TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
BẢN ÁN 12/2024/DS-ST NGÀY 26/06/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 33/2021/TLST-DS ngày 20/10/2021 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXX-ST ngày 12/9/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-DS ngày 29/9/2023; Thông báo mở lại phiên tòa số 45/2024/TBTA ngày 13/6/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí D, sinh năm 1966 và ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1971. Cùng địa chỉ: Số D đường T, KP H, phường L, Tp B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt) Người đại diện theo ủy quyền: Bà Văn Thị Bích P, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số D đường T, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
* Bị đơn: Bà Phạm Thị Lệ T, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số B đường T, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (bà T mất năm 2022) Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T:
Bà Nguyễn Thị Lệ M, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Lệ T1, sinh năm 1987; Cùng địa chỉ: Số B T, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M và bà T1: Ông Lê Nguyên Đ - Luật sư, thuộc Công ty L5 - Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1947; Địa chỉ: A S A, C, USA (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số C, khu phố N, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Thành B1, sinh năm 1949; Địa chỉ: Số A đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
3. Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số C, khu phố N, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
4. Ông Nguyễn Xuân L1, sinh năm 1958; Địa chỉ: Số I đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
5. Bà Nguyễn Kim P1, sinh năm 1964; Địa chỉ: 2 T, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
6. Bà Văn Thị Bích P, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số D T, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
7. Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1939; Địa chỉ: Số D T, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
8. Bà Nguyễn Thị Lệ M, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Lệ T1, sinh năm 1987; Cùng địa chỉ: Số B T, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
9. Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
10. Bà Nguyễn Vân T3, sinh năm 1973; Địa chỉ: A N, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
11. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1952; Ông Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1974; Ông Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1976; Ông Nguyễn Thành T6, sinh năm 1978 và ông Nguyễn Thành T7, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ: Tổ B, khu phố P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi ở: Tổ F, khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
12. Bà Nguyễn Thị Ngọc D1, sinh năm 1974 và ông Nguyễn Chí H, sinh năm Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
13. Bà Trương Thị M1, ông Nguyễn Thanh P2, sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: K, khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
14. Bà Nguyễn Thu H1, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thu H2, sinh năm 1957; Cùng địa chỉ: Lô A, P.502 chung cư A N, phường Đ, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
15. Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh D2, chức vụ: Chủ tịch Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban: Ông Đoàn Anh T8 - Chuyên viên Phòng TNMT (ông D2 và ông T8 xin vắng mặt).
16. Phòng C1 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn A - Trưởng phòng (xin vắng mặt).
* Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1961; Địa chỉ: Tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh BR-VT (vắng mặt).
2. Bà Võ Thị S2, sinh năm 1961; Địa chỉ: C V, thị trấn L, huyện L, tỉnh BR-VT (vắng mặt).
3. Ông Phạm Văn R, sinh năm 1960; Địa chỉ: E C, phường L, Tp B, tỉnh BR-VT (vắng mặt).
4. Bà Nguyễn Thừa Thủy T9, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ A, phường K, thành phố B, tỉnh BR-VT (vắng mặt).
5. Bà Vũ Thị A1, sinh năm 1956; Địa chỉ: F tổ C, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh BR-VT (vắng mặt).
6. Ông Nguyễn Tiết H3. Địa chỉ: khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh BR-VT (vắng mặt).
7. Bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1971. Địa chỉ: G khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh BR-VT (vắng mặt).
8. Bà Đặng Thị Q, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ D, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh BR-VT (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn trình bày: Năm 1998, vợ chồng ông Nguyễn Thành P3, bà Phạm Thị Lệ T bị giải tỏa nhà ở giáp quốc lộ E, phường L, nên có xin cha mẹ là ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị S1 300m² đất để xây nhà. Ông L3 bà S1 đồng ý cho ông P3 xây một căn nhà trệt kế bên nhà gác. Sau đó ông P3 xin xây thêm một nhà máy xay xát lúa, một nhà chứa trấu, một kho chứa gạo. Nếu sau này không làm nghề xay xát nữa thì trả lại diện tích đất trên cho ông L3 bà S1.
Năm 2000, ông P3 bị tai nạn giao thông chết. Năm 2001, bà T làm giấy tay có nội dung: ông Nguyễn Văn L3 và bà Nguyễn Thị S1 cho bà Phạm Thị Lệ T, Nguyễn Thị Lệ T1, Nguyễn Thị Lệ M diện tích 300m² đất, phần ký tên cho đất bà Phạm Thị Lệ T chỉ đưa cho ông L3 ký, phần ký tên của bà S1 bà T đưa ông L3 ký thay. Sau đó bà T làm thủ tục tách thửa, khi địa chính phường vào đo đạc thì bà S1 không đồng ý nên các con bà T là Nguyễn Thị Lệ T1 và Nguyễn Thị Lệ M thưa kiện ông L3 ra UBND phường L. Tại phường L, ông L3 cũng đổi ý là không cho đất nữa. Đến năm 2011 ông L3, bà S1 làm thủ tục tặng cho con trai là ông Nguyễn Thành S và Nguyễn Chí D toàn bộ diện tích đất 1.518,3m² thuộc thửa số 196 (cũ là 180), tờ bản đồ 13 (cũ là 52) phường L, Tp B (bao gồm cả diện tích bà T đang sử dụng).
Theo nội dung giấy xác nhận cho đất ngày 02/01/2001 thể hiện ghi nội dung là cho đất, nhưng phần diện tích thì để trống, số “300” được ghi sau khi ông L3 ký tên vào giấy cho đất, giấy này không có chữ ký của bà S1. Việc cho đất giữa ông L3 với ông P3 bà T là vô hiệu ngay từ thời điểm ký kết.
Việc ông L3 tặng cho ông S và ông D đất là hợp pháp. Nguyên đơn không đồng ý yêu cầu của bị đơn về việc hủy giấy chứng nhận QSD đất đã được chỉnh lý cho ông D và ông S vào năm 2011. Việc bị đơn cho rằng, tại thời điểm ông L3 cho ông S và ông D đất thì ông L3 mất năng lực hành vi dân sự là không có căn cứ.
- Đối với diện tích đất 40,3m² như bị đơn trình bày, theo sơ đồ vị trí ngày 23/9/2016 nguyên đơn không khởi kiện diện tích đất này.
- Đối với diện tích 18m² đất bị đơn trình bày thuộc thửa 221 tờ bản đồ số 13, phường L không liên quan đến diện tích đất tranh chấp và đã được giải quyết bằng vụ án khác.
