Bản án về tranh chấp mua bán tài sản số 36/2025/DS-ST ngày 20/08/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 36/2025/DS-ST NGÀY 20/08/2025 VỀ TRANH CHẤP MUA BÁN TÀI SẢN

Trong ngày 30 tháng 7 và 20 tháng 8 năm 2025, tại: Hội trường (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh cũ), số 05 Trần Hưng Đạo, xã Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án dân sự thụ lý số: 103/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025, về: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2025/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2025; Quyết định ngưng phiên toà số: 12/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1974 và bà Võ Thị C, sinh năm 1976. Địa chỉ cũ: x xóm 4, thôn 6, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Nay là: x xóm 4, thôn T 6, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Trần Như Th, sinh năm 1974.

Địa chỉ liên hệ: 43 Nguyễn Văn C, phường L, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Nay là: 43 Nguyễn Văn Cx , phường B’Lao, tỉnh Lâm Đồng. Theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 1380, quyển số 03/2025/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/3/2025.

-Bị đơn:

1.Bà Trương Thị Nh, sinh năm 1950.

Địa chỉ cũ: Thôn 6, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Nay là: Thôn Tân Lâm 6, xã Đ T, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Việt L, sinh năm 1979. Theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 2266, quyển số 02/2025 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/4/2025.

2.Ông Hoàng Việt L.

Địa chỉ: Số nhà 03, thôn x, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Nay là: Số nhà 03, thôn T 5, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Kiến Q, sinh năm 1967. Số điện thoại liên hệ: 0909.626.xxx. Địa chỉ liên hệ: 35 Trần P TT Lộc T huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Nay là: 35 T, xã B 1, tỉnh L.

3.Bùi Thị N, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Số nhà 03, thôn x, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Nay là: Số nhà 03, thôn T 5, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Việt L, sinh năm 1979. Theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 3781, quyển số 03/2025 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/6/2025. (Ông Nguyễn Văn M, bà Võ Thị C vắng mặt, ủy quyền cho bà Phạm Trần Như Th

có mặt; Bị đơn bà Trương Thị Nh, bà Bùi Thị N vắng mặt, ủy quyền cho ông Hoàng Việt L có mặt; Bị đơn ông Hoàng Việt L và người đại diện theo ủy quyền ông Lưu Kiến Q có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và Võ Thị C là bà Phạm Trần Như T Trình bày: Ông M, bà C với bà Bùi Thị N, ông Hoàng Việt L, bà Trương Thị N là hàng xóm với nhau; giữa hai bên thường mua bán cà phê qua lại với nhau.

Ngày 25/6/2023 hai bên có lập giấy tờ viết tay nội dung: “Ngày 25/6/2023 bà Trương Thị N cùng hai con là Hoàng Việt L và Bùi Thị N có chốt với ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C 4 tấn cà phê Nhân (4000kg) với giá 43.500 đồng/kg. Hẹn tới tháng 12 năm 2023 trả cà phê nhân cho Ông M, bà C 4000kg (4 tấn) x 43,5 = 174.000.000đ (Một trăm bảy mươi bốn triệu đồng)”

Khi lập giấy phía Ông M, bà C là người lập giấy, phía dưới có chữ ký ghi họ và tên “Bùi Thị N” và chữ ký, ghi họ và tên “Hoàng Việt L” là chữ ký, chữ viết của bà N và ông L; bà Bùi Thị N có mặt ký, ghi: “Bà N” những không ghi đầy đủ họ và tên.

Ông M, bà C đã giao số tiền 174.000.000đ (Một trăm bảy mươi bốn triệu đồng) bằng tiền mặt cho phía bà Bùi Thị N, ông Hoàng Việt L, bà Trương Thị N.

Ngày 13/10/2023 bà Trương Thị N chốt cà phê nhận 300 kg (3 tạ) với giá 45.000đ/kg = 13.500.000đ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) phía dưới có chữ ký, chữ viết ghi họ và tên: “Trương Thị N” là chữ ký, chữ viết của Bà N. Phía Ông M và bà C đã giao số tiền 13.500.000đ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) cho phía Bà N.

Ông M, bà C yêu cầu phía bà N, ông L, Bà N giao cà phê nhiều lần nhưng phía gia đình bà N, ông L, Bà N không giao cà phê làm ảnh hưởng đến quyền lợi của phía nguyên đơn Ông M, bà C.

Phía nguyên đơn không tính lãi trong năm 2023 tuy nhiên từ 1/1/2024 đến nay thì yêu cầu tính lãi vì nguyên đơn phải trả lãi cho phía công ty.

