Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 98/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 98/2024/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 173/2024/TLST–HNGĐ, ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST–HNGĐ, ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp B, xã VLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Anh Trịnh Văn Đ, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp Ngan Kè, xã Ninh Quới, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị Trần Thị D vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Trịnh Văn Đ vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2014, chị D và anh Đ có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 08/01/2015. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cự cải, từ đó cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và chị D, anh Đ đã ly thân với nhau từ tháng 10 năm 2020 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh Trịnh Văn Đ.

Về quan hệ con chung: Chị D xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh Đ có 01 người con chung là cháu Trịnh Bảo Kh, sinh ngày 06/8/2015. Hiện nay cháu K đang sống cùng chị D nên chị D yêu cầu nuôi con nhưng không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị D không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Trịnh Văn Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có đến nhà anh Đ để tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án cho anh Đ. Tuy nhiên, sau khi anh Đ nhận tất cả các văn bản của toà án thì anh Đ không đến Toà theo giấy triệu tập cũng như không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị D. Do đó, Toà án tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị D được ly hôn với anh Trịnh Văn Đ.

2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Trịnh Bảo Kh, sinh ngày 06/8/2015 cho chị Trần Thị D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trịnh Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Trần Thị D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trịnh Văn Đ và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trịnh Văn Đ có nơi đăng ký thường trú tại ấp Ng, xã N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn chị Trần Thị D tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị D. Bị đơn anh Trịnh Văn Đ vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Đ.

[4] Xét đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Trần Thị D và anh Trịnh Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới theo phong tục và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 08/01/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh Đ là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, chị D xác định chị và anh Đ thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng anh chị thường xuyên cự cải và chị D, anh Đ đã ly thân với nhau từ tháng 10 năm 2020 cho đến nay. Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị D và anh Đ hiện cả hai không sống chung một nhà thời gian dài nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị D được ly hôn với anh Trịnh Văn Đ.

[5] Về quan hệ con chung: Chị D xác định trong quá trình chung sống, giữa chị D và anh Đ có 01 người con chung là cháu Trịnh Bảo Kh, sinh ngày 06/8/2015. Hiện nay cháu K đang sống cùng chị D nên chị D yêu cầu nuôi con nhưng không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu K đang sống cùng chị D và cháu đã có cuộc sống, môi trường ăn, ở ổn định. Đồng thời, cháu K có nguyện vọng theo sống cùng mẹ là chị D. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Trịnh Bảo Kh, sinh ngày 06/8/2015 cho chị Trần Thị D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trịnh Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[6] Về quan hệ tài sản: Chị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Buộc chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị D.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị D được ly hôn với anh Trịnh Văn Đ.

2/ Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Trịnh Bảo Kh, sinh ngày 06/8/2015 cho chị Trần Thị D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trịnh Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/ Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải nộp số tiền là 300.000 đồng nhưng chị D đã dự nộp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007731 ngày 26/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

104
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 98/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:98/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hồng Dân - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về