Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 95/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 95/2023/HNGĐ-ST NGÀY 15/06/2023 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 208/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Kim T, sinh năm 1985

2. Bị đơn: Anh Trần Hoài T1, sinh năm 1989

Các đương sự cùng địa chỉ: Ấp Hiệp Tân, xã MHS, huyện HĐ, tỉnh KG.

(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo nội dung đơn xin ly hôn, chị Dương Thị Kim T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 quen biết rồi tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2012, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang ngày 13/12/2016. Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị sinh được 02 người con chung tên Trần Thị A1, sinh ngày 19/10/2012 và Dương Minh P, sinh ngày 09/01/2021.

Về mâu thuẫn gia đình: Từ năm 2019, anh chị thường xuyên P sinh mâu thuẫn do anh T1 có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Từ đó vợ chồng hay xảy ra cự cãi, bất hòa trong gia đình nên hai bên cũng đã sống ly thân từ nhiều năm nay, một mình chị phải tự nuôi các con nhỏ.

Nay chị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất giải quyết những nội dung sau đây:

- Về hôn nhân: Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh T1.

- Về con chung: Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Trần Hoài T1:

Các văn bản tố tụng của Tòa án đã được thông báo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng anh T1 không có mặt theo các Thông báo của Tòa án và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về nội dung yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của chị T nên không có lời khai của anh T1 tại Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Dương Thị Kim T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trần Hoài T1. Phía bị đơn cư trú tại ấp Hiệp Tân, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy đây là tranh chấp về quan hệ hôn nhân gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án thông báo đến lần thứ hai về việc tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Kim T và anh Trần Hoài T1 kết hôn là do tự nguyện yêu thương và đi đến hôn nhân. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/12/2016 là đúng quy định của Luật Hôn nhân gia đình. Do đó, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân anh chị P sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung, dẫn đến việc hai bên sống ly thân từ nhiều năm nay, không quan T1 đến cuộc sống của nhau.

Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy: Chị T và anh T1 hiện tại đang sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan T1 đến cuộc sống của nhau trong suốt thời gian dài. Trong thời gian thụ lý vụ án, Tòa án đã có thông báo các thủ tục tố tụng mời anh T1 có mặt tại các phiên hòa giải nhưng anh T1 đều không tham dự. Chứng tỏ anh T1 cũng không có thiện chí muốn hòa giải với chị T nên khả năng đoàn tụ gia đình giữa anh chị không có. Như vậy, HĐXX có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

[4]. Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Trần Thị A1, sinh ngày 19/10/2012 và Dương Minh P, sinh ngày 09/01/2021. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con. Xét thấy, từ khi anh chị sống ly thân đến nay, các cháu A1 và Minh P đều do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; đến nay đã có cuộc sống ổn định. Riêng cháu Trần Thị A1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Phía anh T1 cũng không có ý kiến gì về việc muốn nuôi con chung. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, HĐXX chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị T.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau này nếu các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của chị Dương Thị Kim T.

[6]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên! 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 227, 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Thị Kim T được ly hôn với anh Trần Hoài T1.

2. Về con chung:

- Giao cho chị Dương Thị Kim T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Thị A1, sinh ngày 19/10/2012 và Dương Minh P, sinh ngày 09/01/2021 đến khi các con tới tuổi trưởng thành.

Trong thời gian chị T nuôi dưỡng con chung, anh T1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha (mẹ) các cháu hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Chị Dương Thị Kim T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo biên lai thu số 0004563 ngày 27 tháng 3 năm 2023. Chị T không phải nộp thêm.

Án xử công khai. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

88
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 95/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:95/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hòn Đất - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/06/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về