Nay nguyên đơn yêu cầu những người thừa kế của bà T tháo dỡ toàn bộ nhà, vật kiến trúc trên đất để giao trả đất cho ông D và ông S gồm: Phần đất có nhà tạm diện tích 20,3m²; Phần đất có mái che diện tích 18m²; Phần đất trước đây là nhà trấu diện tích 14m²; Phần đất nhà cấp 4 diện tích 28,6m²; Phần đất công trình phụ 8,7m²; Phần đất trống diện tích 30m² và 08m²; Phần đất mồ mả 15,5m² (Theo sơ đồ vị trí ngày 23/9/2016 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh B). Tương ứng theo sơ đồ vị trí ngày 27/8/2018 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh B như sau: Phần đất có nhà tạm 20,3m²; Phần đất trước đây là nhà trấu 14m²; Phần đất mái che 18m²; Phần đất nhà cấp 4 diện tích 28,6m²; Phần đất công trình phụ 15,7m²; Phần đất trống 13,4m² và 8m²; Phần đất có mồ mả 13,9m²; Phần đất bậc thềm 1,3m², nhà vệ sinh 2,8m² và mái che 2,9m².
- Nguyên đơn đồng ý công nhận cho bà T được quyền sử dụng diện tích đất 89,3m², gồm: Nhà cấp 4A2 diện tích 60,3m², nhà máy X1 diện tích 29m². Đối với tài sản trên đất ông P3 bà T xây dựng trước đây thì bồi thường, còn tài sản bà T mới xây dựng sau này thì tự tháo dỡ không bồi thường. Yêu cầu về việc bà T không xả nước thải qua nhà và đất của ông D và ông S, cửa sổ bít lại, tấm đan đập bỏ; Yêu cầu bà T lấy lại hai cổng đựng nước ra khỏi đất của ông D và ông S. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác trong vụ án.
* Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn bà Phạm Thị Lệ T (thời điểm bà thủy còn sống) có yêu cầu phản tố, trình bày:
Diện tích đất 300m² trong đó có diện tích Bà đang sử dụng và nguyên đơn đang tranh chấp có nguồn gốc do trước đây Bà có thương lượng sang nhượng đất với ông Nguyễn Văn L3 bà Nguyễn Thị S1, nhưng ông L3 bà S1 không bán bằng tiền mà chỉ trao đổi vật tư xây dựng nhà. Bà đã mua vật tư xây dựng đổi cho ông L3 bà S1 xây dựng căn nhà cấp 4 hiện nay bà S1, ông D và ông S đang ở. Việc thỏa thuận trao đổi này chỉ giao dịch bằng miệng, không lập văn bản giấy tờ do lúc đó đất chưa có giấy chứng nhận, việc thỏa thuận có bà Nguyễn Thị Ngọc D và bà Lê Thị Đ1 chứng kiến. Ngoài ra có những người bán vật tư và thợ xây dựng nhà cho ông L3 biết bà mua vật tư và trả tiền công xây nhà cho ông L3. Ngoài diện tích đất trao đối với ông L3 bà S1, Bà còn khai phá phần đất tiếp giáp với đường T diện tích khoảng 70m² nhưng đã bị nhà nước thu hồi một phần.
Tháng 10/1998 ông L3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 02/01/2001 ông L3 nói Bà viết giấy tờ cho đất và Bà nhờ bà L2 viết với nội dung: ông L3 cho Bà và con trai tổng diện tích 300m². Sau khi bà L2 viết xong ông L3 ký tên nhưng phần chữ ký của bà S1 ông L3 ký thay. Sau đó do Bà chưa có hộ khẩu nên không làm thủ tục sang tên được. Ông L3 hứa đến khi nào các con bà là Nguyễn Thị Lệ M và Nguyễn Thị Lệ T1 đủ 18 tuổi thì sẽ cho đất. Đến năm 2003 khi các cháu đủ 18 tuổi, Bà có yêu cầu tách thửa, nhưng khi địa chính đo đạc thì ông Nguyễn Thành S không cho đo. Đến năm 2008 bà yêu cầu ông L3 tách thửa cho Bà nhưng ông L3 không đồng ý dẫn đến tranh chấp.
Như vậy, diện tích đất 300m² trong đó có diện tích đất Bà đang sử dụng và có tranh chấp là do Bà đã đổi vật tư xây dựng lấy đất với ông Nguyễn Văn L3 và bà Nguyễn Thị S1. Việc ông L3 bà S1 tặng cho ông D và ông S quyền sử dụng đất khi đất còn đang tranh chấp là không đúng.
Đối với 300m2 đất ông L3 làm hợp đồng tặng cho Bà ngày 10/5/2001 bà cũng đã có tờ khai lệ phí trước bạ, ngày 12/9/2010 được UBND thành phố B chứng nhận số nhà; Cam kết quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thửa 180 tờ bản đồ số 52 phường L, thành phố B, được chủ tịch UBND phường L xác nhận ngày 12/02/2004. Tại thời điểm ông L3 tặng cho ông D và ông S đất thì ông L3 bị mất năng lực hành vi dân sự.
Đối với tài sản trên đất, sau khi trao đổi vật tư xây dựng lấy đất với ông L3 bà S1, vợ chồng B2 đã xây dựng 01 nhà gác, 01 quán tạp hóa, 01 nhà xay lúa và nhà chứa trấu, 01 nhà cấp 4. Sau khi nhà nước giải tỏa làm đường Bà có sửa chữa lại nhà gác thành nhà như hiện nay. Đối với quán tạp hóa sau khi làm đường Bà có sửa chữa lại như hiện nay; nhà tạm giáp đường T xây dựng năm 2011; phần diện tích mồ mả, khoảng năm 2016 tường mộ bị sập một phần và Bà đã sửa chữa lại nên đã giảm diện tích; Cũng khoảng năm 2016 Bà có xây dựng thêm nhà vệ sinh và mái che giáp nhà trấu để sử dụng; Tường rào phía đông (phía sau) lô đất hiện đang tranh chấp Bà xây dựng năm 1998.
