Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 33/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 33/2024/HNGĐ-ST NGÀY 24/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 67/2024/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc“Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Rơ Châm C, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Làng K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt

-Bị đơn: Anh Rơ Châm P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Làng K, xã I, huyện C tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

- Người phiên dịch: Bà Rơ Châm U, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 24/5/2024, bản tự khai, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Rơ Châm C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Rơ Châm C và anh Rơ Châm P tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004, không ai ép buộc. Đến ngày 19/8/2010 chị với anh P mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu chị với anh P chung sống hạnh phúc, nhưng được được vài năm thì anh P bắt đầu uống rượu, say xỉn, khi say anh P về nhà đánh đập vợ con, không lo làm ăn và chăm sóc gia đình, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Đến năm 2014 vợ chồng chị mâu thuẫn trầm trọng nên đã được già làng giải quyết cho chị với anh P ly hôn theo phong tục của người Jrai, từ đó chị với anh P không còn chung sống với nhau. Vì vậy chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Rơ Châm P.

Về con chung: Chị và anh Rơ Châm P có 03 con chung là Rơ Châm C1, sinh ngày 16/12/2004, Rơ Châm B, sinh ngày 24/3/2007 và Rơ Châm M, sinh ngày 12/4/2011. Hiện con lớn là Rơ Châm C1 đã thành niên, có khả năng lao động nên chị không yêu cầu giải quyết. Đối với 02 con nhỏ chưa thành niên, ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi trực tiếp cả 02 con chung, vì từ khi ly thân đến nay một mình chị vẫn nuôi các con, anh P không quan tâm chăm sóc gì.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị C không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, chị Rơ Châm C không có yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn là anh Rơ Châm P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh P không đến Tòa án làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của anh P đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị Rơ Châm C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Rơ Châm C và anh Rơ Châm P tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2004, đến ngày 19/8/2010 chị với anh P mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai theo giấy chứng nhận kết hôn số 31, nên hôn nhân giữa chị C và anh P là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống chị C cho rằng chị với anh P chung sống hạnh phúc được vài năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh P uống rượu, say xỉn, khi say anh P về nhà đánh đập vợ con, không lo làm ăn và chăm sóc gia đình, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Đến năm 2014, vợ chồng chị mâu thuẫn trầm trọng nên đã được già làng giải quyết cho chị với anh P ly hôn theo phong tục của người Jrai, từ đó chị với anh P không còn chung sống với nhau. Vì vậy chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Rơ Châm P.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, nhưng anh Rơ Châm P không lên Tòa án làm việc và không có ý kiến gửi cho Tòa án cho thấy anh P đã từ bỏ quyền lợi của mình, không muốn hàn gắn tình cảm với chị C và chính quyền địa phương cũng xác nhận anh P thường xuyên uống rượu, vợ chồng bất hòa, từ năm 2013 chị C và anh P đã được già làng giải quyết cho ly hôn theo phong tục của người Jrai. Từ những cơ sở đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị C và anh P đã thật sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị C là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh.

- Về con chung: Chị Rơ Châm C và anh Rơ Châm P có 03 con chung là Rơ Châm C1, sinh ngày 16/12/2004, Rơ Châm B, sinh ngày 24/3/2007 và Rơ Châm M, sinh ngày 12/4/2011.

Hiện con lớn là Rơ Châm C1 đã thành niên, có khả năng lao động nên chị C không yêu cầu giải quyết. Đối với 02 con nhỏ chưa thành niên, ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi trực tiếp cả 02 con chung.

Tại bản tự khai của 02 cháu Rơ Châm B và Rơ Châm M trình bày: Trường hợp bố mẹ các cháu ly hôn thì các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ.

Xét yêu cầu của chị C và nguyện vọng của các con thấy rằng: Kể từ khi vợ chồng sống ly thân, chị C là người nuôi trực tiếp cả 02 con chung, chị C vẫn đảm bảo cho sự phát triển bình thường về mọi mặt của các con. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án anh P không lên Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến của mình. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền nuôi con, nên không xem xét.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung khác: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Rơ Châm C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227;

khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Rơ Châm C được ly hôn với anh Rơ Châm P.

- Về con chung: Giao 02 cháu Rơ Châm B, sinh ngày 24/3/2007 và Rơ Châm M, sinh ngày 12/4/2011 cho chị Rơ Châm C trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Rơ Châm P không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Rơ Châm C.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Buộc chị Rơ Châm C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị C đã nộp tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0008251 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

128
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con số 33/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:33/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chư Păh - Gia Lai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về