Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời nhà trả lại đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất số 249/2025/DS-PT ngày 28/08/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 249/2025/DS-PT NGÀY 28/08/2025 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, DI DỜI NHÀ TRẢ LẠI ĐẤT, YÊU CẦU CHẤM DỨT HÀNH VI CẢN TRỞ VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2025/TLPT-DS ngày 25 tháng 6 năm 2025 về việc “ tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời nhà trả lại đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện A (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 15), tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 192/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 260/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn:

Ông Hồ Văn C1, sinh năm 1967, căn cước công dân 0890670xxx; Ông Hồ Văn C2, sinh năm 1969, căn cước công dân 0890690xx; Ông Hồ Văn C3, sinh năm 1973, căn cước công dân 0890730xxxx; Ông Hồ Văn H1, sinh năm 1979, căn cước công dân 08907901xxxxx.

Cùng nơi cư trú: Tổ 04, ấp Vĩnh Phước, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

(Nay là xã P, tỉnh An Giang).

Người đại diện hợp pháp của đồng nguyên đơn: Ông Lôi Phương H, sinh năm 2000. Cư trú: Khóm 7, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (Nay là phường C, tỉnh An Giang) đại diện theo ủy quyền.

-Bị đơn: Ông Hồ Thành Ư, sinh năm 1972, căn cước công dân 089071006xxxx. Nơi cư trú: Tổ 16, ấp Vĩnh Phước, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. (Nay là xã P, tỉnh An Giang).

-Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Hùng Duy K, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Khóm Hà Bao 1, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang. (Nay là xã V, tỉnh An Giang).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C4, sinh năm 1937; ông Hồ Văn Q (Q), sinh năm 1974; bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1974; bà Hồ Khoa N, sinh năm 1997; cháu Hồ Quang H1, sinh năm 2008 – Cùng nơi cư trú: Tổ 16, ấp Vĩnh Phước, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. (Nay là xã P, tỉnh An Giang).

-Người đại diện theo ủy quyền của bà H, ông N: Ông Trần Hùng Duy K, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Khóm Hà Bao 1, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang. Ông Ư là người đại diện theo pháp luật cho cháu H1. (Nay là xã Vĩnh Hậu, tỉnh An Giang).

Người kháng cáo: Các đồng nguyên đơn Ông Hồ Văn C1, ông Hồ Văn C2, ông Hồ Văn C3, ông Hồ Văn H1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, và quá trình tham gia tố tụng ở Tòa án cấp sơ thẩm đại diện các nguyên đơn ông Lôi Phương H trình bày:

Trong đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Cụ Hồ Văn T là ông nội của đồng nguyên đơn có phần đất diện tích 0,24.20ha tọa lạc tại xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo số địa bộ 211, lô 91, tờ số 3 của chính quyền chế độ cũ cấp (theo trích lục địa bộ năm 1986). cụ T giao số đất trên cho cha đồng nguyên đơn là cụ Hồ Văn B (sinh năm 1934, chết năm 2022) quản lý nhưng chỉ nói miệng chứ không có giấy tờ. Trên đất có cho cụ Hồ Văn T (anh em chú bác với cụ T, cha ông Ư) và ông Hồ Thành Ư cất nhà ở đậu còn ở thời gian nào thì đồng nguyên đơn không biết do khi đó còn nhỏ nhưng là trước năm 1979, việc ở đâu cũng không có giấy tờ. Năm 2019, giữa ông Ư với cụ B phát sinh tranh chấp, địa phương hòa giải nhiều lần và tại các buổi làm việc ông Ư cam kết chỉ sửa chữa nhà. Khoảng giữa năm 2022 ông Ư có hỏi xin ý kiến ông C1 để sửa nhà nhưng lại cất mới hoàn toàn và quy mô lớn hơn nhà cũ, lúc đó phía ông C1 không có báo với chính quyền địa phương để đình chỉ thi công. Vào ngày 23/12/2022, ông Hồ Văn Q là anh em ruột của đồng nguyên đơn tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Ư và khi Ủy ban nhân dân (UBND) xã V hòa giải, ông Q tự ý cho ông Ư được quyền làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN. QSDĐ) khoảng 2.000m². Đồng nguyên đơn sau đó có tranh chấp và được UBND xã V hòa giải nhưng không thành. Nay yêu cầu ông Ư di dời nhà trả lại đất diện tích khoảng 100m2, sau khi xem xét thẩm định tại chỗ sẽ tính theo diện tích thực tế.