Do đó Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L3 với ông D và ông S, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông L3 bà S1 đã sang tên cho ông D và ông S ngày 28/02/2011, công nhận cho Bà được quyền sử dụng 232.4m2 đất bao gồm 143,1m2 (Trong đó có 18m2 đất thừa 630) và 89,3m2 đất (gồm nhà 60,3m2 và nhà 29m2) thừa 180 (mới là 196) tờ bản đồ 52 (mới là 13) phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do B2 đã trao đổi vật tư với ông L3 và bà S1.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị S1 trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Văn L3, B2 và ông L3 có 9 người con gồm Nguyễn Thanh V, Nguyễn Thanh V1, Nguyễn Kim L, Nguyễn Xuân L1, Nguyễn Thành P3, Nguyễn Kim P1, Nguyễn Chí D, Nguyễn Chí H4, Nguyễn Thành S. Ngoài ra ông L3 còn có hai người con riêng là Nguyễn Thành B1 và Nguyễn Thị B. Từ trước đến nay vợ chồng Bà không chuyển nhượng hay trao đổi đất lấy vật tư với bà Phạm Thị Lệ T. Lúc xây nhà con Bà là ông Nguyễn Thành P3 cũng xây nhà và có cho Bà vật tư xây dựng gồm gạch xây, xi măng, còn
lại gạch lót nền, tôn, cửa và tiền công xây dựng là do Bà chi trả. Đến ngày 17/01/2011 vợ chồng B2 có làm giấy tặng cho hai con là Nguyễn Chí D và Nguyễn Thành S toàn bộ diện tích 1.518m2 đất thừa 180 tờ bản đồ 52 phường L thành phố Bà Rịa, đến ngày 19/5/2011 ông Nguyễn Văn L3 chết, trước khi chết ông L3 chỉ bị bệnh gút, không bị bệnh nào khác. Nay do đã cho các con toàn bộ diện tích đất trên nên Bà không có ý kiến gì trước yêu cầu của nguyên đơn và xin giải quyết vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Thành B1 trình bày: Nguồn gốc lô đất này do ông nội Ông là ông Nguyễn Thành L4 để lại cho cha là ông Nguyễn Văn L3. Khi nhà nước nâng cấp QL51, cha có cho ông Nguyễn Thành P3 ở trong đó có ngôi nhà chính và nhà phụ sinh hoạt. Riêng đối với diện tích nhà máy X2 lúa nếu không sử dụng thì trả lại cho gia đình, đối với diện tích 3 ngôi mộ thì không cho. Việc ông L3 cho đất: trong giấy cho đất chỉ ghi nội dung là cho đất nhưng phần diện tích là để trống, số “300” được ghi sau khi ông L3 ký tên vào giấy cho đất. Mẹ Ông là bà S1 và các anh em Ông hoàn toàn không biết việc ông L3 cho đất đối với vợ chồng ông P3 bà T. Việc ông L3 cho đất vợ chồng ông P3 bà T là chỉ để cho vợ chồng ông P3 bà T làm hợp đồng điện, nước.
Đối với việc cha mẹ Ông cho ông Nguyễn Chí D và Nguyễn Thành S toàn bộ diện tích đất 1.518m[2] đất thừa số 180 tờ bản đồ 52 phường L thành phố B không có ý kiến. Theo ông phần đất nào trước kia cha cho vợ chồng bà T thì để cho bà T và các con ở, các phần đất còn lại trả cho ông D và ông S.
3. Bà Nguyễn Kim L trình bày: Khi còn sống cha Bà có làm giấy cho đất nhưng phần chữ ký của bà S1 không phải bà S1 ký nên cha đã rút lại không cho nữa. Khi làm giấy cho đất ông D và ông S thì ông Nguyễn Văn L3 rất tỉnh táo. Việc ông L3 cho đất ông D ông S toàn bộ diện tích đất 1.518m2 đất thừa 180 tờ bản đồ 52 phường L thành phố B thì Bà và bà B chấp nhận không có ý kiến hay tranh chấp. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông D và ông S.
4. Ông Nguyễn Xuân L1 trình bày: Ông là con của ông Nguyễn Văn L3 và bà Nguyễn Thị S1. Khi cha mẹ cho đất ông D và ông S, cha vẫn minh mẫn nên Ông không có ý kiến gì đối với việc này. Do đó, Ông không có ý kiến gì trước yêu cầu của nguyên đơn và không yêu cầu gì đối với các đương sự khác và xin được giải quyết vắng mặt.
5. Bà Nguyễn Kim P1 trình bày: Bà tôn trọng ý nguyện của cha mẹ về việc cho ông D, ông S toàn bộ diện tích đất 1.518m[2] đất thừa 180 tờ bản đồ 52 phường L, thành phố B, do đó Bà không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Khi làm thủ tục cho ông D, ông S diện tích đất trên ông L3 hoàn toàn minh mẫn vì Bà là người trực tiếp chăm sóc.
6. Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của Phạm Thị Lệ T, gồm bà Nguyễn Thị Lệ T1 và Nguyễn Thị Lệ M trình bày: Đồng ý với ý kiến và yêu cầu của mẹ là bà Phạm Thị Lệ T khi còn sống, các Bà không có yêu cầu riêng gì cho bản thân, ngoài ra các Bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.
7. Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thanh V: Gồm ông Nguyễn Thanh T2, bà Nguyễn Vân T3 trình bày: các Ông Bà là con của ông Nguyễn Thanh V và là cháu nội của ông Nguyễn Văn L3 bà Nguyễn Thị S1. Cha mẹ chết vào năm 2011, lúc còn sống cha mẹ có 3 người con là Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thanh T2 và Nguyễn T10 (đã chết không vợ con). Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn các Ông, B3 không có ý kiến và không có yêu cầu gì trong vụ án. Do đó, xin được giải quyết vắng mặt trong vụ án.
8. Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Chí H4:
8.1. Bà Nguyễn Thị Ngọc D1 trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Chí H4, ông H4 là con của ông Nguyễn Văn L3 bà Nguyễn Thị S1. Năm 1994 ông H4 bị tai nạn giao thông chết, bà và ông H4 có một người con chung là Nguyễn Chí H, sinh năm 1992. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà cho rằng không phù hợp vì diện tích đất bà T đang sử dụng, từ năm 1998 vợ chồng ông P3 bà T trao đổi vật tư xây dựng với ông L3 bà S1. Việc Bà biết bà T trao đổi vật tư xây dựng lấy đất với ông L3 bà S1 là do bà S1 nói Bà nghe chứ bà không chứng kiến. Đối với việc ông L3 cho ông D ông S diện tích đất trên Bà không ý kiến, tranh chấp hay yêu cầu gì.
8.2. Ông Nguyễn Chí H trình bày: Theo ông phần đất bà T đang sử dụng có được là do đối vật tư xây dựng với ông L3 bà S1, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ. Ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này và xin giải quyết vắng mặt.
9. Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thành V2:
9.1. Bà Nguyễn Thị K trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Thành V2, ông V2 là con của ông L3 bà S1. Bà và ông V2 có 4 người con gồm Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Thành T6, Nguyễn Thành T7. Đối với việc ông L3 bà S1 cho ông D, ông S toàn bộ diện tích đất 1.518m2 đất tại thừa 180, tờ bản đồ 52, phường L, thành phố B không có ý kiến hay tranh chấp. Do đó, không tham gia và xin được giải quyết vắng mặt.
9.2. Các ông Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Thanh T5, Nguyễn Thành T6, Nguyễn Thành T7: Vắng mặt và không có ý kiến gì.
10. Ủy ban nhân dân thành phố B trình bày: Ông Nguyễn Văn L3 và bà Nguyễn Thị S1 có quyền sử dụng hợp pháp thừa đất 180/1518,3m2 tờ bản đồ 52 phường L theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 143116 do UBND thị xã B (nay là UBND thành phố B) cấp ngày 22/10/1998. Ngày 17/01/2011, ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị S1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thừa số 180/1518,3m2 cho ông Nguyễn Thành S và ông Nguyễn Chí D. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa các bên đã được phòng công chứng số 2 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu công chứng cùng ngày. Ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S, đã đăng ký biến động theo quy định và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố B chính lý biến động tên chủ sử dụng đất đai tại trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 143116 ngày 28/02/2011.
Trước đó, ông Nguyễn Văn L3 và bà Nguyễn Thị S1 có cho ông Nguyễn Thành P3 (chết ngày 15/02/2000) vợ là Phạm Thị Lệ T được xây dựng nhà và công trình phụ trên 01 phần diện tích của thửa 180/1518,3m². Khi nhà nước thi công công trình đường T năm 2010, thửa 180/1.518,3m² có diện tích bị thu hồi là 11m2, trong đó có phần diện tích gắn liền nhà và công trình phụ của bà Phạm Thị Lệ T và được bồi thường, hỗ trợ; bà Phạm Thị Lệ T được bồi thường về vật kiến trúc, công trình trên đất.
Như vậy, thửa đất 180/1.518,3m² tờ bản đồ 52 phường L thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông L3 bà S1. Do đó, ông L3 bà S1 có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105, 106, 107 Luật Đất đai năm 2003. Qua kiểm tra việc giải quyết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị S1 với ông Nguyễn Thành S, ông Nguyễn Chí D nhận thấy, trình tự thủ tục giải quyết hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất giữa các đương sự được thực hiện đúng theo quy định pháp luật về đất đai, dân sự.
Theo trình bày của bà Phạm Thị Lệ T thì diện tích khoảng 300m² đang tranh chấp bà T được ông L3 bà S1 hoán đổi năm 1998. Qua kiểm tra hồ sơ địa chính nhận thấy từ năm 1998 đến nay, ông Nguyễn Văn L3 bà Nguyễn Thị S1 không thực hiện thủ tục hành chính gì về đất đai liên quan đến thửa 180/1.518,3m² nhằm chuyển quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị Lệ T. Do đó, bà Phạm Thị Lệ T có nghĩa vụ chứng minh quyền và nghĩa vụ của mình liên quan đến diện tích 300m² đang tranh chấp nêu trên.
11. Văn phòng C2 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Không có yêu cầu gì và đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Người làm chứng:
1. Ông Phạm Văn R trình bày: Ông không có quan hệ họ hàng gì với ông D ông S, bà T và gia đình của ông L3. Trước đây Ông không nhớ thời gian cụ thể, ban đầu Ông có được vợ chồng ông P3 bà T gọi xây dựng nhà cho vợ chồng ông P3 bà T, trong khi xây nhà cho vợ chồng ông P3 bà T thì ông P3 có yêu cầu Ông sang xây dựng nhà cho vợ chồng ông L3 bà S1, cho nên cùng một lúc Ông xây hai căn nhà, nhà của vợ chồng bà T và căn nhà của vợ chồng ông L3. Khi xây nhà của ông P3 thì Ông trực tiếp nhận tiền công từ ông P3 bà T, khi xây dựng nhà ông L3 bà S1 thì Ông trực tiếp nhận tiền công từ ông L3 bà S1. Khi xây dựng Ông có thấy ông P3 kêu đồ vật tư như cát, đá, gạch xây dựng, sắt cho ông L3 bà S1 nhưng ai trả tiền Ông không biết. Đối với gạch lót nền thì do bà S1 gọi, gọi ở cửa hàng nào và ai trả tiền Ông không biết. Ông biết việc thỏa thuận trao đổi vật tư xây dựng nhà lấy đất giữa ông Nguyễn Văn L3 bà Nguyễn Thị S1 với vợ chồng bà Phạm Thị Lệ T.
2. Bà Võ Thị S2 trình bày: Bà không có quan hệ gì với ông D, ông S, bà T. Trước kia vào năm 1998 Bà là người trực tiếp bán vật tư xây dựng gồm sắt, xi măng, gạch xây, gạch lót nền cho vợ chồng bà T để xây dựng căn nhà gác lừng và nhà máy xay sát lúa, ngoài ra Bà không bán vật tư cho vợ chồng bà T xây dựng căn nhà nào khác, vợ chồng bà T cũng không yêu cầu bà đổ vật liệu xây dựng cho vợ chồng ông L3 và B2 cũng không bán vật tư cho ai khác.
3. Bà Nguyễn Thị L2 trình bày: Vào năm 2001 Bà được bà T nhờ viết giấy tờ tay có nội dung vợ chồng ông Nguyễn Văn L3 bà Nguyễn Thị S1 cho vợ chồng bà T và hai con 300m[2] đất hiện đang tranh chấp tại nhà ông L3. Lúc viết có ông L3, bà S1, bà T, bà Nguyễn Thừa Thủy T9, bà Vũ Thị A1. Khi viết xong Bà có đọc lại cho mọi người cùng nghe và có đưa cho ông L3 bà T ký tên. Mấy tháng sau, ông L3 có đưa Bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để Bà làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà T. Ngoài ra Bà không biết gì thêm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu ý kiến về vụ án:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý giải quyết:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Đất tranh chấp ở phường L, thành phố B; Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn cư trú tại thành phố B; Vụ án có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ở nước ngoài, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ông Nguyễn Văn L3 đã chết, nên các con ông L3 tham gia tố tụng với tư cách là người thừa kế của ông L3.
[1.2] Sự có mặt của đương sự:
Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng có đơn xin xét xử vắng mặt. Một số người được tống đạt hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt họ.
