Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 159/2024/DS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 159/2024/DS-PT NGÀY 09/04/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 09 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý  số 47/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm  số 01/2024/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm  số 83/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1959; Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đông D, sinh năm 1978; Địa chỉ cư trú: Lô D, đường N, khu đô thị B, ấp B, xã L, Tp., tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Đinh Công H, sinh năm 1973; Địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau; Địa chỉ: Khóm C, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau.

2. Ông Nguyễn Minh M, sinh năm 1981; Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

3. Ông Sơn Văn G, sinh năm 1964 (có mặt)

4. Bà Nguyễn Thị T1; Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Quốc T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Ông Nguyễn Quốc T và người bảo vệ quyền lợi của ông T trình bày: Ông T có phần đất thuộc tờ bản đồ số 14, thửa số 0123 có diện tích 20.000m2 tọa lạc tại ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T đứng tên. Nằm liền kề với phần đất của ông T là phần đất hoang do Nhà nước khi cấp đất còn dư lại chiều ngang giáp kênh Chệch Buối bằng 24 mét, chạy dài từ kênh C đến Kênh 500 giáp với xã K khoảng 500 mét, diện tích khoảng 12.000m2. Ông T đã có tên trong sổ mục kê và sơ đồ địa chính. Vào năm 1992 Ủy ban nhân dân xã K có chủ trương nạo vét kênh Chệch Buối vì kênh bị cạn, lưu thông đi lại của người dân trong việc canh tác nông nghiệp khó khăn, địa phương huy động nhân công được 16 người, kêu gọi người dân nếu ai xuất chi phí nuôi nhân công ăn uống, thuê máy bơm nước, tiền mua dầu bơm nước thì xã sẽ giao cho phần đất trên (hình thức cấp đất). Lúc đó ông T2 là Trưởng ban nông nghiệp xã K còn ông Tư T3 là chính quyền ấp 8 đến gia đình ông T trao đổi và ông T đã xuất tiền để cho xã thực hiện công việc trên. Nạo vét xong thì ông T tiến hành nhận đất và quản lý sử dụng nhưng do đất hoang hóa, toàn gốc tràm nên gia đình ông T đã bỏ nhiều công sức, tiền để làm công việc nhổ gốc tràm, đào mương phèn, lên bờ bao. Tiếp giáp phía bên kia phần đất này là đất ông Đinh Công H. Năm 2005, ông H ngang nhiên cuốc đất bao chiếm phần đất nói trên của ông T có chiều ngang bằng 18,4 mét dài từ kênh C đến Kênh E. Từ đó phát sinh tranh chấp. Sau đó ông T gửi đơn yêu cầu nhiều lần và được chính quyền mời hai bên lên hòa giải, động viên ông T chia lại cho ông H phần đất ngang 09 mét dài từ kênh C đến Kênh E, ông T không đồng ý vì cho rằng ông H không có công sức nên hòa giải không thành. Sự việc kéo dài đến năm 2019 thì ông H gặp gia đình ông T trao đổi để yêu cầu ông T ký giấy cho ông H đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần 9 mét mà trước đây UBND xã động viên ông T chia lại cho ông H, ông T không đồng ý thì ông H yêu cầu mua lại phần đất trên với giá 55.000.000 đồng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông T đồng ý. Sau đó ông H thuê văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện U cán bộ xuống đo đạc làm thủ tục chuyển nhượng nhưng sau đó không biết vì lý do gì mà ông H không thống nhất sang nhượng phần đất trên nữa, không chấp nhận thanh toán tiền cho ông T, không trả đất cho ông T và đồng thời ông H chuyển nhượng phần đất trên lại cho ông Nguyễn Minh M ở ấp G xã K, huyện U. Thời gian chờ Ủy ban nhân dân xã giải quyết thì ông H cho ông M xây dựng nhà cơ bản trên đất tranh chấp để nhằm hợp thức hóa phần đất của ông T, ông T báo chính quyền địa phương ấp xã nhưng cán bộ đến rồi về không lập biên bản sự việc. Nay ông T yêu cầu Tòa án buộc ông Đinh Công H và ông Nguyễn Minh M trả toàn bộ phần đất có diện tích theo đo đạc là 7.427,9m2 tính từ phía giáp phần đất ông M đã được cấp giấy chứng nhận đến phần đất ông đang quản lý sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu ông G và bà T di dời nhà trả lại đất cho ông T.