Sau khi có kết quả đo đạc, đồng nguyên đơn xác định lại yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đối với phần đất diện tích 295,4m² gồm các điểm 29, 28, 16, 17, 19, 20, 22 theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh A ngày 07/02/2024 và buộc ông Ư cùng vợ, con di dời nhà, vật kiến trúc trả lại diện tích đất trên.

*Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi lẽ về nguồn gốc đất là của cụ Trương Thị Đ (bà cố của ông Ư) mua lại từ ông Huỳnh Văn C (ông nội ông 5 P) khoảng trên 02 công đất cách nay gần 100 năm và để lại cho cụ Hồ Phú N (ông nội bị đơn) ở. Năm 1971, cụ N chết, trước đó có giao hết diện tích đất lại cho ông Hồ Văn T (cha bị đơn) quản lý để lo việc hương hỏa và có cất 01 căn nhà gỗ để ở cũng như đóng thuế đất hàng năm từ năm 1997-2001. Năm 2007 cụ T chết, diện tích đất này và nhà được ông Ư và anh là ông Hồ Thành N chia ra quản lý, sử dụng. Khoảng tháng 3/2019 thì phát sinh tranh chấp với ông Hồ Văn B và đã được chính quyền địa phương giải quyết cho các bên tiếp tục sử dụng theo hiện trạng.Đến tháng 12/2022 ông Ư xin cấp GCN. QSDĐ thì ông Hồ Văn Q ngăn cản, tranh chấp và khi UBND xã hòa giải ông Q đồng ý cho ông Ư được kê khai, cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đang sử dụng. Đến năm 2023, khi làm thủ tục đo đạc cấp giấy chứng nhận thì đồng nguyên đơn tranh chấp.

Về quá trình sử dụng đất: Trên phần đất tranh chấp có căn nhà của cha ông Ư cất năm 1975, sửa chữa nhiều lần. Tháng 4/2022 do nhà xuống cấp nên cất mới lại. Lúc cất nhà thì không ai tranh chấp. Sau khi cất nhà xong thì ông Q mới tranh chấp, lý do ông Q nói ông Ư chỉ xin sửa nhà trước mà lại cất luôn nhà mới phía sau. Sau khi hòa giải thì gia đình ông Ư ở ổn định đến nay. Nhà có kết cấu mái lợp tole, vách xây gạch, sàn lót gạch men gồm nhà tạm và nhà chính, tổng diện tích xây dựng 195,44m².

Nay yêu cầu phản tố, đề nghị công nhận phần đất diện tích 295,4 m² gồm các điểm 29, 28, 16, 17, 19, 20, 22 theo bản vẽ hiện trạng đất ngày 07/02/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai-chi nhánh A là thuộc quyền sử dụng của ông Ư. Buộc đồng nguyên đơn chấm dứt hành vi cản trở ông Ư thực hiện quyền sử dụng đối với phần đất trên. Sau đó bị đơn rút một phần yêu cầu phản tố về việc buộc đồng nguyên đơn chấm dứt hành vi cản trở ông Ư thực hiện quyền sử dụng đối với phần đất 295,4 m².

