Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 141/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 141/2024/DS-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Vào ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2024/TLST- DS ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1955; cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Bà Huỳnh Thị Mỹ D1, sinh năm 1997; hộ khẩu thường trú: Tổ H, khu phố A, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định hoặc ông Nguyễn Hữu Mạnh C, sinh năm 2000; hộ khẩu thường trú: Số C, T, D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, theo Giấy ủy quyền công chứng số 559, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/02/2024 tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1960; địa chỉ: Áp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

3. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trịnh Văn H1 - Luật sư thuộc Công ty L1.

Đại diện nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ D1, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Trịnh Văn H1 có mặt tại phiên tòa. Bị đơn bà Phạm Thị L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện; đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (bà D1) trình bày:

Tại đơn khởi kiện ngày 29/12/2023 và buổi làm việc tại Tòa án ngày 26/3/2024 thể hiện hàng rào giữa thửa đất số 19 của nguyên đơn và thửa đất số 18 của bị đơn được nguyên đơn xây dựng vào cuối tháng 02/2023, chỉ xây dựng lại trên các trụ rào cũ, hoàn toàn không làm thay đổi hiện trạng của các trụ ranh giới trước đây. Bị đơn bà L hoàn toàn không ngăn cản hay tranh chấp gì về việc nguyên đơn rào lại ranh thửa đất số 19. Nhưng khoảng cuối năm 2023, bà L lại tự ý nhổ trụ bê tông phá hàng rào của nguyên đơn và cố tình tháo dỡ, xô ngã, phá bỏ trụ bê tông và dây hàng rào kẽm gai mà nguyên đơn đã xây dựng. Khi bà L nhiều lần lén lút cổ ý thực hiện việc phá hoại hàng rào bằng trụ bê tông của nguyên đơn, thì bị nguyên đơn phát hiện, nguyên đơn đã cắm bà L tiếp tục phá hoại trụ bê tông của nguyên đơn, nhưng bà L vẫn cố tình tiếp tục phá hoại hàng rào trụ bê tông. Nguyên đơn đã chụp lại những hình ảnh về việc bà L phá hoại hàng rào trụ bê tông nêu trên và cung cấp cho Tòa án kèm theo đơn khởi kiện vào ngày 29/12/2024. Điều này đã chứng minh rằng, bản thân bị đơn đã thừa nhận cố ý xô ngã, tháo dỡ, phá bỏ hàng rào tranh chấp, làm thiệt hại tài sản của nguyên đơn.

Việc nguyên đơn xây dựng lại hàng rào dựa trên các ranh giới cũ là hoàn toàn đúng pháp luật, hoàn toàn không bị phía bà L ngăn cản. Tuy nhiên, bà L lại lén lút, liên tục thực hiện, cố tình tiếp tục phá hoại hàng rào trụ bê tông của nguyên đơn, mặc dù nguyên đơn đã cắm, buộc bà L chấm dứt ngay. Điều này khiến cho nguyên đơn phải liên tục suy nghĩ dài ngày về những việc làm ngang ngược, coi thường pháp luật, đứng trên luật, coi thường chính quyền, coi thường người dân của bà L. Việc làm của bà L đã làm cho nguyên đơn buồn phiền, mệt mỏi, dẫn đến sức khỏe và tinh thần bị giảm sút. Đặc biệt, khi phía bị đơn lập bản vẽ mới đối với phần đất giáp ranh với phần đất của nguyên đơn để chia thừa kế cho các con, nguyên đơn đã ký hồ sơ giáp ranh để bị đơn và các con bị đơn thực hiện được việc chia đất thừa kế. Tuy nhiên, vì chính các con của của bị đơn không thỏa thuận được với nhau, nên việc chia thừa kế đất của phía bị đơn mới chưa được thực hiện xong. Nên việc bị đơn cho rằng “Bị đơn phải chịu nhiều áp lực từ gia đình của nguyên đơn” là hoàn toàn trái sự thật.

Theo biên bản xem xét, thẩm định ngày 12/7/2024 thì các bên đã thống nhất thỏa thuận giải quyết vụ việc nên nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện như sau: Tại đơn khởi kiện để ngày 28/12/2023 với nội dung: “Buộc bà Phạm Thị L trả lại cho vợ chồng nguyên đơn phần đất có diện tích khoảng 56,70 m² (ngang 0,7 m x dài 81,01 m) thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 44, tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận số CH02256 mà bà Phạm Thị L đã cổ ý lấn chiếm của nguyên đơn. Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với nội dung nêu trên.

