TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 150/2022/DS-ST NGÀY 29/09/2022 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 882/2020/TLST-DS, ngày 20 tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2022/QĐXXST-DS, ngày 08 tháng 9 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 332/2022/QĐST-DS, ngày 19 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1961 (có mặt).
Địa chỉ: số B, tổ A, ấp A, xã T, huyện C, Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Thị Băng G - Văn phòng L5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
2. Bị đơn: Lê Thị T, sinh năm 1951 (có mặt).
Địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện C, Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Văn B, sinh năm 1948 (đã chết ngày 27/7/2022).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn B:
3.1.1. Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1961.
3.1.2. Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1981.
3.1.3. Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1983.
3.1.4. Nguyễn Hữu D, sinh năm 1990.
3.1.5. Nguyễn Phúc D1, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện C, Đồng Tháp.
3.2. Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1981 (vắng mặt).
3.3. Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1983.
3.4. Nguyễn Hữu D, sinh năm 1990 (có mặt).
3.5. Nguyễn Phúc D1, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện C, Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Kim Y, anh Nguyễn Phúc D1: Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1990; Địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 05/3/2021) (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị Kim Y, anh Nguyễn Hữu D, anh Nguyễn Phúc D1: Luật sư Võ Thị Băng G - Văn phòng L5 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).
3.6. Võ Minh P, sinh năm 1969.
3.7. Võ Nhật L1, sinh năm 2002.
3.8. Võ Minh N, sinh năm 2002.
Cùng địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện C, Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông Võ Minh P, anh Võ Nhật L1, anh Võ Minh N: Bà Lê Thị T, sinh năm 1951; Địa chỉ: tổ A, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 05/01/2021).
3.9. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: số F, đường C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của UBND huyện C: Ông Lê Chí T1 - Chức vụ: Chủ tịch, là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện và Đơn khởi kiện bổ sung cùng ngày 10/6/2020, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim L là nguyên đơn trình bày:
Bà L xác định tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Lê Thị T trong phạm vi các mốc M1, M2, M6, MI5 về mốc MI theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 15/10/2021, phần đất này thuộc thửa 983, tờ bản đồ số 4, diện tích đo đạc thực tế 495,7m2, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguồn gốc đất là do vợ chồng bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Huỳnh Văn Ú, bà Nguyễn Thị B1 vào năm 1995, loại đất lúa, khoảng 7,5 - 08 công tầm lớn với giá 08 chỉ vàng 24K/công, có vị trí phía Tây giáp ông Nguyễn Văn B2, phía Đông giáp ông L2, phía Bắc giáp ông M, phía Nam giáp sông, khi đó đất không có đường đi. Khi chuyển nhượng thì gia đình ông Ú đang làm ruộng. Cũng trong năm 1995, ông Nguyễn Văn B là chồng bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích 11.406m2, gồm 02 thửa:
- Thửa 83, tờ bản đồ số 1, diện tích 8.806m2, loại đất lúa.
- Thửa 84, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.600m2, loại đất CDK.
Khi chuyển nhượng thì bà B1ết vợ chồng ông Ú, bà B1 cho gia đình bà T cất một cái nhà tạm ở bò sông. Sau khi chuyển nhượng thì bà L vẫn tiếp tục cho bà T ở nhờ nhưng không có nói gì với bà T.
Năm 2002, ông Ú, bà B1 tranh chấp quyền sử dụng đất với bà T mặc dù không còn phần đất nào tại đó. Kết quả giải quyết UBND huyện C công nhận cho bà T được sử dụng diện tích 626,5m2 theo Quyết định số 89/QĐ-UB ngày 17/01/2002. Việc tranh chấp này thì gia đình bà L không biết.
Ngày 15/8/2007, ông B được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ lưới, sau khi trừ đất bờ sông bị lở 154m2 thì thửa 83, 84 được cấp đổi thành 02 thửa như sau:
- Thửa 983, tờ bản đồ số 4, diện tích 598m2.
- Thửa 956, tờ bản đồ số 4, diện tích 10.654m2.