*Theo Tờ tường trình của ông Trần Văn N, sinh năm 1963; Hiện cư ngụ tại tổ 21, ấp Vĩnh Phước, xã V, huyện A, tỉnh An Giang trình bày: Khi bà Hồ Thị T (mẹ ông N) còn sống có kể lại cụ thể nguồn gốc của mảnh đất ông Ư đang sở hữu là cách đây trên 150 năm, cụ Trương Thị Đ có mua một phần đất diện tích trên 02 công của ông Huỳnh Văn C sinh năm 1858 (ông cố nội của ông Huỳnh Thanh C) để ở và sinh sống làm ăn và cụ Đ đứng tên phần đất này. Cụ Đ có 02 người con trai, người anh lớn là ông Hồ Văn K (ông nội của ông Hồ Văn B) và người em là ông Hồ Phú N (ông ngoại của ông, ông nội của ông Ư). Ông Hồ Phú N sống ở chung và nuôi dưỡng cụ Đ ở mảnh đất này, còn ông Hồ Văn K thì có gia đình ra riêng và ở trên phần đất mà cụ Đ đã chia cho chính là phần đất mà ông Hồ Văn B (cha của ông C1, C2, C3, H1) đang ở hiện nay. Khi cụ Đ qua đời thì ông N tiếp tục ở trên đất làm ăn thờ cúng ông bà, đến năm 1971 thì ông N chết có giao lại nhà, đất cho ông Hồ Văn T (cậu 8, cha ông Ư) sinh năm 1924 để thờ cúng ông bà nối tiếp. Đến năm 2007 ông T qua đời để lại phần đất này cho Hồ Thành Ư và Hồ Thành N (con trai) quản lý, thờ cúng ông bà. Phần đất ở ngoài đường (phía ngoài sông) là đất lang bồi, ông N cho ông Hồ Văn T (con thứ 7 - cha ông Hồ Văn K) và bà Hồ Thị L (dì 4 -mẹ ông Trần Văn H) và một phần trong đường cho bà Hồ Thị T (dì 6 - mẹ bà Hồ Thị X) để ở. Đến năm 1978 chạy giặc Pôn Pốt về, ông T có cho ông Hồ Thắng T (cha ông Hồ Văn T) ở phía ngoài đường cho đến nay. Còn vấn đề ông T đứng tên giấy đất ở phần đất mà ông Ư đang ở hiện nay thì bà T không biết, chỉ nói là cụ Đ đứng ra mua và cụ Đ đứng tên vậy thôi.

Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/12/2023 và Bản vẽ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai- chi nhánh A lập ngày 05/02/2024 thể hiện phần đất tranh chấp tại các điểm 29, 28, 16, 17, 19, 20, 22 có diện tích 295,4 m2 có 02 căn nhà tại các điểm 4, 16, 17, 8, 9, 10, 5 có diện tích 60,0 m2 và các điểm 8, 9, 10, 6, 21, 20, 19, 18 có diện tích 188,7 m2 của ông Ư trên nhà có các thành viên sinh sống gồm ông Ư, Võ Thị Ngọc H sinh năm 1974 (vợ), Hồ Khoa N sinh năm 1997 (con), Hồ Quang H1 sinh năm 2008 (con). Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo Biên bản định giá tài sản ngày 27/12/2023 của TAND huyện A thể hiện giá đất thổ cư 220.000 đồng/m2; đất trồng cây lâu năm 60.000 đồng/m2. Trên đất có 01 căn nhà diện tích 15,2m x 9,7m xây bê tông, cốt thép, vách tầng xây, nền gạch ceramit có giá 756.048.080 đồng và 01 căn nhà diện tích 5 m x 9,7 m nền bê tông, cột gỗ, vách tầng xây mái tole có giá 123.529.500 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện An phú tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của ông Hồ Thành Ư về việc buộc các ông C1, C2, C3, H1 chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Hồ Thành Ư.

Công nhận cho ông Hồ Thành Ư được quyền quản lý, sử dụng phần đất có các điểm 29, 28, 16, 17, 19, 20, 22 diện tích 295,4m2 thể hiện tại Bản vẽ hiện trạng ngày 07/02/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh A (đính kèm bản án).

Ông Ư có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên theo quy định của pháp luật về đất đai.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 28/4/2025, nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp Phúc thẩm xem xét, lại toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận cho nguyên đơn được quyền sử dụng đất diện tích là 295,4m2, buộc bị đơn phải tháo dỡ di dời nhà trả đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm

Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu được chấp nhận như đơn khởi kiện.

Bị đơn do ông Trần Hùng Duy K là đại diện ủy quyền đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, thống nhất bản án sơ thẩm đã tuyên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS năm 2015, đề nghị xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 72/2025/DS-ST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện A về cách tuyên án đối với phần chi phí tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1 kháng cáo trong hạn luật định và có nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về sự có mặt của đương sự: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa hôm nay, một số các bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]Về thủ tục ủy quyền:

-Nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1 ủy quyền cho ông Lôi Phương H. Bị đơn ủy quyền cho ông Trần Hùng Duy K. Hội đồng xét xử xem xét đối với các thủ tục ủy quyền phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]Xét yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1 Hội đồng xét xử xét thấy:

Phần đất tranh chấp do cụ T và ông Ư quản lý, sử dụng từ trước năm 1979 và được cả nguyên đơn và bị đơn thống nhất. Phần diện tích đất tranh chấp 295,4m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn ông Hồ Văn C1, ông Hồ Văn C2, ông Hồ Văn C3 và ông Hồ Văn H1 căn cứ vào Trích lục địa bộ ngày 03/01/1986 diện tích 0,24.20ha theo số địa bộ 211, lô 91, tờ số 3 của chính quyền chế độ cũ cấp cho ông Hồ Văn T để khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với phần đất diện tích 295,4m² gồm các điểm 29, 28, 16, 17, 19, 20, 22 theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh A ngày 07/02/2024 cho các nguyên đơn và buộc bị đơn ông Ư cùng vợ, con di dời nhà trả đất nhưng theo Công văn số 675/NCAP-KT ngày 25/3/2025 của Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh A thì hiện không lưu trữ tài liệu về Trích lục địa bộ ngày 03/01/1986. Do đó không có cơ sở để kết luận phần đất tranh chấp là nằm trong diện tích đất cụ Hồ Văn T quản lý theo Trích lục địa bộ ngày 03/01/1986.

Nguyên đơn trình bày cho cụ T và ông Ư ở đậu từ trước năm 1979 nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh cho bị đơn ở đậu trên đất. Trong quá trình sử dụng đất cụ T có đóng thuế đất hàng năm từ năm 1997-2001, bên cạnh đó ông Ư nhiều lần sửa chữa nhà nguyên đơn không tranh chấp và ngăn cản. Năm 2022, sau khi ông Ư xây dựng lại nhà thì ông Q là em ruột nguyên đơn có tranh chấp đất với ông Ư và được UBND xã V hòa giải, tại biên bản hòa giải của UBND xã V ngày 23/12/2023 ông Q thống nhất để phía gia đình ông Ư được toàn quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu của tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình sử dụng đất của bị đơn và Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ.

Các nguyên đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết mới hay chứng cứ bổ sung chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1 như đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở.

[4]Về chi phí tố tụng: Phần nhận định của bản án sơ thẩm có nhận định “Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu toàn bộ chi phí dùng vào việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản. Đồng nguyên đơn đã nộp đủ nên không phải nộp thêm và không đề cập đến trong phần quyết định”. Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định “Đồng nguyên đơn đã nộp đủ nên không phải nộp thêm và không đề cập đến trong phần quyết định” là chưa thực hiện đúng theo mục 28 Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn Mẫu số 52 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) do đó cần điều chỉnh lại cách tuyên phần quyết định của bản án đối với chi phí tố tụng cụ thể: Các nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí dùng vào việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tổng cộng là 3.363.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí dùng vào việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tổng cộng là 3.363.000 đồng (các nguyên đơn đã thực hiện xong).

[5]Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1 mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1.Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1.

2.Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 72/22025/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện A (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 15), tỉnh An Giang về cách tuyên án phần chi phí tố tụng.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của ông Hồ Thành Ư về việc buộc các ông C1, C2, C3, H1 chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Hồ Thành Ư.

Công nhận cho ông Hồ Thành Ư được quyền quản lý, sử dụng phần đất có các điểm 29, 28, 16, 17, 19, 20, 22 diện tích 295,4m2 thể hiện tại Bản vẽ hiện trạng ngày 07/02/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh A (đính kèm bản án).

Ông Ư có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện kê khai, đăng kí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên theo quy định của pháp luật về đất đai.

3.Về chi phí tố tụng : Các ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1 phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định, định giá số tiền 3.363.000đ (đã nộp xong)

4.Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Các nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí theo các biên lai thu số 0008599, 0008600, 0008601, 00086002 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 15).

Hoàn lại cho ông Hồ Thành Ư 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010154 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 15).

Án phí dân sự phúc thẩm: Các nguyên đơn ông Hồ Văn C1, Hồ Văn C2, Hồ Văn C3, Hồ Văn H1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí của các nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010531, 0010530, 0010529, 0010528 ngày 08/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh An Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 15).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

25
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời nhà trả lại đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất số 249/2025/DS-PT ngày 28/08/2025

Số hiệu:249/2025/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/08/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về