Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 526/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 526/2024/HNGĐ-ST NGÀY 11/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G R, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công Ki vụ án thụ lý số: 162/2024/TLST - HNGĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 310/2024/QĐXX-ST, ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1998 (có đơn vắng mặt).

ĐKTT: Ấp BQ, xã HT, huyện GR, tỉnh KG Hiện đang sinh sống: Ấp BXC, xã KS, huyện TC, tỉnh TV

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp BQ, xã HT, huyện GR, tỉnh KG

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Th tự tìm tiến tới hôn nhân không có tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H T, huyện G R, tỉnh Kiên Giang. Quá trình hôn nhân giữa chị và anh Th không được hạnh phúc. Do chưa thật sự tìm hiểu kỷ về nhau nên khi về chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn anh Th cọc cằn, thô lỗ, sống thiếu trách nhiệm với gia đình hay ghen tuông vô cớ nên vợ chồng thường xuyên cự cải dẫn đến sống ly thân. Nay chị T xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th.

Về con chung: Chị T xác định có hai người con chung Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 17/7/2016; Nguyễn Hoàng Gia B, sinh ngày 27/3/2018, hiện các con đang sống cùng với Th và cháu K có nguyện vọng được ở với cha nên chị T giao con chung cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Th đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Th không có văn bản phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt.

Nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Văn Th đến tham dự phiên dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Th vẫn vắng mặt, không vì lý do bất khả kháng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông qua thủ tục niêm yết nơi cư trú của bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Đối với nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th.

Về con chung: Chị T xác định có hai người con chung Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 17/7/2016; Nguyễn Hoàng Gia B, sinh ngày 27/3/2018, hiện đang sống cùng với anh Th, nhưng trong suốt quá trình tố tụng anh Th vắng mặt không đưa ra yêu cầu hay ý kiến gì nên không có căn cứ để xem xét, theo ý kiến chị T cho rằng anh Th đang trực tiếp nuôi dưỡng. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho anh Th tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do anh Th vắng mặt không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Về tài sản chung; nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; buộc chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh Nguyễn Văn Th với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp B Q, xã H T, huyện G R, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện G R, tỉnh Kiên Giang. Đối với bị đơn trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng. Nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Mỹ T với anh Nguyễn Văn Th là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H T, huyện G R, tỉnh Kiên Giang, theo thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân, dẫn đến ly hôn chị T cho rằng giữa chị và anh Th đã không còn tình cảm với nhau thường xuyên cự cải nên cả hai đã không còn sống chung với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn. Đối với anh Nguyễn Văn Th Tòa án đã tiến hành thông báo các thủ tục tố tụng và triệu tập tham gia phiên tòa nhưng anh Th không có mặt và không có ý kiến phản hồi về việc ly hôn của chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân là nhằm để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, muốn đạt được điều này vợ chồng cùng xây dựng, nhưng chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh Th và cả hai đã sống ly thân. Đồng thời, theo xác minh tại địa phương nơi cư trú của anh Th xác định hiện tại chị T anh Th đã không còn sống chung với nhau. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Th.

[2.2]. Về con chung: Chị T xác định có hai người con chung Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 17/7/2016; Nguyễn Hoàng Gia B, sinh ngày 27/3/2018. Theo quy định của Luật hôn nhân và đình vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Trong suốt quá trình tố tụng anh Th đều vắng mặt không cung cấp tài liệu chứng cứ hay ý kiến gì về việc người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con. Theo ý kiến chị T từ khi vợ chồng ly thân các con sống với anh Th và cháu K có nguyện vọng được ở với cha sau khi cha mẹ ly hôn, nhằm giữ sự ổn định và đảm B điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của con, nghị nên tiếp tục giao hai con chung cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và nguyện vọng của cháu K. Về cấp dưỡng nuôi con do anh Th vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

Cháu K có nguyện vọng được ở với cha sau khi cha mẹ ly hôn.

Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, chị Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu án phi ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu của Cơ quan Thi hành án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 17/7/2016; Nguyễn Hoàng Gia B, sinh ngày 27/3/2018, cho anh Nguyễn Văn Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con. Về cấp dưỡng nuôi con không có yêu cầu nên không xem xét.

Cháu K có nguyện vọng được ở với cha sau khi cha mẹ ly hôn.

Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0005881 ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G R, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, anh Nguyễn Văn Th vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

71
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 526/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:526/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Riềng - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:11/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về