Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 151/2023/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 151/2023/DS-PT NGÀY 28/04/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại tru sơ Toa an nhân dân tinh Binh Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sư thụ lý số 51/2023/TLPT-DS ngày 23/02/2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sư sơ thẩm số 51/2022/DS-ST ngày 23/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương bi ḳ hang cao.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Tuyết M, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1977; địa chỉ: khu phố 4, thị trấn DM, huyện DM, tỉnh Tây Ninh (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/6/2022), có mặt.

- Bị đơn: Ông Từ Chí L, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đoàn Thị Th, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D, tỉnh Bình Dương, có mặt.

2. Ông M Văn T1, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

3. Ông M Minh T2, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

4. ông Đặng Văn O, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

5. Ông Đặng Thu T3, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Ngươi khang cao: Bi đ̣ ơn ông Từ Chí L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng va tai phiên toa, nguyên đơn bà M trình bày:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/10/2020 bà yêu cầu ông L tra lai phần đất co diên tich 400m2, thuôc môt phần của thưa đất số 197, tơ ban đồ số 21, đất toa lac tai ấp Cây Liễu, xa Minh Thanh, huyên Dầu Tiếng, tinh Binh Dương. Ngay 08/11/2021, ba yêu cầu khởi kiện bô sung buôc ông L phai tra lai phần đất co diên tich 674,3m2 (trong đo 400m2 đa yêu cầu, bô sung thêm 274,3m2 theo kết qua đo đac thưc tế) thuôc môt phần của thưa đất số 197, tơ ban đồ số 21, đất toa lac tai ấp Cây Liễu, xa Minh Thanh, huyên Dầu Tiếng, tinh Binh Dương và ông L phai co nghia vu di dơi 1.000 cây tầm vông trên ra khỏi phần đất tranh chấp nêu trên.

Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Ba được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00509 QSDĐ/QĐ-UB ngày 10/5/2001 đối với phần đất có tổng diện tích 3.256m2, thuộc thửa đất số 197 tờ bản đồ số 21, đất tọa lạc tại ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D. Nguồn gốc do mẹ của ba là bà Đoan Thi ̣ Lê (đa chết năm 2019) tặng cho ba sau đó ba đăng ky kê khai va đươc cấp giấy chưng nhân quyền sư dung đất. Phần đất cua ba đươc cấp giap với đương đất. Tuy nhiên, ông Tư Chi L la hang xom cua ba đa tư y trồng cây tầm vông trên phần đất thuôc môt phần của thưa 197 cua ba, theo kết qua đo đac thưc tế la 674,3m2 va số cây tầm vông ông L tư y trồng trên đất la khoang 1.000 cây theo biên ban thâm điṇ h cua Toa an. Viêc ông L trồng cây tầm vông thi ba có qua noi chuyên vơi ông L nhưng ông L không đồng y chăt cây tầm vông ma con ngang nhiên thach thưc ba khởi kiện. Nhân thấy viêc lam cua ông L đa xâm pham nghiêm trong đến lơi ich cua ba nên ba khơi kiên ra Toa đê yêu cầu giai quyết.

Tai phiên hop, bà giư nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông L và yêu cầu ông L tra lai phần đất co diện tích 674,3m2, thuôc môt phần của thưa đất số 197, tơ ban đồ số 21, đất toa lac tai ấp Cây Liễu, xa Minh Thanh, huyên Dầu Tiếng, tinh Binh Dương va ông L phai co nghia vu di dơi 1.000 cây tầm vông trên ra khỏi phần đất tranh chấp nêu trên. Bà thống nhất vơi kết qua đo đac theo Manh trich luc điạ chinh co đo đac chinh ly (tranh chấp) số 308-2021 ngay 12/5/2021 cua Chi nhanh Văn phong Đăng ky đất đai huyên Dầu Tiếng phần đất tranh chấp co diên tich 674,3m2 va thống nhất kết qua điṇ h gia theo biên điṇ h gia tri ̣đất va tai san tranh chấp ngay 03/6/2021 cua Toa an nhân dân huyên Dầu Tiếng, bà yêu cầu lấy kết qua nay đê giai quyết vu an.