[1.3] Tài liệu, chứng cứ về vụ án: Đến thời điểm xét xử, các bên đương sự không còn cung cấp tài liệu, chứng cứ mới. Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu chứng có có trong hồ sơ vụ án do các đương sự đã cung cấp và do Tòa án thu thập được để giải quyết.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Nguyên đơn yêu cầu bà T không được xả nước thải qua nhà và đất của ông D và ông S; yêu cầu bà T lấy lại hai cổng đựng nước ra khỏi phần đất của ông D và ông S:
Tại phiên tòa, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T là bà T và bà M đã chấp nhận các yêu cầu này của nguyên đơn và cam kết sẽ thực hiện theo yêu cầu của ông D và ông S.
Ông D và ông S chấp nhận sự cam kết của bà M và bà T1 và đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Xét thấy, đây là sự tự thỏa thuận của các bên đương sự về việc giải quyết vụ án. Sự thỏa thuận này hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Nguyên đơn yêu cầu bà T trả lại diện tích đất sau khi trừ 89,3m2 (tổng diện tích đất 89,3m2 nguyên đơn chấp nhận bà T được quyền sử dụng):
Xét về nguồn gốc đất tranh chấp:
Nhận thấy, nguồn gốc đất 1.518,3m2 thừa 180, tờ bản đồ 52 (mới là thừa 196 tờ bản đồ số 13), phường L, thành phố B (trong đó có 232,4m2 đất tranh chấp trong vụ án) là của vợ chồng ông Nguyễn Văn L3, bà Nguyễn Thị S1.
Ngày 22/10/1998, ông L3 được Ủy ban nhân dân thị xã B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 1.632m2 đất.
Năm 2010 nhà nước thu hồi một phần diện tích đất để xây dựng đường T, ông L3 bà S1 còn lại 1.518,3m2 đất.
Năm 2011 ông L3 bà S1 tặng cho hai con là Nguyễn Chí D, Nguyễn Thành S (BL 55).
Bà T cho rằng diện tích đất 300m2 nay do thực tế còn 232,4m2 thuộc quyền sử dụng của vợ chồng Bà do đã đối với tự xây nhà cho vợ chồng ông L3 và bà S1 và một phần ông H5 cho.
Bà Nguyễn Thị S1 và phía nguyên đơn không thừa nhận có việc vợ chồng bà T đổi vật tư xây nhà cho vợ chồng ông L3, bà S1 như trình bày của bà T, người làm chứng là bà Nguyễn Thị Ngọc D1 xác nhận chỉ nghe bà S1 và người khác nói lại chứ không chứng kiến việc thỏa thuận giữa hai bên (BL 247). Bà Võ Thị S2 là người bán vật liệu xây dựng xác nhận không bán hay đổ vật liệu để xây dựng căn nhà của ông L3 và bà S1; ông Phạm Văn R là người xây nhà cho ông L3 bà S1 xác nhận không nhận tiền của vợ chồng bà T, ông P3 khi xây nhà cho ông L3 bà S1 (BL 265, 269). Tài liệu bà T cung cấp là giấy xác nhận cho đất ngày 02/01/2001 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mẫu do ông L3 ký (BL 166 đến 170, 173) đều thể hiện ông L3 cho con dâu và các cháu đất chứ không phải việc trao đổi vật tư lấy đất hay bán đất. Bà T không cung cấp được chứng cứ nào khác để chứng minh nội dung đổi vật liệu xây dựng lấy đất của ông L3 bà S1 và một phần ông H5 cho nên không có căn cứ chấp nhận nội dung này của bà T.
Tuy nhiên, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Năm 1998 nhà và cơ sở xay xát lúa của vợ chồng ông P3, bà T bị giải tỏa làm đường quốc lộ 51. Được sự đồng ý của ông L3 và bà S1 nên vợ chồng ông P3 bà T san lấp mặt bằng lô đất để xây dựng trên một phần đất là nhà có gác đổ bê tông, nhà máy X2, nhà cấp 4, quán bán tạp hóa, một phần là diện tích mộ và đất trống (BL 202, 204). Ngày 15/02/2000, ông P3 bị tai nạn giao thông chết, bà T cùng hai con M, T1 vào ở tại nhà và đất trên đến nay. Ngày 02/01/2001, ông L3 ký giấy xác nhận cho đất và làm thủ tục cho bà T và hai cháu M, T1 đất (BL 166 đến 170,173) nhưng do bà T và hai cháu M, T1 chưa có hộ khẩu nên chưa làm được thủ tục tách thửa sang tên đất. Như vậy, diện tích đất đang tranh chấp (trừ diện tích phần mộ) gia đình bà T đã sử dụng từ năm 1998 đến nay. Vợ chồng ông L3 bà S1 đã đồng ý cho đất để vợ chồng bà T ông P3 xây nhà gác đổ bê tông, nhà cấp 4 kiên cố từ năm 1998, đồng thời vợ chồng bà T, ông P3 xây nhà máy xay xát lúa, kho chứa trấu để sử dụng, phù hợp với lời khai của người làm chứng là bà Nguyễn Thị L2 và bà Nguyễn Thừa Thủy T9 (BL 276, 277). Năm 2003 bà T và hai cháu M, T1 có hộ khẩu và yêu cầu cán bộ địa chính vào đo đạc để làm thủ tục tách thửa thì ông S ngăn cản không cho. Bà T và cháu M, T1 làm đơn khiếu nại ra phường yêu cầu ông L3 làm thủ tục tách thửa đất nên ông L3 tức giận đã hủy việc cho đất bà T và hai cháu M, T1 và làm thủ tục tặng cho ông D và ông S toàn bộ diện tích đất 1.518,3m² trong đó có diện tích đất 232,4m² gia đình bà T đang sử dụng làm nhà ở ổn định hiện nay có tranh chấp.
Xét thấy, diện tích đất này do vợ chồng ông P3 bà T, nay là hai con M, T1 ở ổn định mà trước đây ông L3 ký giấy cho đất mà bà S1 không ký nhưng vợ chồng bà T và các con đã xây dựng nhà, sử dụng ổn định từ năm 1998, bà S1 là người chứng kiến mà không có bất cứ hành động phản đối mà sau này mới xảy ra tranh chấp, do vậy xác định bà S1 cũng đã chấp nhận cho con, cho cháu nội diện tích đất ông L3 đã cho.
Như vậy, xác định ông L3 bà S1 đã cho con là ông P3 và bà T một phần đất là các căn nhà xây dựng trước đây cũng như phần đất khuôn viên căn nhà (trừ diện tích phần mộ và phần đất lưu thông vào phần mộ) là hợp lý.