Nay yêu câu Tòa án giải quyết:

-Buộc ông L, bà N và Bà N thanh toán 4000 kg cà phê nhân cho Ông M, bà C với giá tại thời điểm giải quyết ngày 20/8/2025 là 123.000đ/1kg thành tiền là 492.000.000đ (Bốn trăm chín mươi hai triệu đồng).

-Buộc Bà N thanh toán 300 kg cà phê nhân cho Ông M, bà C với giá tại thời điểm giải quyết ngày 20/8/2025 là 123.000đ/1kg thành tiền là 36.900.000đ;

Tại phiên toà Ông M, bà C rút yêu cầu tính lãi đối việc chậm thanh toán cà phê từ tháng 1/2024 đến thời điểm xét xử.

Ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Ngoài khoản nợ nêu trên thì ông L, bà N và Bà N không còn nợ Ông M, bà C khoản nợ nào khác.

- Bị đơn ông Hoàng Việt L, đồng thời ông Hoàng Việt L cũng là người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị N và bà Bùi Thị N trình bày:

Tôi với Bà N là mẹ con ruột, tôi với bà Bùi Thị N là vợ chồng.

Gia đình tôi với gia đình Ông M, bà C là chỗ hàng xóm.

Tôi thừa nhận chữ ký và ghi họ và tên “Bùi Thị N”, “Hoàng Việt L” và “Trương Thị N” trên tờ giấy kẻ ngang do phía nguyên đơn Ông M, bà C đúng là chữ ký, chữ viết của tôi Hoàng Việt L và vợ tôi là bà Bùi Thị N và mẹ tôi là Trương Thị N.

Gia đình tôi bắt đầu mua bán cà phê với gia đình Ông M bà C từ năm 2023 đến năm 2024.

Giấy ngày 25/6/2023 đúng là do phía Ông M và bà C lập, lý do lập giấy: Ông M, bà C thông báo chốt lại tổng số cà phê đã chốt và lấy tiền và yêu cầu chúng tôi ký xác nhận, nhưng sau này tôi kiểm tra thì Ông M, bà C chốt cả phần lãi.

Đợt chốt 4000 kg cà phê nhân thì tôi nhận được khoảng 130.000.000đ quay về

chứ không nhớ chính xác.

Đợt chốt 300 kg cà phê thì tôi xác nhận phía Bà N nhận đủ 13.500.000đ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Nay phía nguyên đơn yêu câu Tòa án giải quyết:

- Buộc ông L, bà N và Bà N thanh toán 4000 kg cà phê nhân cho Ông M, bà C với giá tại thời điểm giải quyết ngày 20/8/2025 là 123.000đ/1kg thành tiền là 492.000.000đ (Bốn trăm chín mươi hai triệu đồng).

- Buộc Bà N thanh toán 300 kg cà phê nhân cho Ông M, bà C với giá tại thời điểm giải quyết ngày 20/8/2025 là 123.000đ/1kg thành tiền là 36.900.000đ;

Thì tôi không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của phía nguyên đơn.

Tôi không yêu cầu gì khác, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác, không yêu cầu triệu tập ai tham gia tố tụng đề làm rõ vấn đề nào khác.

Tôi cam đoan lời khai của tôi là đúng sự thật.

- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm

Đồng tại phiên tòa:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử và của thư ký là đúng quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C với bị đơn ông Hoàng Việt L, bà Bùi Thị N và bà Trương Thị N, về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.

Buộc bị đơn ông Hoàng Việt L, bà Bùi Thị N và bà Trương Thị N phải thanh toán cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C giá trị của 4000kg cà phê nhân với số tiền là: 481.332.000đ (Bốn trăm tám mươi mốt ba trăm ba mươi hai nghìn đồng) theo giấy viết tay lập ngày 25/6/2023.

Buộc bị đơn bà Trương Thị N phải thanh toán cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C giá trị của 300kg cà phê nhân với số tiền là: 36.099.900đ (Bà mươi sáu nghìn không trăm chín mươi chín nghìn chím trăm đồng) theo giấy viết tay lập ngày 13/10/2023.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định Thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền phải thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại điều 357, điều 468 của Bộ luật dân sự.

Đình chỉ yêu cầu tính lãi chậm giao cà phê từ tháng 1/2024 đến thời điểm xét xử của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C với bị đơn ông Hoàng Việt L, bà Bùi Thị N và bà Trương Thị N.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Hoàng Việt L, và Bùi Thị N và bà Trương Thị N phải chịu án phí trên số tiền buộc phải thanh toán cho nguyên đơn Ông M và bà C theo quy định của pháp luật. Buộc bị đơn phải chịu án phí trên số tiền không được Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, của đại diện Viện kiểm sát và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và

bà Võ Thị C khởi kiện yêu cầu:

Buộc ông L, bà N và Bà N thanh toán 4000 kg cà phê nhân cho Ông M, bà C với giá tại thời điểm giải quyết ngày 20/8/2025 là 123.000đ/1kg thành tiền là 492.000.000đ (Bốn trăm chín mươi hai triệu đồng).