Ngày 08/10/2008, ông B và các con ký tên chuyển cho cá nhân bà L được đứng tên 02 thửa đất 983 và 956 nhưng UBND huyện C lại cấp giấy cho hộ của bà L nhưng bà không khiếu nại.
Đối với bà T, sau nhiều lần nạo vét bờ sông và làm đường, nhà bà T di dời dần lên và chiếm đất của gia đình bà, cụ thể: Năm 1995, bà T đã cất nhà tạm ở mé sông; Năm 1998, do đất mé sông bị lỡ nên bà T cất lại nhà vách lá, cách nhà hiện nay khoảng 10m. Khi dời nhà lên bà T không hỏi ý kiến của bà L mà tự ý di dời; Năm 2010, bà T cho con trai là Võ Minh p xây dựng nhà kiên cố, bà L không đồng ý nên yêu cầu địa phương giải quyết nhưng không thành. Do gia đình khó khăn, chồng bị bệnh hiểm nghèo, không có điều kiện tiếp tục tranh chấp nên ông P đã xây dựng nhà kiên cố ở đến nay.
Đối với phần đất trong phạm vi các mốc M2, M17, M16 về mốc M2 hiện nay có một phần nhà của chị Y và các cây do chị Y trồng, bà L xác định phần này thuộc một phần thửa 956, tờ bản đồ số 4. Bà T không có sử dụng trong phần đất này nên bà L không có tranh chấp với bà T.
Nay, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà T, ông P, anh Võ Nhật L1, anh Võ Minh N phải di dời nhà, cây trồng, kiến trúc có trên đất đề trả cho bà diện tích đo đạc thực tế 495,7m2, thuộc thửa 983, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do hộ bà L đứng tên.
- Hủy Quyết định số 89/QĐ-UB, ngày 17/01/2002 của UBND huyện C vì quyền sử dụng đất bà đã được cấp năm 1995 hợp pháp.
Tại Đơn yêu cầu phản tố ngày 21/5/2021, bà Lê Thị T là bị đơn và là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Minh P, Võ Nhật L1, Võ Minh N trình bày:
Ông Huỳnh Văn Ú và bà Nguyễn Thị B1 có phần đất thổ cư gắn liền đất lúa tọa lạc tại tổ A, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, khoảng 08 - 09 công tầm lớn, phần thổ cư không rõ diện tích.
Năm 1984, do đất tranh chấp với người khác nên con của ông Ú là anh Huỳnh Văn L3 kêu bà T về sống để giữ đất giùm. Năm 1985, ông Ú và bà B1 bán toàn bộ phần thổ cư cho bà, khi mua không xác định diện tích nhưng hiện trạng không thay đổi. Sau khi mua đất thì bà T đào mương xung quanh phần đất của mình và trồng gáo, đến khi UBND huyện C đo cấp đất thì bà T mới biết diện tích là 626,5m2. Hiện nay mương xung quanh đã bị san lấp, hàng gáo ranh không còn đủ.
Đối với phần đất lúa thì ông Ú và bà B1 canh tác. Sau đó ông bà đã bán cho vợ chồng bà L, ông B. Năm 2001 là sau 17 năm bán đất thổ cư cho bà T, thì ông Ú, bà B1 làm đơn kiện đòi lại. Vụ việc được ông Nguyễn Văn B3 địa chính xã T và địa chính huyện C đến đo đạc để giải quyết. Ồng B và ông Nguyễn Văn B2 là người giáp ranh đất đều có ký tên trong biên bản đo đạc năm 2001. Đến năm 2010 thì bà T mới nhận được Quyết định số 89/QĐ-UB đề ngày 17/01/2002 của UBND huyện C giải quyết công nhận cho bà được sử dụng diện tích 626,5m2.
Tháng 10/2010, UBND xã T và cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C tổ chức thi hành Quyết định 89 nhưng ông B là người giáp ranh đất có tranh chấp nên không giao đất được.
Căn nhà trên đất tranh chấp hiện nay là của con bà tên Võ Minh p ở cùng với cháu nội là Võ Nhật L1, Võ Minh N, là nhà tình thương do chính quyền cất tặng vào năm 2010 cho ông P. Bà L biết nhưng cũng không tranh chấp hay có ý kiến gì về việc cất nhà.