Xác định phần đất ông L3 bà S1 cho bà T và ông P3 là 198,8m² gồm: Diện tích 89,3m² (gồm: nhà cấp 4A2 là 60,3m², nhà máy X1 29m²), nhà tạm 20,3m², mái che 18m², nhà trấu 14m², nhà cấp 4 diện tích 28,6m², đất trống 8m² và 0,6m², đất có ô văng nhà bà T 0,6m², nhà vệ sinh 3,7m², công trình phụ 15,7m². (Thể hiện theo sơ đồ vị trí bổ sung ngày 27/8/2018 và phụ lục sơ đồ ngày 27/9/2018).
Trong đó: Diện tích đất 89,3m² (gồm; nhà cấp 4A2 là 60,3m², nhà máy X1 29m²) nguyên đơn đồng ý bà T được quyền sử dụng, bà T cũng yêu cầu công nhận cho bà được quyền sử dụng nên cần chấp nhận;
Diện tích đất 109,5m² (gồm: nhà tạm 20,3m²; mái che 18m²; nhà trấu 14m²; nhà cấp 4 diện tích 28,6m²; đất trống 8m² và 0,6m²; đất trống 0,6m² có ô văng nhà 28,6m²; nhà vệ sinh 3,7m²; công trình phụ 15,7m²): Xác định ông L3 bà S1 đã tặng cho ông P3 và bà T, nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.3] Đối với diện tích phần mộ:
Theo xác nhận của các đương sự, trên đất tranh chấp có 3 ngôi mộ diện tích 13,9m², gồm mộ của cụ Nguyễn Văn X, cụ Nguyễn Văn C và cụ Phạm Thị N an táng từ những năm 1970. Bà Nguyễn Thu H2 và bà Nguyễn Thu H1 là con của cụ X, là cháu ruột của cụ C và cụ N. Những người chôn trong khu mộ nêu trên không phải là ông, cha ruột của ông D, ông S, bà T1, bà M. Thực tế hiện nay khu mộ này không có lối đi riêng ra đường công cộng, mà bị bao quanh bởi tường rào và các công trình tạm do gia đình bà T (nay là bà T1 bà M) xây dựng. Bà H1, bà H2 cho rằng, khi tới thăm mộ của các cụ thì bị gia đình bà T ngăn cản, gây khó khăn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết dành một lối đi riêng chiều ngang 2,5m ra đến đường công cộng để các con cháu của cụ X, cụ C và cụ N khi tới thăm mộ được thuận tiện và không phải phụ thuộc vào người quản lý khu đất bên ngoài.
Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thu H2 và bà Nguyễn Thu H1 về việc dành một lối đi riêng từ đường vào khu mộ nêu trên là chính đáng, đảm bảo quyền lợi hợp pháp, cần mở lối đi vào 03 ngôi mộ để các con cháu của cụ X, cụ C và cụ N khi tới thăm viếng mộ được thuận tiện. Việc bà H2, bà H1 yêu cầu mở lối đi rộng 2,5m là không phù hợp, nên chỉ được chấp nhận một phần yêu cầu là mở lối đi có chiều rộng khoảng 01m, chiều dài tính từ 03 ngôi mộ ra hết đất của ông D, ông S và đến đường hẻm của xóm (nơi có vị trí thuận lợi và ngắn nhất).
Nhận thấy, nếu mở lối đi vào phần mộ theo hướng thẳng ra đường T thì phải thông qua thửa đất số 630 mà thửa 630 các đương sự không tranh chấp trong vụ án nên không thể mở lối đi theo hướng này. Không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn cũng như phía bà H2 và bà H1 về mở lối đi ra đường T theo sơ đồ bản vẽ vị trí bổ sung ngày 12/9/2023 của TTKTTNMT tỉnh.
Do vậy cần xác định phần đất lưu thông 8,5m² đất trống từ phần mộ đến phần đất nguyên đơn đang sử dụng thuộc thửa 196 là lối lưu thông của phần mộ là phù hợp. Diện tích phần mộ là 22,4m² (gồm phần mộ 13,9m² và lối đi vào mộ là 8,5m²) (Theo sơ đồ bản vẽ vị trí bổ sung ngày 27/8/2018, phụ lục sơ đồ ngày 27/9/2018 và sơ đồ bổ sung ngày 12/9/2023 của TTKTTNMT tỉnh). Bà T (nay là bà M, bà T1) có nghĩa vụ tháo dỡ tường rào, mái che tạm và vật kiến trúc trên diện tích đất 8,5m² lưu thông vào phần mộ nêu trên để các bên thực hiện việc nhang khói cho phần mộ chung của gia tộc bà H2, bà H1.
Hội đồng xét xử xác định, ông L3 bà S1 không cho bà T, ông P3 diện tích phần mộ này và việc ông L3 bà S1 tặng cho ông D và ông S cả diện tích đất mộ này là vi phạm pháp luật.
Đối với diện tích còn lại là 11,2m² (gồm đất trống 4,2m², bậc thềm 1,3m², nhà vệ sinh 2,8m², mái che 2,9m²). Xác định ông L3 bà S1 không cho vợ chồng bà T diện tích đất này, do vậy thuộc quyền sử dụng của ông D và ông S. Tuy nhiên, diện tích đất này bà T xây dựng công trình phụ và sử dụng ổn định và nếu buộc bà T trả lại diện tích đất này cho ông D và ông S thì ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình bà T, nên cần công nhận cho bà T được quyền sử dụng và bà T có nghĩa vụ trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông D và ông S là 11,2m² x 2.000.000đ/m² = 22.400.000đ.
Như vậy tổng cộng bà T được quyền sử dụng 210m² đất, gồm: 198,8m² đất ông L3 bà S1 cho và 11,2m² đất đã trả tiền giá trị đất cho nguyên đơn.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S đối với bà Phạm Thị Lệ T về yêu cầu trả lại diện tích đất 131,9m² gồm: Nhà tạm 20,3m², nhà trấu 14m², mái che 18m², nhà cấp 4 diện tích 28,6m², đất trống 8m² + 0,6m², 0,6m² (Phần đất trống có ô văng nhà 28,6m²), công trình phụ 15,7m², nhà vệ sinh 3,7m², phần mộ 22,4m² (gồm mộ 13,9m² + đất trống vào mộ 8,5m²).