Buộc Bà N thanh toán 300 kg cà phê nhân cho Ông M, bà C với giá tại thời điểm giải quyết ngày 20/8/2025 là 123.000đ/1kg thành tiền là 36.900.000đ;

Được xác định là quan hệ: “Tranh chấp hợp mua bán tài sản" theo Điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C với bị đơn bà Trương Thị N, ông Hoàng Việt L và bà Bùi Thị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi bị đơn cư trú tại xã Đinh Trang Thượng, tỉnh Lâm Đồng nên Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

[3]. Về nội dung vụ án: Ngày 25/6/2023 bà Trương Thị N cùng con là anh Hoàng Việt L và bà Bùi Thị N có chốt với ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C 4 tấn cà phê Nhân (4000kg) với giá 43.500 đồng/kg. Hẹn tới thánh 12 năm 2023 trả cà phê nhân cho ông bà M, C.

Ngày 13/10/2023 bà Trương Thị N chốt cà phê nhận 300kg (3 tạ) với giá 45.000đ thành tiền 13.500.000đ

Nhưng đến nay vẫn chưa giao cà phê cho Ông M và bà C làm phát sinh tranh chấp.

[4]Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C yêu cầu:

Buộc ông L, bà N và Bà N thanh toán 4000 kg cà phê nhân cho Ông M, bà C với giá tại thời điểm giải quyết ngày 20/8/2025 là 123.000đ/1kg thành tiền là 492.000.000đ (Bốn trăm chín mươi hai triệu đồng).

Buộc Bà N thanh toán 300 kg cà phê nhân cho Ông M, bà C với giá tại thời điểm giải quyết ngày 20/8/2025 là 123.000đ/1kg thành tiền là 36.900.000đ;

Hội đồng xét xử xét thấy: Khi chốt cà phê giữa Ông M, bà C với bà N, ông L, Bà N có lập giấy viết tay đề ngày 25/6/2023; trong quá trình giải quyết vụ án ông L đại diện theo ủy quyền của bà N và Bà N thừa nhận chữ ký và ghi họ và tên “Bùi Thị N”, “Hoàng Việt L” và “Trương Thị N” trên tờ giấy kẻ ngang đề ngày 25/6/2023 do phía nguyên đơn Ông M, bà C đúng là chữ ký, chữ viết của tôi Hoàng Việt L và vợ tôi là bà Bùi Thị N và mẹ tôi là Trương Thị N đầy là sự kiện pháp lý được đương sự thừa nhận.

Tuy nhiên tại phiên Toà mở ngày 30/7/2025 ông Hoàng Việt L lại xác định chữ “Bà N” trên giấy kẻ ngang đề ngày 25/5/2023 không phải là chữ ký bà Trương Thị N là mâu thuẫn với lời khai trước đây của ông Hoàng Việt L; tuy nhiên Hội đồng xét xử đã ngưng phiên toà và ra thông báo nộp tiền chi phí tố tụng số 110/2025/TB-TA ngày 30/7/2025 tống đạt cho ông Hoàng Việt L nhưng hết thời hạn ấn định trong thông báo ông Hoàng Việt L cũng không nộp chi phí tố tụng với lý do: Không có tiền đóng là từ bỏ yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký.

Đồng thời, tại đơn khởi kiện đề ngày 01/02/2025; đơn đề nghị (Không tiến hành hoà giải đối thoại tại trung tâm hoà giải Toà án) đề ngày 07/2/2025; Bản giải trình đề ngày 07/02/2025; Đơn đề nghị rút đơn khởi kiện đề ngày 09/6/2025 phía bị đơn ông Hoàng Việt L, bà Bùi Thị N và bà Trương Thị N đều thừa nhận: “Đồng ý trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Cúc số tiền đã nhận là 187.500.000đ và lãi suất là 10%/năm tính từ ngày 01/12/2023 đến khi trả xong, tạm tính đến ngày 01/02/2025 là 21.875.000đ. Tổng số tiền chúng tôi đồng ý trả lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Cúc là 209.375.000đ (Hai trăm linh chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Đây là sự kiện pháp lý đương sự tự thừa nhận nên không cần phải chứng minh do đó việc giám định chữ ký là không cần thiết.

Qua đó, có cơ sở khẳng định ngày 25/6/2023 phía bị đơn ông Hoàng Việt L, bà Bùi Thị N và bà Trương Thị N đã nhận được tiền là 174.000.000đ chốt 4 tấn cà phê từ Ông M và bà C; và ngày 13/10/2023 bà Trương Thị N đã nhận được số tiền 13.500 chốt 300kg (3 tạ) cà phê nhân từ Ông M và bà C.