Nay bà T không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà L. Bà yêu cầu công nhận cho bà được sử dụng phần đất có diện tích đo đạc thực tế 613,8m2 trong phạm vi các mốc M1, M2, M17, M16, M15 về mốc M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 15/10/2021, thuộc thửa 983 và một phần thửa 956, cùng tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 983 và một phần thửa 956 đã cấp cho hộ bà L đối với diện tích nêu trên.
Đối với căn nhà trên đất hiện nay do con cháu bà đang ở thì trường hợp giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà L, anh p và các con đồng ý di dời nhà trả lại đất, trường hợp giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà T thì sẽ tự thỏa thuận về việc sử dụng đất, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, anh Nguyễn Hữu D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Kim Y, anh Nguyễn Phúc D1 trình bày:
Anh D1 thống nhất với lời trình bày của bà L. Anh xác định hiện phần đất đang tranh chấp là gia đình anh đã thống nhất chuyền cho cá nhân bà L được toàn quyền quyết định, UBND huyện Cấp cho hộ là chưa đúng với ý chí của gia đình nhưng không ai có khiếu nại gì.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Về nguồn gốc đất là do vợ chồng bà L nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Ú, bà B1 từ năm 1995. Thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 1995 và cấp đổi năm 2007 là đúng trình tự, thủ tục, các thành viên trong hộ đều trực tiếp sử dụng đất.
Việc UBND huyện C ban hành Quyết định số 89/QĐ-UB, ngày 17/02/2002, công nhận cho bà T được sử dụng diện tích 626,5m2 là không phù hợp vì trùng với thửa đất 983 đã cấp cho ông B từ năm 1995. Tại Công văn số 1039/UBND-TNMT, ngày 19/7/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C đã trả lời không xác định được diện tích đất công nhận cho bà T theo Quyết định 89 do diện tích đất bị ảnh hưởng. Đến Công văn 471/UBND-TNMT, ngày 06/4/2022, Ủy ban nhân dân lại xác định trong phạm vi đất tranh chấp có một phần của diện tích 626,5m2, như vậy là chưa làm rõ.
Từ những nội dung trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đầy đủ và đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các lời khai của đương sự tại phiên tòa, áp dụng quy định tại Điều 166, 203 Luật đất đai năm 2013, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (Theo nội dung phát biểu tại phiên tòa ngày 29/9/2022).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng:
[1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp là về quyền sử dụng đất, đất tranh chấp tại xã T, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1, Điều 203 Luật đất đai 2013.
[2] Chị Nguyễn Thị Kim H và người đại diện hợp pháp của UBND huyện C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim L là nguyên đơn trình bày ông Nguyễn Văn B, chồng bà L, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đã chết vào ngày 27/7/2022. Hàng thừa kế thứ nhất của ông B được các đương sự xác định gồm có vợ là bà L và các con Nguyễn Thị Kim H, Nguyễn Thị Kim Y, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Phúc D1. Như vậy, theo quy định tại Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự, bà L, chị H, chị Y, anh Hữu D và anh Phúc D1 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B trong vụ án. Tại phiên tòa, đương sự có mặt, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lănh đề nghị đưa bà L, chị H, chị Y, anh Hữu D và anh Phúc D1 đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B và tiếp tục xét xử, không Phải tạm ngừng phiên tòa, đương sự cam kết không có ý kiến, không khiếu nại gì về việc này. Tại phiên tòa, các đương sự cũng xác định nếu phải tạm ngừng phiên tòa đề đưa người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B tham gia trong khi họ đã là đương sự trong vụ án sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án mà không cần thiết. Hội đồng xét xử xét thấy, bà L, chị H, chị Y, anh Hữu D và anh Phúc D1 đã được tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đã được đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định pháp luật. Trường hợp tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa họ tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông B và tiếp tục xét xử cũng không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thực hiện và tiếp tục xét xử.