Đối vơi cac cây trồng khác trên đất bà không tranh chấp không yêu cầu giai quyết.

Tại phiên tòa bà không yêu cầu ông L di dời 1.000 cây tầm vông ra khỏi phần đất tranh chấp, bà đồng ý nhận 1.000 cây tầm vông ông L trồng trên phần đất của bà và đồng ý thanh toán giá trị bằng tiền lại cho ông L.

* Người đại diện theo ủy quyền của bà M có ông Đỗ Thanh T trình bày:

Ông T thống nhất theo ý kiến của bà M, ông không có ý kiến gì bổ sung thêm.

* Theo bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Từ Chí L trình bày:

Trươc yêu cầu khơi kiên cua bà M về viêc yêu cầu ông tra lai phần đất co diện tích 674,3m2, thuôc môt phần của thưa đất số 197, tơ ban đồ số 21, đất toa lac tai ấp Cây Liễu, xa Minh Thanh, huyên Dầu Tiếng, tinh Binh Dương và yêu cầu ông phai co nghia vu di dơi 1.000 cây tầm vông trên phần đất tranh chấp nêu trên thi ông không đồng y. Bơi vi, phần đất tranh chấp la do ông khai pha tư năm 1985. Sau khi khai pha ông đa trồng cây tầm vông trên đất va liên tuc canh tac, thu hoach cây tầm vông tư đo cho đến nay. Viêc phần đất nay đươc cấp giấy chưng nhân quyền sư dung đất cho ba M la do viêc cấp giấy đất không chính xac vơi thưc tế sư dung đất. Phần đất tranh chấp đươc ông khai pha hiên ba M đang sư dung vẫn con la rưng, ba M chi về khu vưc nay sinh sống tư sau năm 1990 (không nhơ ro năm nao), tưc la khi ba M về đây sinh sống thi phần đất nay ông đa trồng cây tầm vông va đang khai thac. Viêc phần đất nay nằm trong sổ đỏ cua ba M thi ông không biết ngay tư đầu, chi khi ba M khơi kiên lên UBND xa Minh Thanh thi ông mơi biết, con trươc đo ông không đê y vi kê tư khi cấp sô ông không sư dung đê cầm cố, hay đo đac lai nên không biết sô không phu hơp vơi thưc tế. Ông hiên đang quan ly hai thưa đất 141 va 144 thuôc tơ ban đồ số 21 toa lac tai ấp Cây Liễu, xa Minh Thanh, huyên Dầu Tiếng, tinh Binh Dương theo Giấy chưng nhân quyền sư dung đất số 0462 QSDĐ/QĐ-UB ngày 10/5/2001 theo hinh thưc la kê khai va đươc cấp sô nên không phu hơp vơi thưc tế sư dung đất. Đối vơi 1000 cây tầm vông trên đất la tai san hơp phap cua ông được trồng trên phần đất cua ông khai pha nên ông không đồng y di dơi cac cây tầm vông nay. Ông thống nhất vơi kết qua đo đac theo Manh trich luc điạ chinh co đo đac chinh ly (tranh chấp) số 308-2021 ngay 12/5/2021 cua Chi nhanh Văn phong Đăng ky đất đai huyên Dầu Tiếng va kết qua điṇ h gia theo biên ban điṇ h gia tri ̣ đất va tai san tranh chấp ngay 03/6/2021 cua Toa an nhân dân huyên Dầu Tiếng va yêu cầu lấy kết qua nay đê lam cơ sơ giai quyết vu an.

Đối vơi cac cây trồng khác trên đất la cua ông, ông không tranh chấp không yêu cầu giai quyết vi ông không đồng y vơi yêu cầu khơi kiên cua bà M.

* Theo biên bản lấy lời khai và quá trình tham gia tố tụng ngươi co quyên lơi, nghia vu liên quan ba Đoàn Thị Th trình bày: Bà thống nhất vơi y kiến va yêu cầu cua chồng bà là ông L, không co y kiến hay yêu cầu gi khac.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, anh T2 thê hiên y kiên: Ông T1 và anh T2 là thành viên trong hộ gia đình, chung hộ khẩu với bà Đặng Thị Tuyết M.