* Ông Đinh Công H trình bày: Khoảng năm 1990 ông có chuyển nhượng thành quả lao động của ông Nguyễn Văn L diện tích đất ngang 72 mét, dài từ kênh C đến kênh E, đến cuối năm 1990 ông T có nói phần đất của Nhà nước có lấn chiếm, còn lại ngang 69 mét dài từ kênh C đến kênh 500. Phần đất trước đây ông được sử dụng có diện tích 27.600m22, ông sử dụng ổn định từ năm 1991 đã có ranh đất rõ ràng. Đến năm 1995 Nhà nước có chủ trương cấp đất cho những hộ đã sử dụng đất nên ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 20.000m22, còn lại 7.600m22 là đất thuộc quản lý của Nhà nước nhưng vẫn giao cho người có đất liền kề sử dụng và ông đã sử dụng ổn định. Khoảng năm 2007, phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông có chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn S ngang 36 mét dài từ kênh C đến kênh 500 diện tích 14.400m22, phần còn lại sử dụng ổn định. Đến năm 2009 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Minh M phần đất ngang 33 mét tính từ phần đất giáp với đất đã chuyển nhượng cho ông S. Phần đất chuyển nhượng cho ông M có diện tích 13.200m22 trong đó có phần đất diện tích 5.600m22 ông M đã được cấp giấy chứng nhận, còn lại khoảng 7.600m22 phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận. Năm 2018 ông liên hệ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Văn phòng đăng ký đất đai có đo theo mảnh trích đo năm 2018. Phần đất ông T yêu cầu là phần đất ông đã sử dụng ổn định, phía ông T tranh chấp ông không đồng ý. Ông T cho rằng ông lấn chiếm phần đất trên là không đúng vì thực tế phần đất ông T sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận và phần đất của ông chuyển nhượng cho ông M đã có ranh đất cụ thể, ông không lấn chiếm phần đất của ông T. Ông T cho rằng ông có sang nhượng phần đất của ông T với giá là 55.000.000 đồng là không có xảy ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc T.

* Ông Nguyễn Minh M trình bày: Năm 2009 ông có nhận chuyển nhượng phần đất của ông Đinh Công H ngang 33 mét dài từ Kênh Chệch B đến Kênh 500 tổng diện tích 13.200m22. Vì phần đất ông H chuyển nhượng cho ông có một phần đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hiện nay ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 5.600m22, còn một phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận là 7.600m22. Khi ông chuyển nhượng đất của ông H đất đã có ranh đất và có bờ kênh rõ ràng không tranh chấp và ông sử dụng ổn định từ năm 2009. Đến năm 2019 giữa ông T và ông H phát sinh tranh chấp đối với phần đất ông chuyển nhượng của ông H nên đến nay chưa làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu Tòa án làm rõ phần đất này là của ai và phần đất này ông đã chuyển nhượng và sử dụng từ trước đến nay nên yêu cầu được quyền sử dụng đất theo quy định. Phần đất này hiện nay ông cho vợ chồng chị ông là ông Sơn Văn G và bà Nguyễn Thị T địa chỉ ấp H, xã K, huyện U quản lý và canh tác trực tiếp trên đất.

* Ông Sơn Văn G trình bày: Phần đất em ông là ông M chuyển nhượng của ông H và cho vợ chồng ông sử dụng, vợ chồng ông đã cất nhà ở ổn định nên đối với vụ án này ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm  số 01/2024/DS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh Quyết định:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc T đối với ông Đinh Công H1, ông Nguyễn Minh M, ông Sơn Văn G, bà Nguyễn Thị T1 về việc yêu cầu ông Đinh Công H1, ông Nguyễn Minh M trả phần đất diện tích 7.427,9m2 tọa lạc tại ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Vị trí phần đất tranh chấp một cạnh tiếp giáp Kênh Chệch B, một cạnh tiếp giáp đất phần đất ông T đang quản lý chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, một cạnh tiếp giáp đất ông Nguyễn Minh M đã được cấp giấy chứng nhận, một cạnh tiếp giáp kênh 500 (theo bản vẽ hiện trạng ngày 16/5/2022 của công ty trách nhiệm hữu hạn P).