Về nội dung:
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim L về việc:
- Yêu cầu bà Lê Thị T, ông Võ Minh P, anh Võ Nhật L1, anh Võ Minh N phải di dời nhà, cây trồng, kiến trúc có trên đất để trả cho bà L diện tích đo đạc thực tế 495,7m2, trong phạm vi các mốc M1, M2, M6, M15 về mốc M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 15/10/2021, thuộc thửa 983, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do hộ bà L đứng tên.
- Hủy Quyết định số 89/QĐ-UB, ngày 17/01/2002 của UBND huyện C v/v giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B1 với Lê Thị T.
[5] Xét yêu cầu phản tố của nguyên đơn Lê Thị T về việc:
- Yêu cầu công nhận cho bà T được sử dụng phần đất có diện tích đo đạc thực tế 613,8m2 trong phạm vi các mốc M1, M2, M17, M16, M15 về mốc M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 15/10/2021, thuộc thửa 983 và một phần thửa 956, cùng tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, do hộ bà L đứng tên.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 983 và một phần thửa 956 đã cấp cho hộ bà L đối với diện tích nêu trên.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[6] Phần đất mà bà L tranh chấp có diện tích 495,7m2, trong phạm vi các mốc M1, M2, M6, M15 về mốc M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 15/10/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Bà L xác định phần đất này thuộc thửa 983, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Thửa đất 983 hiện do hộ bà L đứng tên, bà đang quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không cầm cố hay thế chấp cho cá nhân, tổ chức nào. Trên đất hiện có căn nhà của ông P, 01 ngôi mộ do ông P xây cất và các loại cây do bà T và ông P trồng theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 19/01/2021. Khi xem xét, thẩm định tại chỗ có ghi nhận trên đất có một chuồng heo do ông P xây dựng nhưng nay đã hư hỏng nặng, không sử dụng được nên ông P phá bỏ. Ngoài ra không còn tài sản, kiến trúc nào khác cũng như không có tài sản, kiến trúc của hộ bà L.
[7] Phần đất mà bà T tranh chấp bao gồm phần đất mà bà L tranh chấp nêu trên và diện tích 118,1m2 trong phạm vi các mốc M2, M17, M16 về mốc M2 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 15/10/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Bà L và bà T thống nhất diện tích 118,1m2 này là thuộc một phần thửa 956, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Thửa đất 956 do hộ bà L đứng tên, bà đang quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không cầm cố hay thế chấp cho cá nhân, tổ chức nào. Trên phần đất này có một phần nhà bếp của chị Nguyễn Thị Kim Y và 01 cây dừa do bà T trồng từ năm 1986 đang cho trái, ngoài ra không còn tài sản, kiến trúc nào khác.
[8] Về nguồn gốc các phần đất tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất là của vợ chồng ông Huỳnh Văn Ú, bà Nguyễn Thị B1. Bà T trình bày năm 1985, ông Ú và bà B1 đã chuyển nhượng cho bà, khi chuyển nhượng không xác định diện tích. Bà L trình bày năm 1995, ông Ú và bà B1 chuyển nhượng cho vợ chồng bà diện tích đất có xác định tứ cận.
[9] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Năm 1985, ông Ú cho bà T, là bà con bạn dì ruột với con dâu, về ở đất tranh chấp. Khoảng một năm sau thì bà T đưa cho ông Ú 3.000 đồng. Năm 1996, là sau khi làm giấy tay bán đất cho bà L, ông Ú bị bệnh có sai con đến nhà bà T đòi thêm 02 chỉ vàng sẽ làm giấy tờ cho bà T được quyền sử dụng đất nhưng bà T không đồng ý, cho rằng lúc trước bà đưa 3.000 đồng là đã mua đất rồi. Nội dung trên phù hợp với lời khai của con dâu ông Ú là bà Nguyễn Tuyết L4 tại Biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 29/6/2021 của Tòa án. Bên cạnh đó, tại giấy tay mua bán đất mà bà L4 xuất trình trong phiên tòa đề làm căn cứ là Tờ mua bán đất ngày 05/6/1995 (bản chính), có nội dung xác định vị trí đất chuyển nhượng là “Ranh từ 5 Long chạy lên tới mương vô nước chỗ nhà cô T tôi còn một phần bờ sáng cô 6 Thuần ở đuổi chưa đi chưa bán được”. Nội dung tờ mua bán đất này đã thể hiện năm 1995, ông Ú chuyển nhượng cho vợ chồng ông B 02 phần đất, phần đất ruộng chuyển nhượng giá 08 chỉ vàng 24K/công, đất bờ xáng chuyển nhượng giá 10 chỉ vàng 24K/công. Riêng phần đất bờ xáng không chuyển nhượng hết mà chừa lại do có căn nhà của bà T đang ở. Như vậy, việc bà L4 trình bày bà chuyển nhượng toàn bộ đất của ông Ú, bà T chỉ cất nhà ở mé sông, không còn sử dụng phần đất nào khác là chưa phù hợp với chứng cứ mà bà đã xuất trình. Ngoài ra, nội dung tờ bán đất trên cũng xác định bà T đã cất nhà ở từ trước khi vợ chồng bà L4 nhận chuyển nhượng.