Đối với việc UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00509/QSDĐ/QĐ-UB ngày 10/5/2001 đối với thửa đất số 197, tờ bản đồ số 21, diện tích 3.256m2, tọa lạc tại ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D cho hộ bà M thì ông T1, anh T2 xác định chỉ là thành viên có tên trong sổ hộ khẩu của hộ gia đình bà M. Thửa đất nêu trên là thuộc quyền sử dụng của bà M chứ không liên quan gì đến ông T1 và anh T2. Ông T1 và anh T2 không công sức đóng góp và không có liên quan hay yêu cầu, tranh chấp gì trong vụ án này. Ông T1 và anh T2 đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông O và ông T3 thê hiên y kiên: Ông O và ông T3 là con ruột của bà Đoàn Thị Lê, anh em ruột với bà Đặng Thị Tuyết M, năm 2001 ông O và ông T3 có tên trong hộ khẩu chung với bà Đoàn Thị Lê nhưng không sống chung với bà Lê. Đối với phần đất bà M tranh chấp với ông L thuộc 01 phần của thửa đất số 197, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D không liên quan gì đến ông O và ông T3. Ông O và ông T3 không công sức đóng góp và không có liên quan hay yêu cầu, tranh chấp gì trong vụ án này, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án số 51/2022/DS-ST ngày 23/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện D đã tuyên xử:

1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Tuyết M đối với ông Từ Chí L về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với phần đất có co diêṇ tich 674,3m2, thuôc̣ 01 phần của thưa đất số 197, tơ ban đồ số 21, đất tọa lạc tại ấp Cây Liễu, xã MT, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00509/QSDĐ/QĐ-UB do UBND huyện D cấp ngày 10/5/2001 cho hộ ông bà Đặng Thị Tuyết M (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

2. Buộc bà Đặng Thị Tuyết M có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị 1000 cây tầm vông cho ông Từ Chí L số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/6/2022, ông Từ Chí L là bị đơn có đơn kháng cáo, cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét hết các tình tiết khách quan của vụ án, đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa, bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị công nhận cho bị đơn được sử dụng diện tích đất 674,3m2.

Ý kiến của Kiểm sát viên đai diên Viên Kiêm sat nhân dân tinh Binh Dương: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bà Đặng Thị Tuyết M (sau đây viết là nguyên đơn) khởi kiện ông Từ Chí L (sau đây viết là bị đơn) yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất 674,3m2 thuộc một phần thửa đất số 197, tờ bản đồ số 21, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 10/5/2001 cho hộ nguyên đơn và nguyên đơn sẽ thanh toán lại giá trị cây tầm vông do bị đơn trồng trên đất.