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Quốc T về việc yêu cầu ông Sơn Văn G, bà Nguyễn Thị T di dời nhà trả lại đất.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 18/01/2024 ông T kháng cáo bản án nêu trên yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm buộc các ông H, M, G, bà T1 tháo dỡ di dời nhà trả lại cho ông 7.427,9m2 đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông T và người bảo vệ quyền lợi của ông T cho rằng: Năm 1992 do kênh Chệch Buối khô cạn nên chính quyền huy động dân cùng đào để dẫn nước vào canh tác, ông là người bỏ tiền ra mua dầu, thuê máy bơm, ăn uống nhân công đào nên được cấp phần đất tranh chấp, ông canh tác đến năm 2000 thì bị ông H1 lấn chiếm, nguồn gốc đất ông H1 khai không đúng sự thật, hiện tại hai người đại diện chính quyền xã có xác nhận đúng như ông T trình bày nên kiến nghị HDXX chấp nhận kháng cáo của ông T.

Ông H1 cho rằng: Phần đất tranh chấp ông là người khai phá quản lý từ năm 1992 cho đến khi ông chuyển nhượng cho ông M, ông không lấn chiếm đất của ông T, nguồn gốc đất ông chuyển nhượng của ông L năm 1990, còn xác nhận của ông T2, ông Tư T3 là không có cơ sở vì các ông này không có quyền cấp đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, qua xét xử phúc thẩm không có chứng cứ xác định phần đất tranh chấp là của ông T, nên kiến nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hình thức, nội dung và thời hạn kháng cáo được ông T thực hiện đúng quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật TTDS, đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo theo quy định. Về thẩm quyền cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 26, 35 Bộ luật TTDS.

[2] Xét kháng cáo của ông T: Việc ông cho rằng phần đất tranh chấp do ông bỏ chi phí nuôi nhân công ăn uống, thuê máy bơm nước, mua dầu chạy máy bơm nước để nạo vét kênh Chệch Buổi vào năm 1992 theo động viên của các ông T2 là Trưởng ban nông nghiệp xã K, ông Tư T3 là chính quyền ấp 8 nên được giao phần đất này, tuy nhiên cho dù có việc ông bỏ tiền ra để thực hiện các việc nêu trên thì ông T2 và ông T3 cũng không phải là người có thẩm quyền giao đất, cấp đất, nên về mặt cơ sở pháp lý thì ông T chưa đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp ông được nhà nước cấp. Về quản lý sử dụng đất, thực tế ông T cũng không phải là người quản lý sử dụng phần đất này, việc ông trình bày ông H1 đã yêu cầu mua lại phần đất này với số tiền 55.000.000đ cũng không có gì chứng minh, trong khi đó ông H1 không thừa nhận có giao dịch mua bán này. Do đó không có căn cứ chứng minh phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông T, nên kháng cáo của ông T không được chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền lợi cho ông T cho rằng ông T bỏ chi phí để đào kênh, thuê máy bơm, bơm nước, ăn uống cho nhân công nhưng không được giải quyết trong vụ án này, tuy nhiên tại đơn khởi kiện ông H1 chỉ yêu cầu đòi đất không yêu cầu hoàn trả các chi phí nêu trên, cho nên cấp sơ thẩm không xem xét, cấp phúc thẩm cũng không can thiệp điều chỉnh.

[3] Án phí dân sự phúc thẩm ông T được miễn nộp theo quy định tại Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quốc T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân huyện U Minh.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc T về việc yêu cầu ông Đinh Công H1, ông Nguyễn Minh M trả phần đất diện tích 7.427,9m² tọa lạc tại ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Vị trí phần đất tranh chấp một cạnh tiếp giáp Kênh Chệch B, một cạnh tiếp giáp đất phần đất ông T đang quản lý chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, một cạnh tiếp giáp đất ông Nguyễn Minh M đã được cấp giấy chứng nhận, một cạnh tiếp giáp kênh 500 (theo bản vẽ hiện trạng ngày 16/5/2022 của công ty trách nhiệm hữu hạn P).

Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Quốc T về việc yêu cầu ông Sơn Văn G, bà Nguyễn Thị T di dời nhà trả lại đất.

2. Chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Quốc T phải chịu tổng chi phí tố tụng là 39.308.000 đồng (ông T đã nộp xong).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Nguyễn Quốc T thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

54
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 159/2024/DS-PT

Số hiệu:159/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/04/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về