Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 191/2023/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 191/2023/DS-PT NGÀY 14/04/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 584/2022/TLPT- DS ngày 28 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2022/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh T bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 302/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1/. Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1966. (vắng mặt) Đăng ký thường trú: khu phố H, phường A, thị xã Tr, tỉnh T; Chỗ ở hiện nay: tổ 4, khu phố 8, phường A1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2/. Bà Phạm Thị Hồng Ng, sinh năm 1963. (vắng mặt) Cư trú tại: khu phố H, phường A, thị xã Tr, tỉnh T.

- Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1962. (có mặt) Cư trú tại: Quốc lộ 22, tổ 10, khu phố H, phường A, thị xã Tr, tỉnh T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đặng Tấn L.

(có mặt) - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/. Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1965.

Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1962.

(có mặt) Cùng cư trú tại: Quốc lộ 22, tổ 10, khu phố H, phường A, thị xã Tr, tỉnh T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H: Luật sư Đặng Tấn L. (có mặt) 2/. Ủy ban nhân dân thị xã Tr, tỉnh T. (vắng mặt)

- Người kháng cáo: Ông Trần Văn Đ – bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Hồng Ng trình bày:

Phần đất hiện nay ông Phạm Ngọc T và bà Phạm Thị Hồng Ng sử dụng tại khu phố H, phường A, thị xã Tr, tỉnh T là của mẹ ông là cụ Trần Minh M để lại cho chị em ông bà. Phần đất này cụ M được thừa kế của cha mẹ nên có nguồn gốc từ rất xưa. Ngày 14/9/2005, cụ Trần Minh M được UBND huyện (nay là thị xã) Tr cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835 diện tích 1.962m2. Phần đất tranh chấp có diện tích qua đo đạc thực tế 134,8m2, thuộc một phần diện tích đất của cụ Trần Minh M (chết năm 2017) và cụ Phạm Văn Phụ (chết năm 1972) được cha mẹ để lại. Đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Khoảng năm 2010, ông Trần Văn Đ có đất giáp ranh, tự ý trồng 03 trụ xi măng lấn sang đất của gia đình bà. Khi cụ M ngăn cản thì bị ông Đ lấy rựa rượt đuổi. Thời điểm đó, ông T đi làm và sinh sống tại Đồng Nai không về, nhà chỉ có cụ M và bà Ng nên không dám nói gì. Đến năm 2019, ông Đ có yêu cầu cán bộ địa chính xác định ranh đất với ông Ngô Văn Đ1. Ông Đ có yêu cầu đo luôn diện tích đất của cụ M, ông Đ có nói nếu ông Đ lấn đất của gia đình ông bà thì ông Đ sẽ trả. Kết quả đo đạc ông Đ lấn đất của gia đình ông bà nhưng ông Đ không trả nên phát sinh tranh chấp.

Nay cụ M đã chết, ông bà yêu cầu ông Trần Văn Đ phải di dời các tài sản để trả lại cho ông bà diện tích 100,1m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ M được cấp, theo sơ đồ sử dụng đất số 933/SĐ-HT có xác nhận vào ngày 03/6/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T. Trên phần đất này có 03 trụ xi măng và 06 cây cao su của ông Đ, bà H; yêu cầu ông Đ, bà H phải chặt bỏ cây cao su, di dời trụ xi măng để trả lại đất cho ông bà.

Bị đơn ông Trần Văn Đ trình bày:

Phần đất tranh chấp thuộc một phần diện tích của cha mẹ ông sử dụng, sau đó để lại thừa kế cho ông. Ngày 07/9/2006 vợ chồng ông được UBND huyện (nay là thị xã) Tr cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02196. Năm 1988, tại vị trí đất ông T, bà Ng tranh chấp, cha ông có cho anh của ông là Trần Văn C cất nhà tạm; sau đó tháo dỡ chuyển đi nơi khác sinh sống. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông trồng cao su. Đến năm 2010, ông yêu cầu gia đình cụ M phá tầm vong, tre làm hang rào, phía cụ M không phá. Ông có trồng 03 trụ xi măng và giăng dây để xác định ranh đất của ông bà và cụ M nhưng cụ M lấy dây để lại qua đất của ông, ông có gặp cụ M để nói rõ chứ không xô xát. Năm 2019, sau khi gia đình ông nhờ cán bộ địa chính đến xác định ranh đất với ông Ngô Văn Đ1 thì ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Hồng Ng – con cụ M cho rằng ông lấn chiếm đất nên hai bên xảy ra tranh chấp.

Phần đất ông đang sử dụng có nguồn gốc từ ông bà để lại, sử dụng cho đến nay. Vợ chồng ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đồng thời yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Trần Minh M đối với diện tích đất tranh chấp 100m2 ông đang sử dụng. Trường hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, ông tự nguyện chặt bỏ cây cao su và di dời 03 trụ xi măng để trả lại phần đất tranh chấp cho gia đình cụ M, không yêu cầu bồi thường.

Ủy ban nhân dân thị xã Tr trình bày:

Ngày 14/01/2001, hộ bà Trần Minh M có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 34, tờ bản đồ 08, diện tích 1.962m2. Đơn đăng ký được UBND xã A xác nhận đủ điều kiện và Hội đồng đăng ký xã A xét đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/4/2002. Ngày 24/6/2002, UBND xã A có Tờ trình số 02/TTr-UBND về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 334 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích 986.371m2. Ngày 10/5/2002, Phòng Địa chính có Tờ trình số 80/TT-CNQSDĐ về phê duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 14/4/2002, UBND huyện (nay là thị xã) Tr ban hành Quyết định số 143/QĐ.CT về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 334 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích 986.371m2, trong đó có hộ bà Trần Minh M. Ngày 19/5/2005, UBND huyện (nay là thị xã) Tr cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835 cho hộ bà Trần Minh M thửa đất số 34, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.962m2 tại ấp (nay là khu phố) An Lợi, xã (nay là phường) H, huyện (nay là thị xã) Tr, tỉnh T.