[10] Năm 1995, Ông B kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu với tổng diện tích 11.406m2, gồm 02 thửa 83, diện tích 8.806m2, loại đất lúa và thửa 84, diện tích 2.600m2, loại đất CDK, cùng tờ bản đồ số 1. Căn cứ Công văn số 1039/UBND-TNMT, ngày 19/7/2021 của UBND huyện C cung cấp thông tin cho Tòa án xác nhận khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B không đo đạc thực tế, hộ ông B trực tiếp sử dụng đất. Việc xác định như trên là chưa đầy đủ bởi lẽ, căn cứ vào tờ mua bán đất do nguyên đơn xuất trình, căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ khác đã có cơ sở khẳng định ngoài hộ ông B thì bà T có sử dụng đất từ năm 1985 đến nay.
[11] Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, bà L4 cho rằng ông Ú, bà B1 đã chuyển nhượng toàn bộ đất, không còn phần đất nào là chưa đúng như đã phân tích. Thực tế, do vẫn còn chừa lại một phần bờ xáng mà bà T đang ở, không có chuyển nhượng cho ông B nên năm 2001, bà B1 tranh chấp quyền sử dụng đất với bà T để đòi lại. Kết quả giải quyết theo nội dung Quyết định số 89/QĐ-UB ngày 17/01/2002, UBND huyện C xác minh được kết quả năm 1985, ông Ú và bà B1 đã chuyển nhượng (giấy tay) cho bà T với giá 3.000 đồng, công nhận cho bà T được sử dụng diện tích 626,5m2, có nêu tứ cận, trong đó có 02 cạnh giáp với đất của ông B. Sau đó thì không ai khiếu nại tiếp đối với quyết định này.
[12] Ngày 15/8/2007, ông B được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính chính quy, sau khi trừ đất bờ sông bị lở 154m2 thì thửa 83, 84 đã cấp năm 1995 được cấp đổi thành 02 thửa 983 và 956, cùng tờ bản đồ số 4. Ngày 08/10/2008, ông B và các con cùng ký tên chuyền cho cá nhân bà L4 hai thửa 983 và 956, UBND huyện C lại cấp giấy cho hộ bà L4 nhưng trong hộ cũng không ai khiếu nại việc cấp cho cá nhân thay vì cấp cho hộ.
[13] Ngày 11/10/2010, chính quyền địa phương tiến hành giao đất cho bà T theo Quyết định số 89. Tại Biên bản v/v giao đất tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B1 vào ngày 11/10/2010, ông Bên lúc này đại diện hộ tham gia với tư cách là người giáp ranh, có chứng kiến việc chính quyền địa phương giao đất cho bà T, thống nhất ranh 01 cạnh (nay là cạnh phía Đông của phần đất tranh chấp), không thống nhất ranh tại cạnh phía Bắc. Như vậy, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, bà L4 cho rằng không biết gì về nội dung tranh chấp giữa bà B1 và bà T là cũng không đúng. Thời điểm này, hộ bà L4 biết và có chứng kiến việc giao đất nhưng chỉ không thống nhất ranh với 01 cạnh phía Bắc giáp đất bà L4, chứ không tranh chấp gì về việc phần đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L4 nhưng lại công nhận cho bà T. Do có việc tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất nên ngày 11/10/2010 đã không tiến hành giao đất được. Sau đó thì theo nội dung Công văn số 1039/UBND-TNMT ngày 19/7/2021 cho biết cạnh giáp sông bị sạt lở, không xác định được diện tích nên cũng không thi hành việc giao đất cho đến nay.