Nguyên đơn yêu cầu buộc bà Phạm Thị L phải bồi thường cho nguyên đơn giá trị hàng rào ranh đất đã làm là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), gồm: Giá trị của 25 trụ bê tông trụ rào là 100.000 đồng /trụ x 25 trụ = 2.500.000 đồng; Giá trị dây kẽm gai làm hàng rào là 500.000 đồng và tiền công làm hàng rào là 2.000.000 đồng. Theo kết quả định giá ngày 24/7/2024, nguyên đơn thay đổi yêu cầu như sau: Buộc bà Phạm Thị L phải bồi thường cho nguyên đơn giá trị hàng rào ranh đất đã làm là 3.764.000 đồng, gồm: Giá trị hàng rào là 1.764.000 đồng và tiền công làm hàng rào là: 2.000.000 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bà Phạm Thị L phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho nguyên đơn với số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bà L bồi thường là 53.764.000 đồng.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn (ông H1) trình bày: Ông H1 thống nhất với ý kiến của bà D1, không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa, bị đơn (bà L) trình bày: Bị đơn được Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên không ghi nhận ý kiến trình bày tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải và mở phiên tòa đúng quy định. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ D1, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Trịnh Văn H1 có mặt tại phiên tòa, bị đơn bà Phạm Thị L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bồi thường giá trị tài sản. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần là không có căn cứ chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Từ những tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Các đương sự tranh chấp về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà L và quyền sử dụng đất có địa chỉ tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

[2] Bị đơn bà L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 56,70 m² (ngang 0,7 m x dài 81,01 m) thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 44, tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; không tranh chấp với với số tiền 1.236.000 đồng (số tiền chênh lệch giữa đơn khởi kiện 5.000.000 đồng và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn 3.764.000 đồng). Căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản là giá trị hàng rào ranh đất, tiền công làm hàng rào 3.764.000 đồng và bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi làm triệu đồng) của nguyên đơn.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Nguyên đơn ông H, bà D1 là khởi kiện yêu cầu bà L phải trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích 56,70 m² (ngang 0,7 m x dài 81,01 m) thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 44, tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 263943, vào số CH 02256/OSDD do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 17/4/2015 cho ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị D. Tại buổi đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp ngày 12/7/2024 cho thấy: Phần đất tranh chấp có chiều ngang 0,72 m nằm tại phần đất giáp ranh giữa thửa đất số 19 của nguyên đơn, thửa đất số 18 của bị đơn và đất của ông Nguyễn Long Đ. Các bên thống nhất cắm lại ranh đất như sau: Chia thành hai phần, phần của nguyên đơn là 0,45 m (45 cm), phần của bị đơn là 0,27 m (27 cm), tính từ trụ xi măng cũ do nguyên đơn làm nhưng bị bị đơn nhổ bỏ, chỉ thay đổi vị trí một trụ xi măng này, phần hàng rào do nguyên đơn đã làm thì giữ nguyên toàn bộ. Nguyên đơn và bị đơn thống nhất, cùng đồng ý cắm lại trụ hàng rào đúng vị trí đã thỏa thuận. Ngày 15/7/2024, nguyên đơn có đơn xin rút yêu cầu về tranh chấp quyền sử dụng đất trên, việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, bị đơn bà L không có ý kiến nên Hội đồng xét xử đình chỉ, không tiếp tục xem xét giải quyết.