[3] Diện tích đất và tài sản gắn liền với đất tranh chấp trong vụ án được thể hiện theo sơ đồ vị trí bổ sung ngày 27/8/2018, phụ lục sơ đồ ngày 27/9/2018 và sơ đồ bổ sung ngày 12/9/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh B.
[4] Đối với yêu cầu của bà T về yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L3 với ông D và ông S và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Xét thấy: Như nhận định ở phần trên, khi ông L3 làm thủ tục tặng cho ông D và ông S quyền sử dụng đất thì trên đất đang tồn tại nhà và công trình xây dựng của bà T từ năm 1998 và trên đất có cả phần mộ. Ủy ban nhân dân phường L và Ủy ban nhân dân thành phố B cho biết bà T và hai cháu M, T1 và ông L3 tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng Ủy ban nhân dân thành phố B vẫn tiến hành thủ tục sang tên cho ông D và ông S quyền sử dụng đất trong đó có 232,4m² bà T đang sử dụng và phần mộ là không đúng quy định pháp luật. Do vậy, chấp nhận một phần yêu cầu của bà T, hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 232,4m² này.
[5] Chị M và chị T1 là con bà T xác nhận tài sản tranh chấp là của bà T, đề nghị Tòa án giải quyết công nhận cho bà T, hai Chị không có yêu cầu gì cho riêng mình, nên không xem xét.
[6] Bà T cho rằng diện tích 40,3m² theo sơ đồ vị trí ngày 23/9/2016 không nằm trong đất tranh chấp và ông D, ông S đã rút yêu cầu khởi kiện đối với phần này, nay ông S và ông D khởi kiện lại bà không đồng ý.
Xét thấy: Qua sơ đồ vị trí xác định toàn bộ phần đất tranh chấp thuộc thửa 196 tờ bản đồ số 13 (cũ là thửa 180 tờ bản đồ số 52) phường L nên không có căn cứ xem xét yêu cầu này của bà T. Mặt khác trường hợp ông D và ông S đã rút yêu cầu đối với diện tích đất này như bà T trình bày thì ông D và ông S vẫn được quyền khởi kiện lại theo quy định, do vậy yêu cầu của bà T là không có căn cứ chấp nhận.
[7] Yêu cầu của bà T công nhận sử dụng phần mộ:
Như nhận định ở phần trên, đối với diện tích phần 3 ngôi mộ và lối đi vào mộ là 22,4m² (gồm diện tích mộ 13,9m² và phần lối đi vào mộ là 8,5m²) gồm có mộ của cụ Nguyễn Văn X, cụ Nguyễn Văn C và cụ Phạm Thị N an táng từ những năm 1970. Những người chôn trong khu mộ nêu trên không phải là ông, cha ruột của ông D, ông S, bà T1, bà M mà là gia tộc của bà Nguyễn Thu H2 và bà Nguyễn Thu H1 là con, là cháu ruột của các cụ, nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của bà T.
[8] Bà T cho rằng Bà có một phần đất do ông H5 cho có chiều rộng khoảng 02m từ via hè vào phía trong phần đất bà T đang sử dụng và cách cửa nhà gác của bà khoảng 03m, Bà không đồng ý việc nguyên đơn tranh chấp phần đất này:
Xét thấy: Theo sơ đồ vị trí thể hiện nguyên đơn chỉ tranh chấp diện tích đất thửa 196 tờ bản đồ số 13. Bà T xây dựng hàng rào sát via hè, sơ đồ vị trí thể hiện nguyên đơn tranh chấp phần đất phía trong via hè vào phần đất bà T đang sử dụng khoảng 02m, nguyên đơn không tranh chấp phần đất đến giáp via hè, điều này phù hợp với ý kiến trình bày của bà T là phần đất nguyên đơn không tranh chấp do ông H5 cho B2. Bà T cũng không cung cấp được chứng cứ nào khác về nội dung này nên không có căn cứ chấp nhận.
[9] Đối với diện tích đất 18m² thửa 630 theo yêu cầu phản tố của bà T:
Xét thấy: Nguyên đơn không tranh chấp thửa 630, bà T cũng không yêu cầu do vẽ xác định vị trí đất này. Tại phiên tòa trước đây bà T xác định diện tích đất này Bà đang sử dụng và nằm trong phần diện tích đất tranh chấp là diện tích đất 18m² mái che theo sơ đồ vị trí ngày 23/9/2016 và phụ lục sơ đồ ngày 27/8/2018 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh B, do vậy xác định đây là ý kiến phản đối chứ không phải là phản tố của bị đơn.
[10] Bà T cho rằng phần đất ông L3 bà S1 cho vợ chồng Bà có cả đất ở:
Xét thấy, nguyên đơn xác nhận phần đất bị đơn sử dụng là đất nông nghiệp. Tại đơn xin cất nhà ngày 12/9/1998 của ông Nguyễn Thành P3 do bà T cung cấp đã xác nhận xin cất nhà trên phần đất nông nghiệp của ông L3. Nên không có căn cứ để xác định phần diện tích đất ông L3 bà S1 cho vợ chồng bà T sử dụng là có đất ở. Do vậy, xác định phần diện tích đất bà T được quyền sử dụng trong vụ án là đất nông nghiệp.
Theo các Văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh B do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cung cấp theo Công văn số 1046/VPDK-DKCG ngày 07/9/2018 thấy rằng, trước năm 2002 chưa có quy định hạn mức tách thửa sử dụng đối với đất nông nghiệp tại địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà T sử dụng đất do ông L3 bà S1 tặng cho từ năm 1998 nên bà T có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục về quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bà T được quyền sử dụng theo bản án và theo quy định của pháp luật. Do bà T đã mất, nên những người thừa kế của bà Phạm Thị Lệ T có quyền và nghĩa vụ này.
[11] Giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông L3 bà S1 với bà T trong vụ án thực hiện năm 1998 nên căn cứ quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 để giải quyết.
[12] Chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tổng cộng là 17.742.000 đồng: Ông D và ông S phải chịu 16.000.000 đồng, đã nộp xong; Bà T phải chịu 1.742.000 đồng, do ông D và ông S đã nộp tạm ứng nên người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T (Bà M và bà T1) phải trả cho ông D và ông S 1.742.000 đồng.
[13] Chi phí giám định chữ ký ông L3 3.000.000 đồng: Ông D và ông S phải chịu. Bà T đã nộp tạm ứng. Ông D và ông S có nghĩa vụ trả cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T (Bà M và bà T1) 3.000.000đ.
[14] Án phí dân sự sơ thẩm: Vụ án thụ lý trước ngày 01/01/2017 nên căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 để giải quyết.
