TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
BẢN ÁN 47/2024/HNGĐ-ST NGÀY 30/9/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXX-ST ngày 09/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Phương Thị Nguyệt A, sinh năm 1978; Địa chỉ: 192/13 đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Thanh B, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Đinh Phương Thị Nguyệt A trình bày: Chị và anh Trần Thanh B có đăng ký kết hôn ngày 19/8/2013 tại UBND phường Kh, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Hôn nhân của anh chị hoàn toàn tự nguyện. Anh chị có một con chung là cháu Trần Thủy T sinh ngày 06/11/2010. Về nguyên nhân mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm, không còn tình cảm. Vì vậy chị A đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh B.
Về con chung: Chị A có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục một con chung là cháu Trần Thủy T, sinh ngày 06/11/2010.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của bị đơn anh Trần Thanh B quá trình giải quyết: Bị đơn vắng mặt dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
Bị đơn từ chối nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử và vắng mặt tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà nêu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Chị Đinh Phương Thị Nguyệt A được ly hôn với anh Trần Thanh B.
Về con chung: Giao một chung là cháu Trần Thủy T, sinh ngày 06/11/2010 cho chị A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Đinh Phương Thị Nguyệt A phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Đinh Phương Thị Nguyệt A yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Trần Thanh B, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có đăng ký hộ khẩu tại thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và hiện đang sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị A có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Anh B vắng mặt dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
2. Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Giấy chứng nhận kết hôn số 165/2013 ngày 19/8/2013 được đăng ký tại UBND phường Kh, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, hôn nhân giữa chị A và anh B là hôn nhân hợp pháp quy tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Quá trình giải quyết. Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải giữa các bên nhưng anh Biền đã không tham dự mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, Tòa án đã lập các biên bản không thể tiến hành hòa giải được, điều đó thể hiện hôn nhân giữa chị A và anh B đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A, là phù hợp với quy định của pháp luật.
2.2. Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị A có nguyện vọng được được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hiện tại, chị A đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng một con chung trong thời gian hai vợ chồng sống ly thân, nguyện vọng của con chung là được ở cùng với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử cần tiếp tục giao một con chung cho chị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp để tránh làm ảnh hưởng, xáo trộn cuộc sống của cháu.
2.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.4 Về tài sản chung và nợ chung: Chị A không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị A phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Phương Thị Nguyệt A về việc ly hôn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Phương Thị Nguyệt A được ly hôn với anh Trần Thanh B.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Thủy T, sinh ngày 06/11/2010, cho chị A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ tròn 18 tuổi).
Anh Trần Thanh B được quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung, chị Đinh Phương Thị Nguyệt A không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục các cháu.
Trong trường hợp một bên lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của bên kia thì người bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người vi phạm.
Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng.
4. Về án phí: Chị Đinh Phương Thị Nguyệt A phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 00059xx ngày 26/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn số 47/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 47/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đắk Mil - Đăk Nông |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 30/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về