên đất tranh chấp và trả lại giá trị đất thì anh P cũng không đồng ý.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 72/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố S đã xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với anh Lê Hoàng P.

Công nhận cho bà Lê Thị S được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 49,6m2 thể hiện tại hình 1 gồm các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 14 đến 3 và diện tích lối đi 21,6m2 thể hiện tại hình 2 gồm các mốc 1, 2, 3, 14, 13, 12 đến 1 theo sơ đồ đo đạc ngày 29/6/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc một phần thửa đất số 2117, tờ bản đồ số 01 (đối chiếu sang bản đồ lưới có tọa độ là thửa đất số 27, tờ bản đồ số 24), tọa lạc tại Phường 2, thành phố S do anh Lê Hoàng P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hiện phần đất này do bà S đang quản lý, sử dụng).

Buộc bà Lê Thị S hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho anh Lê Hoàng P số tiền 284.000.000đ (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi bốn triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/10/2022 bà Lê Thị S làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho bà S quyền sử dụng đất diện tích 71,2m2 (Diện tích nhà 49,6m2 và diện tích lối đi là 21,6m2, thuộc một phần thửa đất số 2117, tờ bản đồ số 01, tại Phường 2, thành phố S do anh Lê Hoàng P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo sơ đồ đo đạc ngày 29/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Bà S không đồng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho anh P số tiền 284.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ phát biểu ý kiến Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự có mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị S, sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Hứa Văn Đức là người đại diện của bà Lê Thị S và chị Hồ Thị Tâm A với bà Nguyễn Thu Loan là người đại diện của anh Lê Hoàng P thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:

+ Thống nhất cho bà Lê Thị S được quyền tiếp tục sử dụng diện tích 49,6m2 đất thể hiện tại Hình 1 trong phạm vi các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 14, 3 thuộc một phần thửa đất số 2117, tờ bản đồ số 01 (Đối chiếu sang bản đồ lưới có tọa độ là thửa đất số 27, tờ bản đồ số 24).

+ Hộ anh Lê Hoàng P và hộ bà Lê Thị S được quyền sử dụng diện tích 21,6m2 thể hiện tại Hình 2 trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, 14, 13, 12, 1 để làm lối đi chung, thuộc một phần thửa đất số 2117, tờ bản đồ số 01 (Đối chiếu sang bản đồ lưới có tọa độ là thửa đất số 27, tờ bản đồ số 24). A Lê Hoàng P được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 21,6m2 đất nêu trên.

Vị trí đất theo sơ đồ đo đạc ngày 29/6/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, tỉnh Đ.

Việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Căn cứ vào Công văn số 815/CV-CNVPĐKĐĐ-TPSaDec ngày 25/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S về việc cung cấp thông tin, xác định:

“- Phần đất diện tích: 49,6m2 (Hình 1) diện tích: 21,6m2 (Hình 2) và diện tích: 133,2m2 (Hình 3) theo sơ đồ đo đạc ngày 29/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S thuộc một phần thửa 2117 tờ bản đồ số 1, cấp cho ông Lê Hoàng P.

- Diện tích hình 1, hình 2, hình 3 thuộc thửa 2117 qua đo đạc thực tế ngày 26/4/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S là 204,4m2 so với giấy chứng nhận đã được cấp diện tích 170,0m2 dư 34,4m2. Lý do có sự chênh lệch diện tích là do đo đạc thực tế.” Vì vậy, đề nghị đề nghị Cơ quan có thẩm quyền thu hồi một phần quyền sử dụng đất của anh Lê Hoàng P để cấp lại cho bà Lê Thị S theo quy định của pháp luật.

[2] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm Bị đơn đồng ý cho Nguyên đơn được sử dụng đất tranh chấp và sử dụng chung lối đi, không yêu cầu Nguyên đơn trả giá trị đất. Nguyên đơn cũng đồng ý sử dụng chung lối đi với Bị đơn nên Bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác. Vì vậy, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm.

Phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 147, Điều 148, Điều 91, Điều 157, Điều 165, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2022/DS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố S.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

3. Bà Lê Thị S được quyền tiếp tục sử dụng diện tích 49,6m2 đất, mục đích sử dụng T, thể hiện tại Hình 1 trong phạm vi các mốc 3, 4, 5, 6, 7, 14, 3 thuộc một phần thửa đất số 2117, tờ bản đồ số 01 (Đối chiếu sang bản đồ lưới có tọa độ là thửa đất số 27, tờ bản đồ số 24).

4. Hộ anh Lê Hoàng P và hộ bà Lê Thị S được quyền sử dụng diện tích 21,6m2 thể hiện tại Hình 2 trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, 14, 13, 12, 1 để làm lối đi chung, thuộc một phần thửa đất số 2117, tờ bản đồ số 01 (Đối chiếu sang bản đồ lưới có tọa độ là thửa đất số 27, tờ bản đồ số 24). A Lê Hoàng P được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 21,6m2 đất nêu trên.

(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 29/6/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S).

Các đương sự được đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Cơ quan có thẩm quyền thu hồi một phần quyền sử dụng đất của anh Lê Hoàng P để cấp lại cho bà Lê Thị S theo bản án đã tuyên.

5. Về án phí:

Miễn tiền án phí dân sự cho bà Lê Thị S, do bà S là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo quy định của pháp luật.

6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Bà Lê Thị S chịu 3.223.500đ (Đã nộp xong).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

160
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 193/2023/DS-PT

Số hiệu:193/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/04/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về