Bản án về tranh chấp nợ hụi số 133/2022/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 133/2022/DS-ST NGÀY 13/09/2022 VỀ TRANH CHẤP NỢ HỤI

Ngày 13 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2022/TLST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2022/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim Ch, sinh năm 1971 (Có mặt) Địa chỉ cư trú: Ấp ĐH, xã THĐ, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Mai Thanh X, sinh năm 1986 (Vắng mặt) Địa chỉ cư trú: Ấp ĐH, xã THĐ, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1985 (Vắng mặt) Địa chỉ: Khóm A, phường TTh, TP CM, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 4 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Kim Ch trình bày:

Bà có mở hụi ở địa phương do bà làm chủ hụi, trong đó bà Mai Thanh X có tham gia chơi hụi của bà cụ thể như sau:

Dây thứ nhất: Mở ngày 25/9/2018 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), dây hụi có 26 chân, mỗi tháng khui một lần, trong đó bà X có tham gia chơi 01 chân. Đến ngày 25/4/2019 âm lịch bà X hốt hụi, đối với dây hụi này bà X còn nợ lại bà số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Dây thứ hai: Mở ngày 25/9/2018 âm lịch, loại hụi 500.000 (Năm trăm nghìn đồng), dây hụi có 30 chân, mỗi tháng khui một lần, trong đó bà X có tham gia chơi 01 chân. Đến ngày 25/3/2019 âm lịch bà X hốt hụi, đối với dây hụi này bà X còn nợ lại bà số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Dây thứ ba: Mở ngày 10/01/2019 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), dây hụi có 26 chân, mỗi tháng khui một lần, trong đó bà X có tham gia chơi 02 chân. Đến ngày 10/02/2019 âm lịch và ngày 10/10/2019 âm lịch bà X hốt hụi, đối với dây hụi này bà X còn nợ lại bà số tiền 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng).

Dây thứ tư: Mở ngày 10/01/2019 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), dây hụi có 26 chân, mỗi tháng khui một lần, trong đó bà X có tham gia chơi 01 chân. Đến ngày 10/4/2020 âm lịch bà X hốt hụi, đối với dây hụi này bà X còn nợ lại bà số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).

Dây thứ năm: Mở ngày 10/7/2019 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), dây hụi có 25 chân, mỗi tháng khui một lần, trong đó bà X tham gia chơi 02 chân. Đến ngày 10/8/2019 âm lịch và ngày 10/12/2019 âm lịch bà X hốt hụi, đối với dây hụi này bà X còn nợ lại bà số tiền 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng).

Dây thứ sáu: Mở ngày 10/7/2019 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), dây hụi có 26 chân, mỗi tháng khui một lần, trong đó bà X có tham gia chơi 01 chân. Đến ngày 10/4/2020 âm lịch bà X hốt hụi, đối với dây hụi này bà X còn nợ lại bà số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Tổng số tiền hụi bà X nợ bà là 121.000.000 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu đồng). Tuy nhiên, bà X còn lại 04 chân hụi sống chưa hốt với số tiền 46.400.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng), sau khi đối trừ bà X còn nợ bà số tiền 74.600.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tại đơn khởi kiện bà Ch yêu cầu bà Mai Thanh X và ông Trịnh Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Ch số tiền nợ hụi là 74.600.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai ngày 27 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước và tại phiên tòa bà Ch không yêu cầu ông H liên đới trả nợ vì ông H không liên quan. Đồng thời, bà Ch thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà X trả cho bà Ch số tiền nợ hụi 72.600.000 đồng, vì trước đây bà X đã trả cho bà Ch được 2.000.000 đồng.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bà Mai Thanh X trình bày:

Vào năm 2018, 2019 bà có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Kim Ch làm chủ hụi củ thể như sau:

Dây thứ nhất: Mở ngày 25/9/2018 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), dây hụi có 26 chân, trong đó bà có tham gia chơi 01 chân. Đến ngày 25/4/2019 âm lịch bà hốt hụi, đối với dây hụi này bà còn nợ lại bà Ch số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Dây thứ hai: Mở ngày 25/9/2018 âm lịch, loại hụi 500.000 (Năm trăm nghìn đồng), dây hụi có 30 chân, trong đó bà có tham gia chơi 01 chân. Đến ngày 25/3/2019 âm lịch bà hốt hụi, đối với dây hụi này bà còn nợ lại bà Ch số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Dây thứ ba: Mở ngày 10/01/2019 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), dây hụi có 26 chân, trong đó bà có tham gia chơi 02 chân. Đến ngày 10/02/2019 âm lịch và ngày 10/10/2019 bà hốt hụi, đối với dây hụi này bà còn nợ lại bà Ch số tiền 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng).

Dây thứ tư: Mở ngày 10/01/2019 âm lịch, loại hụi 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), dây hụi có 26 chân, trong đó bà có tham gia chơi 01 chân. Đến ngày 10/4/2020 âm lịch bà hốt hụi, đối với dây hụi này bà còn nợ lại bà Ch số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).

Dây thứ năm: Mở ngày 10/7/2019 âm lịch, bà có tham gia chơi hụi do bà Ch làm chủ hụi, loại hụi 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), dây hụi có 25 chân, trong đó bà có tham gia chơi 02 chân. Đến ngày 10/8/2019 âm lịch và ngày 10/12/2019 bà hốt hụi, đối với dây hụi này bà còn nợ lại bà Ch số tiền 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng).