Theo lời khai của phía nguyên đơn và bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án thì thời điểm trả cà phê của cả hai đợt là tháng 12 năm 2023 và phù hợp với giấy lập ngày 25/6/2023, phong tục tập quán và thời gian thu hoạch cà phê tại địa phương.

Về giá cà phê tại thời điểm xét xử: Phía nguyên đơn yêu cầu áp giá cà phê tại thời điểm giải quyết là 123.000đ/kg theo giá của ông ty TNHH Lý Thành; phía bị đơn yêu cầu áp giá cà phê tại thời điểm ngày 30/7/2025 là 97.000đ.

Xét tại thời điểm xét xử Toà án tiến hành xác minh giá của 3 điểm thu mua cà phê thì trung bình giá tại thời điểm ngày 20/8/2025 là 120.333đ/01kg cà phê nhân để giải quyết tranh chấp.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xác định phía nguyên đơn đã thanh toán tiền chốt mua cà phê cho bị đơn đầy đủ; Phía bị đơn chưa giao cà phê cho nguyên đơn và vi phạm thoả thuận của hai bên, lỗi thuộc về phía bị đơn nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông M, bà C buộc ông L, bà N và Bà N thanh toán lại giá trị 4000kg cà phê nhận quy đổi với giá cà phê tại thời điểm xét xử là 120.333đ, cụ thể: 4000kg x 120.333đ/kg = 481.332.000đ;

Buộc bà Trương Thị N giá trị 300kg cà phê nhận quy đổi với giá cà phê tại thời điểm xét xử là 12.333đ/kg, cụ thể: 300kg x 120,333đ = 36.099.900đ;

[5]Tại phiên toà phía nguyên đơn rút đối với yêu cầu tính lãi nên đình chỉ giải quyết với yêu cầu này.

[6]Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tính trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí trên số tiền không được Toà án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

Căn cứ Điều 430, 434, 437; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án,

Tuyên xử:

1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C với bị đơn ông Hoàng Việt L, bà Bùi Thị N và bà Trương Thị N, về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.

1.1.Buộc bị đơn ông Hoàng Việt L, bà Bùi Thị N và bà Trương Thị N phải thanh toán cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C giá trị của 4000kg cà phê nhân với số tiền là: 481.332.000đ (Bốn trăm tám mươi mốt ba trăm ba mươi hai nghìn đồng) theo giấy viết tay lập ngày 25/6/2023.

1.2.Buộc bị đơn bà Trương Thị N phải thanh toán cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C giá trị của 300kg cà phê nhân với số tiền là: 36.099.900đ (Bà mươi sáu nghìn không trăm chín mươi chín nghìn chím trăm đồng) theo giấy viết tay lập ngày 13/10/2023.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định Thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền phải thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại điều 357, điều 468 của Bộ luật dân sự.

1.3.Đình chỉ yêu cầu tính lãi chậm giao cà phê từ tháng 1/2024 đến thời điểm xét xử của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C với bị đơn ông Hoàng Việt L, bà Bùi Thị N và bà Trương Thị N.

2.Buộc bị đơn ông Hoàng Việt L, bà Bùi Thị N và bà Trương Thị N liên đới nộp số tiền 23.253.280đ (Hai mươi ba triệu hai trăm năm mươi ba nghìn hai trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm, trong đó: ông Hoàng Việt L, và Bùi Thị N và bà Trương Thị N mỗi người phải đóng 7.751.093đ (Bảy triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn không trăm chín mươi ba đồng);

Buộc bà Trương Thị N phải nộp số tiền 1.804.995đ (Một triệu tám trăm linh bốn nghìn chín trăm chín mươi năm đồng) án phí dân sự sơ thẩm, bà Trương Thị N là người cao tuổi có đơn xin miễn tạm ứng án phí, án phí được miễn tiền án phí với số tiền 9.556.088đ (chín triệu năm trăm lăm mươi sáu nghìn không trăm tám mươi tám đồng).

Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C phải chịu 573.400đ (Năm trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm đồng án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền không được Toà án chấp nhận được trừ vào số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C với số tiền là 16.517.000đ (Mười sáu triệu năm trăm mười bảy nghìn đồng) theo biên lai số 0000470 ngày 21/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh trước đây. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị C số tiền còn lại là 15.943.600đ (Mười năm triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm nghìn đồng).

3.Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4.Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

27
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp mua bán tài sản số 36/2025/DS-ST ngày 20/08/2025

Số hiệu:36/2025/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/08/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về