[14] Vụ việc kéo dài đến ngày 16/01/2018, bà L4 đã khởi kiện bà T về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất. Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã giải quyết theo hồ sơ thụ lý số 58/2018/TLST-DS. Ngày 13/3/2018, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Tại buổi thẩm định, bà L4 là nguyên đơn có mặt, tự xác định ranh trong đó chỉ rõ tứ cận của thửa 956, có cạnh phía Nam giáp lộ đá, đất bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn B2, ông Huỳnh Văn V. Đối với kiến trúc trên đất thì nêu ra có một phần nhà của ông Nguyễn Minh P1. Qua đó cho thấy lúc này bà L4 vẫn thừa nhận giáp ranh đất của bà tại thửa 956, 983 có phần đất của bà T, trong phạm vi tranh chấp thì chỉ có một phần nhà của ông P1 chứ không phải toàn bộ căn nhà, đồng thời xác định tại đây bà T có đất chứ không Phải không có phần đất nào như trình bày hiện nay. Kết quả giải quyết bà L4 rút đơn khởi kiện nên Tòa án đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 90/2018/QĐST-DS vào ngày 16/3/2018.
[15] Qua diễn biến nêu trên, có căn cứ xác định năm 1995, ông Ú bà B1 không chuyển nhượng phần đất bà T đang sử dụng cho ông B và bà L4 mà phần đất này trước đó đã chuyển nhượng cho bà T. Năm 2002, UBND huyện C giải quyết cho bà T tiếp tục sử dụng đất tranh chấp là phù hợp, có căn cứ. Hộ ông B, trong đó có bà L4, biết nhưng không có ý kiến mà chỉ tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất. Do đó, nay bà L4 khởi kiện yêu cầu bà T di dời nhà, trả đất là không có căn cứ mà có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T về việc được công nhận quyền sử dụng đất.
[16] Về việc xác định vị trí, diện tích đất tranh chấp: Quá trình xác minh, giải quyết yêu cầu của bà B1, UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 89/QĐ- UB ngày 17/01/2002, công nhận cho bà T được sử dụng diện tích 626,5m2 theo hiện trạng thực tế, nhưng không nêu rõ thuộc thửa đất nào. Năm 2010, Ủy ban nhân dân xã K cơ quan có thẩm quyền tiến hành giao đất cho bà T nhưng có tranh chấp ranh và có thay đổi diện tích so với trước nên đến nay không thi hành được. Nay bà T xác định bà nhận chuyển nhượng diện tích đất trong phạm vi các mốc M1, M2, M17, M15 về mốc M1 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 15/10/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, được công nhận theo Quyết định 89 và sử dụng từ năm 1985 đến nay. Trên đất có nhà, mộ, cây trồng của bà T và ông P1. Tại Công văn số 1039/UBND-TNMT, ngày 19/7/2021 và Công văn số 471/UBND-TNMT, ngày 06/4/2022, UBND huyện C đã đối chiếu diện tích 626,5m2 theo Quyết định số 89 có cùng vị trí với thửa đất 983 đã cấp cho hộ ông B, nay là hộ bà L4, đồng thời cũng xác định có một phần trong tổng diện tích 626,5m2 nằm trong phạm vi các mốc M1, M2, M17, M15 về mốc M1 (có diện tích 613,8m2) mà bà T yêu cầu. Qua nội dung các công văn nêu trên và qua sự xác định của đương sự, có căn cứ cho thấy phần đất tranh chấp hiện nay đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà L4 thuộc thửa 983 và một phần thửa 956, cùng tờ bản đồ số 4. Đối với phần đất tranh chấp này thì năm 2002, UBND huyện C giải quyết công nhận cho bà T được sử dụng. Tuy nhiên hiện nay đương sự xác định về tứ cận, hiện trạng và diện tích đều có thay đổi so với năm 2002. Đối Quyết định 89 đến nay cũng không thi hành được. Do đó, nay bà T yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất theo đo đạc thực tế đang tranh chấp là 613,8m2 là phù hợp và cũng không thuộc trường hợp vụ việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật.