[4.2] Nguyên đơn yêu cầu bà L bồi thường cho ông H, bà D giá trị hàng rào ranh đất có diện tích 31,5 m², kết cấu gồm 07 trụ bê tông, giăng 03 dây kẽm gai đã bị nhổ bỏ là 3.764.000 đồng, gồm: Giá trị hàng rào là 1.764.000 đồng và tiền công làm hàng rào là 2.000.000 đồng. Xét thấy, theo các hình ảnh mà nguyên đơn giao nộp và tại các Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp thể hiện có một đoạn hàng rào có diện tích 31,5 m², kết cấu gồm 07 trụ bê tông, giăng 03 dây kẽm gai đã bị đạp gãy, đỗ xuống đất. Các chứng cứ này chứng minh việc xảy ra thiệt hại tài sản hàng rào như nguyên đơn trình bày là có thật. Mặc dù bị đơn không đồng ý bồi thường, không thừa nhận là người phá, đạp đổ hàng rào nhưng tại Biên bản hòa giải ngày 06/12/2023 của UBND xã T, huyện D bị đơn thừa nhận là người nhổ, phá bỏ hàng rào do khi nguyên đơn làm hàng rào không thông báo cho gia đình bị đơn biết và rào lấn sang đất của bị đơn. Tuy nhiên, khi đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp, cho thấy phần đất tranh chấp có chiều ngang 0,72 m nằm tại phần đất giáp ranh giữa thửa đất số 19 của nguyên đơn và thửa đất số 18 của bị đơn và đất của ông Nguyễn Long Đ, các bên thống nhất thỏa thuận: Chia thành hai phần, phần của nguyên đơn là 0,45 m (45 cm), phần của bị đơn là 0,27 m (27 cm), tính từ trụ xi măng cũ do nguyên đơn làm nhưng đã bị bị đơn nhổ bỏ, chỉ thay đổi vị trí một trụ xi măng này, phần hàng rào do nguyên đơn đã làm thì giữ nguyên toàn bộ. Như vậy, nguyên đơn có lỗi do khi làm hàng rào mà chưa thống nhất ranh đất trước với bị đơn, không yêu cầu phía bị đơn cùng xác định ranh đất; bị đơn có lỗi nhổ bỏ hàng rào của nguyên đơn khi chưa xác định được ai lấn đất của ai. Hiện nay các bên đương sự đã thống nhất thỏa thuận tự làm lại hàng rào theo ranh thỏa thuận, nguyên đơn đã rút yêu cầu về tranh chấp quyền sử dụng đất. Hai bên đương sự đều có lỗi để xảy ra tranh chấp. Theo Biên bản định giá ngày 24/7/2024, hàng rào có diện tích 31,5 m², kết cấu gồm 07 trụ bê tông, giăng 03 dây kẽm gai có giá trị là 1.764.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại giá trị hàng rào theo giá của Hội đồng định định giá là 1.764.000 đồng và yêu cầu bị đơn bồi thường tiền công làm hàng rào là 2.000.000 đồng. Yêu cầu bồi thường tiền công làm hàng rào là chi phí hợp lý. Vì vậy, yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản của nguyên đơn là có căn cứ và đúng với quy định tại các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 6 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[4.3] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường tổn thất về sức khỏe, tinh thần với số tiền 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn nhưng không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Yêu cầu của nguyên đơn là chưa phù hợp với quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[5] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), chi phí định giá tài sản tranh chấp là 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng), tổng chi phí tố tụng là 2.700.000 đồng. Nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu 1/2 chi phí tố tụng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền trên nên bị đơn phải nộp để trả lại nguyên đơn số tiền 1.350.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng).

[6] Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần của nguyên đơn không được chấp nhận nhưng thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 12, Điều 24, Điều 26 và theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 và Điều 12, 14, 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn bà L phải chịu án phí 300.000 đồng đối với yêu cầu “bồi thường thiệt hại tài sản” của nguyên đơn được chấp nhận. Bà L thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 và Điều 12, 14, 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 nhưng do không làm đơn yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, không miễn tiền án phí cho bị đơn.

[7] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về phần các thủ tục tố tụng, diễn biến tại phiên tòa và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Các Điều 26, 28, 39, 42, 147, 177, 227, 228, 235, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 588, 589, 590 Bộ luật Dân sự năm; - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn bà Phạm Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản; yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần”:

1.1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn bà Phạm Thị L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 56,70 m² (chiều ngang 0,7 m x chiều dài 81,01 m) thuộc một phần thửa đất số 19, tờ bản đồ số 44 có địa chỉ tại ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

1.2. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn bà Phạm Thị L về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản” đối với số tiền 1.236.000 đồng (một triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

1.3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn bà Phạm Thị L về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản”.

Buộc bà Phạm Thị L có trách nhiệm bồi thường cho ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Duyên số tiền 3.764.000.000 đồng (ba triệu bảy trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

1.4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn bà Phạm Thị L về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần” với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

2. Chi phí tố tụng: Bị đơn bà Phạm Thị L phải nộp số tiền 1.350.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) để trả lại cho nguyên đơn ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị D.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Nguyên đơn ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị D được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3.2. Bà Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/9/2024). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

86
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 141/2024/DS-ST

Số hiệu:141/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dầu Tiếng - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về