Dây thứ sáu: Mở ngày 10/7/2019 âm lịch, bà có tham gia chơi hụi do bà Ch làm chủ hụi, loại hụi 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), dây hụi có 26 chân, trong đó bà có tham gia chơi 01 chân. Đến ngày 10/4/2020 âm lịch bà hốt hụi, đối với dây hụi này bà còn nợ lại bà Ch số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Tổng số tiền bà nợ bà Ch là 121.000.000.000 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu đồng), tuy nhiên bà còn chơi của bà Ch 04 chân hụi sống, sau khi hốt và đóng lại hụi chết thi còn dư được 46.400.000 đồng, đối trừ với số tiền hụi bà nợ bà Ch 121.000.000.000 đồng thì bà còn nợ bà Ch là 74.600.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).

Do tình hình dịch bệnh, chổ làm chỉ trả 50% lương cơ bản, không tăng ca nên mất khả năng đóng hụi cho bà Ch. Sau đó bà Ch có yêu cầu Tổ hoà giải ấp Đông Hưng, xã Tân Hưng Đông giải quyết, tại đây bà thừa nhận còn nợ bà Ch số tiền 74.600.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Bà và bà Ch thoả thuận đúng ngày 05 hàng tháng bà sẽ trả tiền hụi cho bà Ch, ngày 05/11 và ngày 05/12 năm 2021 dương lịch trả mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), từ ngày 05/01/2022 mỗi tháng trả 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) đến khi hết nợ. Chữ ký và ghi Mai Thanh X trong biên bản hoà giải ngày 21/10/2021 là của bà.

Sau khi thoả thuận tại buổi hoà giải của Tổ hoà giải ấp Đông Hưng bà đã thực hiện theo thoả thuận trả cho bà Ch được 02 tháng với số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Đến tháng 01/2022 do bị nhiễm Covid nên bị cách ly y tế và sau đó bị đuổi việc ở Công ty Phương Vũ nên không có nguồn thu nhập trả nợ cho bà Ch như thoả thuận. Nay bà đồng ý trả cho bà Ch số tiền nợ hụi còn lại là 72.600.000 đồng (Bảy mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Đối với yêu cầu ông Trịnh Văn H trả nợ thì bà không đồng ý. Vì bà và ông H đã ly hôn với nhau vào năm 2015 tại Bản án hôn nhân gia đình số 128/2015/HNGĐ-ST ngày 23/7/2015 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Sau khi ly hôn bà mới chơi hụi của bà Ch nên không liên quan gì đến ông Trịnh Văn H.

Đối với bà Mai Thanh X và ông Trịnh Văn H, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập bà X và ông H để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng bà X và ông H vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Kim Ch đối với bà Mai Thanh X, buộc bà X có nghĩa vụ trả cho bà Ch số tiền nợ hụi 72.600.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà X phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn bà Nguyễn Kim Ch với bị đơn bà Mai Thanh X là “Tranh chấp nợ hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn bà Mai Thanh X có địa chỉ tại ấp Đông Hưng, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng theo quy đinh tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tòa án đã triệu tập bà Mai Thanh X và ông Trịnh Văn H hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng bà X và ông H vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử vắng mặt đối với bà X và ông H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án:

Hội đồng xét xử nhận thấy, tại đơn khởi kiện bà Ch yêu cầu bà Mai Thanh X và ông Trịnh Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi là 74.600.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Tại biên bản lấy lời khai ngày 27 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước và tại phiên tòa bà Ch chỉ yêu cầu bà X có nghĩa vụ trả nợ, vì khi chơi hụi ông H và bà Xuyên đã ly hôn, ông H không liên quan đến nợ hụi của bà X. Đồng thời, bà Ch thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà X trả cho bà Ch số tiền nợ hụi 72.600.000 đồng, vì trước đây bà X đã trả cho bà Ch được 2.000.000 đồng. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của Chi là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu của bà Ch về việc buộc bà Mai Thanh X trả số tiền nợ hụi 72.600.000 đồng (Bảy mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng), Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại biên bản lấy lời khai ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bà Mai Thanh X thừa nhận còn nợ bà Ch số tiền nợ hụi 72.600.000 đồng (Bảy mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng) và đồng ý trả cho bà Ch. Đây là tình tiết được các bên đương sự thừa nhận nên không phải chứng minh, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, bà Ch yêu cầu bà X trả lại số tiền nợ hụi 72.600.000 đồng (Bảy mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng) là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tại phiên toà là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự có giá ngạch: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Ch nên bà Mai Thanh X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.630.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26; 35; 39; 147, 227, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Các Điều 357, 471, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Ch đối với bà Mai Thanh X.

Buộc bà Mai Thanh X có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Kim Ch số tiền 72.600.000 đồng (Bảy mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bà Ch có đơn yêu cầu thi hành án, bà X không thi hành khoản tiền nêu trên thì bà X phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Mai Thanh X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.630.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Bà Nguyễn Kim Ch không phải chịu án phí, bà Ch có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 1.865.000 đồng (Một triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008053 ngày 22/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bà Nguyễn Kim Ch có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Mai Thanh X và ông Trịnh Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

181
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp nợ hụi số 133/2022/DS-ST

Số hiệu:133/2022/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 13/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về