[17] Trường hợp giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà T như đã phân tích trên thì trên đất có một phần nhà bếp của chị Nguyễn Thị Kim Y có diện tích 8,9m2, được mô tả là nhà lắp ráp (tiền chế) nên phải di dời để trả đất cho bà T. Ngoài ra, bà T cũng có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà L4 tại phần đất tranh chấp. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy hộ bà L4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do nhận tặng cho từ hộ ông B, nghĩa là được thực hiện thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt. Cho nên, khi giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà T thì chỉ cần điều chỉnh biến động theo quy định tại khoản 3, Điều 105 Luật đất đai năm 2013 mà không Phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L4.
[18] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy chỉ có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[19] Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ như đã phân tích. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ như đã phân tích.
[20] Về án phí:
Bà L4 là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 và trả lại cho bà L4 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Do Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà T buộc chị Nguyễn Thị Kim Y di dời nhà nên chị Y phải nộp tiền tạm ứng án phí có giá ngạch là 300.000 đồng.
[21] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc:
Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên bà L4 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc tổng cộng là 9.070.580 đồng theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, bà L4 đã nộp và chi xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 26, 35, 39, 147, 157, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 105, 166, 203 Luật đất đai năm 2013;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim L về việc:
1.1. Yêu cầu bà Lê Thị T, ông Võ Minh P, anh Võ Nhật L1, anh Võ Minh N phải di dời nhà, cây trồng, kiến trúc có trên đất để trả cho bà Nguyễn Thị Kim L diện tích đo đạc thực tế 495,7m2 thuộc thửa 983, tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
1.2. Hủy Quyết định số 89/QĐ-UB, ngày 17/01/2002 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị B1 với Lê Thị T.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T:
2.1. Bà Lê Thị T được sử dụng diện tích theo đo đạc thực tế 613,8m2 trong phạm vi các mốc M1, M2, M17, M16, M15 về mốc M1, Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 15/10/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thuộc thửa 983 và một phần thửa 956, cùng tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, có vị trí như sau:
- Phía Bắc giáp phần còn lại của thửa 956 nối từ mốc M2 đến mốc M17 có chiều dài 37,64m;
- Phía Nam giáp lộ đá nối từ mốc M1 đến mốc M15 có chiều dài 38,13m;
- Phía Tây giáp thửa 984 nối từ mốc M1 đến mốc M2 có chiều dài 15,75m;
- Phía Đông giáp phần còn lại của thửa 956 nối từ mốc M17, M16 đến M15 có chiều dài tổng cộng 16,15m.
2.2. Buộc chị Nguyễn Thị Kim Y di dời một phần nhà bếp có kết cấu vách tol, mái lợp tol sóng vuông, nền lót gạch men, khung sắt, nhà lắp ráp có diện tích 8,9m2 để trả lại đất cho bà Lê Thị T.
2.3. Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 259104, số vào sổ H00917, ngày 15/8/2007 (điều chỉnh cấp lại cho hộ bà Nguyễn Thị Kim L vào ngày 08/10/2008) và thu hồi một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 259105, số vào sổ H00918, ngày 15/8/2007 (điều chỉnh cấp lại cho hộ bà Nguyễn Thị Kim L vào ngày 08/10/2008) đối với diện tích 118,1m2 đề cấp lại cho bà Lê Thị T với diện tích theo đo đạc thực tế tổng cộng là 613,8m2 tại vị trí mà bản án đã tuyên.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai đề làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất theo bản án đã tuyên.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004378, ngày 19/11/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.
- Chị Nguyễn Thị Kim Y phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
4. Về chi phí tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 9.070.580 đồng (Chín triệu bảy mươi nghìn năm trăm tám mươi đồng), bà Nguyễn Thị Kim L đã nộp và chi xong.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 150/2022/DS-ST
| Số hiệu: | 150/2022/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 29/09/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về