[2] Bị đơn ông Từ Chí L khai: Phần đất trên bị đơn khai hoang, sử dụng từ năm 1985. Bị đơn trồng cây tầm vông trên đất và sử dụng cho đến nay. Việc UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn trong đó có phần diện tích đất tranh chấp 674,3m2 thì bị đơn không biết, cấp đất không phù hợp pháp luật. Do vậy, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Theo hồ sơ quản lý đất đai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài liệu, chứng cứ đã thu thập và lời trình bày của các đương sự. Thấy rằng: Nguồn gốc đất nguyên đơn sử dụng là khai phá năm 1990. Nguyên đơn đăng ký quyền sử dụng đất ngày 20/11/1999, diện tích 3.256m2 thuộc thửa số 197, tờ bản đồ số 21 có xác nhận của UBND xã MT ngày 17/3/2000 (bút lục 130) và ngày 10/5/2001, hộ nguyên đơn được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích được quyền sử dụng 3.256m2 thuộc thửa 197, tờ bản đồ số 21. Tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ nguyên đơn có thể hiện hướng Tây của thửa đất số 197 tiếp giáp đường đất và hướng Nam thửa 197 tiếp giáp thửa đất số 144 của bị đơn. Nguồn gốc đất bị đơn sử dụng là khai phá 1985. Bị đơn đăng ký quyền sử dụng đất ngày 25/11/1999 diện tích 34.103m2 thuộc thửa 52, tờ bản đồ số 33; thửa số: 144, 141 tờ bản đồ số 21 có xác nhận của UBND xã MT ngày 17/3/2000 (bút lục 132) và ngày 10/5/2001 hộ bị đơn được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 34.103m2 thuộc thửa số 52, tờ bản đồ số 23 và thửa số 141, 144 tờ bản đồ số 21 (bị đơn không đăng ký thửa đất số 197, tờ bản đồ số 21). Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bị đơn thể hiện: Thửa đất số 141 của bị đơn ở vị trí hướng Đông tiếp giáp đường đất rồi mới đến thửa đất số 197 của nguyên đơn (đường đất ngăn cách thửa đất 197 của nguyên đơn với thửa 141 của bị đơn) và cũng phù hợp bản đồ địa chính (bút lục 108), bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất được bị đơn ký xác nhận (bút lục 106, 107). Qua thẩm định và đo đạc thực tế do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D thực hiện tại Bản đồ địa chính ngày 12/5/2021 thì phần đất tranh chấp có diện tích 674,3m2 tọa lạc tại xã MT, thuộc thửa 197 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ nguyên đơn. Bị đơn cho rằng: Diện tích đất 674,3m2 (nằm ở vị trí phía bên kia của con đường đất) là phần đất của bị đơn là không có cơ sở. Khi đăng ký quyền sử dụng đất, bị đơn cũng không đăng ký thửa đất số 197, tờ bản đồ số 21 và UBND cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị đơn cũng không có khiếu nại gì về việc cấp đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ nguyên đơn là hợp pháp, được nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật. Khoản 16, Điều 3 Luật Đất đai quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”. Khoản 1, Điều 26 Luật Đất đai bảo đảm của nhà nước đối với người sử dụng đất: “Bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người sử dụng đất”. Khoản 1 và 10, Điều 12 Luật Đất đai quy định những hành vi bị nghiêm cấm: Lấn chiếm đất đai, cản trở gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Khoản 1, Điều 176 Bộ luật Dân sự về mốc giới ngăn cách các bất động sản: Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng đất của mình. Qua thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì trên phần đất tranh chấp diện tích 674,3m2 bị đơn đã trồng 1.000 cây tầm vông. Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc nguyên đơn thanh toán cho bị đơn 21.000.000 đồng giá trị 1.000 cây tầm vông (21.000 đồng/cây) là phù hợp. Tuy nhiên về cách tuyên án chưa chính xác, cần điều chỉnh lại và giữ nguyên bản án sơ thẩm..

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp. Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm, phúc thẩm và chi phí thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 16, Điều 3; khoản 1 và 10, Điều 12; khoản 1, Điều 26, Điều 166 Luật Đất đai.

- Căn cứ Điều 164 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các Điều: 147, 148, 157, 165, khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều : 26, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo cua ông Từ Chí L. Giữ nguyên Bản án số 51/2022/DS-ST ngày 23/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện D như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Tuyết M đối với ông Từ Chí L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Buộc ông Từ Chí L trả lại cho bà Đặng Thị Tuyết M diện tích đất 674,3m2 thuộc thửa 197, tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại xã MT, huyện D, tỉnh Bình Dương (diện tích đất 674,3m2 được ký hiệu phần A trên bản đồ địa chính ngày 12/5/2021 kèm theo bản án). Sau khi bà M thanh toán 21.000.000 đồng cho ông L thì bà M được quyền sở hữu 1.000 cây tầm vông của ông L và cây trồng khác trên diện tích đất 674,3m2.

2. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm: Chi cục Thi hành án dân sự huyện D hoàn trả lại cho bà Đặng Thị Tuyết M: 750.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0045271 ngày 29/10/2020 và 2.057.250 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006894 ngày 03/11/2021. Ông Từ Chí L phải nộp 11.164.000 đồng.

- Án phí phúc thẩm: Ông Từ Chí L phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007713 ngày 11/7/2022.

- Chi phí thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Ông L nộp 6.606.000 đồng để hoàn trả lại cho bà M.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

84
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 151/2023/DS-PT

Số hiệu:151/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/04/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về