Việc UBND thị xã Tr cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Minh M là đúng quy định pháp luật tại Điều 50 Luật Đất đai 2003. Do đó, UBND thị xã Tr không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn Đ về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835 cấp cho hộ bà Trần Minh M đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.962m2 nêu trên.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2022/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh T đã quyết định:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Hồng Ng về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Trần Văn Đ, bà Huỳnh Thị H.

Buộc ông Trần Văn Đ, bà Huỳnh Thị H di dời, chặt, phá các trụ xi măng, 06 cây cao su để trả lại cho ông Phạm Ngọc T và bà Phạm Thị Hồng Ng phần đất diện tích 100,1m2 thuộc thửa 34, tờ bản đồ 28, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835 ngày 14/9/2005 cấp cho cụ Trần Minh M, có tứ cận:

+ Hướng Đông giáp đất cụ Trần Minh M, dài 6,12m;

+ Hướng Tây là mũi nhọn;

+ Hướng Nam giáp đất cụ Trần Minh M dài 14,66m + 18,35m;

+ Hướng Bắc giáp đất ông Trần Văn Đ dài 34,25m.

Đất tọa lạc tại khu phố H, phường A, thị xã Tr, tỉnh T (kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số 414/SĐ-HT ngày 19/8/2022).

2/. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn Đ về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835 ngày 14/9/2005 cấp cho cụ Trần Minh M, đối với diện tích 100,1m2 nêu trên.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12/9/2022, ông Trần Văn Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Văn Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đưa ra các lập luận đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835 ngày 14/9/2005 cấp cho cụ Trần Minh M, đối với diện tích 100,1m2.

Nguyên đơn ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Hồng Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn Đ làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Phạm Ngọc T và bà Phạm Thị Hồng Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nguyên đơn ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Hồng Ng khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn Đ, bà Huỳnh Thị H di dời các tài sản trên đất để trả lại cho ông T và bà Ng (người kế thừa của bà Trần Minh M) phần đất diện tích 100,1m2 thuộc thửa 34, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại khu phố H, phường A, thị xã Tr, tỉnh T. Với lý do phần diện tích đất trên thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835 ngày 14/9/2005 mà UBND huyện (nay là thị xã) Tr cấp cho cụ Trần Minh M.

Bị đơn ông Trần Văn Đ, bà Huỳnh Thị H không đồng ý với yêu cầu nguyên đơn với lý do phần diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ ông Đ để lại, gia đình ông Đ sử dụng ổn định và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2.2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 14/9/2005, bà Trần Minh M (mẹ của các nguyên đơn) được UBND thị xã Tr cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835, diện tích 1.962m2. Ngày 07/9/2006, ông Trần Văn Đ được UBND thị xã Tr cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02196, diện tích 1.877m2. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cả cụ M và ông Đ đều không có ý kiến về diện tích đất được cấp.

Theo kết quả đo đạc thì phần đất của cụ M (hiện bà Ng là con đang quản lý) đang sử dụng có diện tích 1.899,9m2, thiếu so với diện tích được cấp giấy chứng nhận; trong khi đó phần đất ông Đ hiện đang sử dụng có diện tích 1.978m2 (bao gồm cả phần đã chuyển nhượng cho người khác) là nhiều hơn so với diện tích đất ông Đ được cấp.

Quá trình xét xử sơ thẩm đến nay, các bên đều xác nhận ranh đất của các bên trước đây là cây tre và tầm vông, ranh giới không rõ ràng; sau đó ông Đ phá bỏ tre và tầm vông để trồng cao su; 02 năm sau ông Đ xây trụ xi măng để cắm ranh thì các bên phát sinh tranh chấp. Ông Đ cũng thừa nhận cụ M không đồng ý việc ông cắm trụ ranh và các bên có tranh chấp đến nay.

Do ranh đất không được các bên thống nhất nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định ranh giới đất của các bên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp; từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trần Văn Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông Đ là người cao tuổi nên được miễn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn Đ.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2022/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh T.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc T, bà Phạm Thị Hồng Ng về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Trần Văn Đ, bà Huỳnh Thị H.

Buộc ông Trần Văn Đ, bà Huỳnh Thị H di dời, chặt, phá các trụ xi măng, 06 cây cao su để trả lại cho ông Phạm Ngọc T và bà Phạm Thị Hồng Ng phần đất diện tích 100,1m2 thuộc thửa 34, tờ bản đồ 28, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835 ngày 14/9/2005 cấp cho cụ Trần Minh M, có tứ cận:

+ Hướng Đông giáp đất cụ Trần Minh M, dài 6,12m;

+ Hướng Tây là mũi nhọn;

+ Hướng Nam giáp đất cụ Trần Minh M dài 14,66m + 18,35m;

+ Hướng Bắc giáp đất ông Trần Văn Đ dài 34,25m.

Đất tọa lạc tại khu phố H, phường A, thị xã Tr, tỉnh T (kèm theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số 414/SĐ-HT ngày 19/8/2022).

2/. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn Đ về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00835 ngày 14/9/2005 cấp cho cụ Trần Minh M, đối với diện tích 100,1m2 nêu trên.

3/. Án phí và các chi phí tố tụng sơ thẩm được thực hiện theo quyết định của bản án sơ thẩm.

4/. Ông Trần Văn Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

5/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

108
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 191/2023/DS-PT

Số hiệu:191/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/04/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về