- Ông D và ông S phải chịu 13.190.000 đồng đối với yêu cầu không được chấp nhận.
- Bà T phải chịu 1.120.000 đồng đối với số tiền phải trả cho ông D, ông S. Do bà T đã mất, nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T phải có nghĩa vụ này.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 147, 157, 161, 165, 166, 227, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 468, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 203 Luật đất đai; Điều 27, Điều 30 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S. Buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T là bà T1 và bà M phải chấm dứt việc xả nước thải qua nhà và đất của ông D và ông S, phải đập bỏ tấm đan, các Bà phải chuyển hai cống đựng nước ra khỏi đất của ông D và ông S.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S đối với giá trị của diện tích đất 11,2m². Bà Phạm Thị Lệ T được quyền sử dụng diện tích đất nông nghiệp lưu thông phần mộ 11,2m², gồm: 4,2m² đất trống, bậc thềm 1,3m², nhà vệ sinh 2,8m, mái che nhà vệ sinh 2,9m² và có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S 22.400.000đ (Hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) giá trị quyền sử dụng đất 11,2m² nêu trên. Do bà T đã mất, nên những người thừa kế của bà T phải có nghĩa vụ này.
3. Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S về việc bà Phạm Thị Lệ T được quyền sử dụng đất diện tích 89,3m² thửa 196, tờ bản đồ số 13 phường L, thành phố B (Gồm nhà cấp 4A2 diện tích 60,3m² và nhà máy X1 m²).
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S đối với yêu cầu bà Phạm Thị Lệ T trả lại diện tích đất 131,9m² gồm: Nhà tạm 20,3m², nhà trấu 14m², mái che 18m², nhà cấp 4 diện tích 28,6m², đất trống 8m² + 0,6m²; 0,6m² (Phần đất trống có ô văng nhà 28,6m²), công trình phụ 15,7m², nhà vệ sinh 3,7m², phần mộ 22,4m² (gồm diện tích mộ 13,9m² diện tích đất trống vào mộ 8,5m²).
5. Công nhận diện tích đất phần mộ và lối đi vào mộ 22,4m² gồm phần mộ của cụ Nguyễn Văn X, cụ Nguyễn Văn C và cụ Phạm Thị N là mộ của gia tộc bà Nguyễn Thu H2, bà Nguyễn Thu H1 (gồm: Diện tích mộ 13,9m² + đất lối đi từ mộ ra đường hẻm là 8,5m²).
Bà Phạm Thị Lệ T có nghĩa vụ tháo dỡ hàng rào, mái che tạm và vật kiến trúc trên diện tích đất đi vào phần mộ 8,5m² tọa độ 13, 14, 15, m6, m7, m8, m9, m9a, m5, 13 (theo phụ lục sơ đồ vị trí ngày 27/9/2018) để các bên thực hiện cúng giỗ và nhang khói cho các phần mộ. Do bà T đã mất, nên những người thừa kế của bà Phạm Thị Lệ T là bà T1, bà M phải có nghĩa vụ này.
6. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Phạm Thị Lệ T:
Bà Phạm Thị Lệ T được quyền sử dụng 210m² đất nông nghiệp thửa số 196, tờ bản đồ số 13, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, gồm: 89,3m² đất ông D và ông S đồng ý để bà T sử dụng (Gồm nhà cấp 4A2 diện tích 60,3m² và nhà máy X1 29m²) và 120,7m² đất tranh chấp không thuộc 22,4m² diện tích phần mộ. Do bà T đã mất, nên những người thừa kế của bà Phạm Thị Lệ T được quyền sử dụng diện tích đất 210m² này.
7. Hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn L3 với ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 143116 ngày 22/10/1998 do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp cho ông Nguyễn Văn L3 (Xác nhận ngày 28/02/2011 tại trang 4 đã tặng cho ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S) đối với diện tích đất 232,4m² (gồm: diện tích đất bà T được quyền sử dụng là 210m², diện tích phần mộ và lối đi là 22,4m²) thuộc thửa số 196, tờ bản đồ số 13, phường L, thành phố B, tỉnh Bà R1 - Vũng Tàu.
8. Tài sản tranh chấp trong vụ án thể hiện theo sơ đồ vị trí ngày 23/9/2016, sơ đồ vị trí bổ sung ngày 27/8/2018, phụ lục sơ đồ vị trí ngày 27/9/2018 và sơ đồ bổ sung ngày 12/9/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh B.
9. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chỉnh lý và công nhận quyền sử dụng đất theo bản án và theo quy định của pháp luật.
10. Ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S có nghĩa vụ giao nộp cho Ủy ban nhân dân thành phố B giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 143116 ngày 22/10/1998 do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp cho ông Nguyễn Văn L3 (Xác nhận ngày 28/02/2011 tại trang 4 đã tặng cho ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S), để thực hiện việc chỉnh lý diện tích đất được quyền sử dụng theo bản án và theo quy định của pháp luật.
11. Chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 17.742.000đ (Mười bảy triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng): Ông Nguyễn Chí D, ông Nguyễn Thành S chịu 16.000.000đ, đã nộp xong; Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị Lệ T (bà Nguyễn Thị Lệ M, Nguyễn Thị Lệ T1) phải chịu 1.742.000đ và có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S 1.742.000đ (Một triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn) đồng này.
12. Chi phí giám định chữ ký ông Nguyễn Văn L3 là 3.000.000đ (Ba triệu) đồng, bà Phạm Thị Lệ T đã nộp tạm ứng: Ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S phải chịu. Ông D và ông S có nghĩa vụ trả cho Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T (bà Nguyễn Thị Lệ M, Nguyễn Thị Lệ T1) 3.000.000đ (Ba triệu) đồng.
13. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S phải chịu 13.190.000đ; được trừ 945.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 011619 ngày 02/06/2011 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bà Rịa và được trừ 1.853.500đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 016044 ngày 13/7/2012 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông Nguyễn Chí D và ông Nguyễn Thành S còn phải nộp 10.391.500đ (Mười triệu ba trăm chín mươi một nghìn năm trăm) đồng.
- Bà Phạm Thị Lệ T phải chịu 1.120.000đ, trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 7.000.000đ theo biên lai thu số 0007758 ngày 01/12/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hoàn trả cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T (bà Nguyễn Thị Lệ M, Nguyễn Thị Lệ T1) 5.880.000đ (Năm triệu tám trăm tám mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 3 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất số 12/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 12/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Bà Rịa - Vũng Tàu |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 26/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về