Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn số 94/2023/HNGĐ-ST

A ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 94/2023/HNGĐ-ST NGÀY 12/12/2023 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023, giữa:

Ngun đơn: Chị N C H, sinh năm 1989 - xin vắng mặt

Bị đơn: Anh L N T, sinh năm 1979 - vắng mặt Cùng nơi thường trú: Tổ 17, ấp C, xã TA, thị xã Bình Minh, tỉnh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 16/6/2023 nguyên đơn H có nội dung:

Vào năm 2009, chị H và anh T quen biết, tìm hiểu nhau và được sự đồng ý của hai bên gia đình nên anh chị tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã DH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Sau đám cưới thì vợ chồng về sống tại ấp C, xã TA, thị xã Bình Minh, tỉnh V. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một khoảng thời gian thì thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và hiện tại đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay.

Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, theo chị H cho rằng thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, xung đột dẫn đến mâu thuẫn và bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày. Từ đó, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và đã chính thức ly thân nhau từ tháng 3 năm 2023 đến nay không trở về đoàn tụ được lần nào. Do tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Ngọc T.

Về con chung: Chị H trình bày, vợ chồng có 02 con chung: C, sinh ngày 02/12/2009 và Cẩm Tú, sinh ngày 13/10/2014, hiện 02 cháu C và Cẩm Tú đang sống cùng anh T tại ấp C, xã TA, thị xã Bình Minh, tỉnh V. Chị H đồng ý giao 02 con chung C và Cẩm Tú cho anh T được tiếp nuôi dưỡng, chị H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại buổi hoà giải ngày 09 tháng 8 năm 2023 anh T có mặt tại Toà án; tuy nhiên, tại buổi hoà giải đến lời trình bày của anh T thì anh tự ý bỏ ra về không chịu trình bày cũng như không chịu ký tên bào biên bản của Toà án.

Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh T vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh V thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo thủ tục được quy định tại khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Anh T đã được tống đạt hợp lệ: Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập xét xử nhưng anh T vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tòa án đã triệp tập xét xử hợp lệ hai lần mà vẫn vắng mặt không rõ lý do; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Lê Ngọc T.

[2] Xét quan hệ hôn nhân:

Chị H và anh T quen biết, tìm hiểu nhau có tổ chức đám cưới vào năm 2009, có đăng ký kết hôn và tại Ủy ban nhân dân xã, theo giấy chứng nhận kết hôn số 81, quyển số 01 ngày 04/8/2009.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H cho rằng quá trình chung sống vợ chồng anh chị có thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, xung đột dẫn đến mâu thuẫn và bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày. Từ đó, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt và đã chính thức ly thân từ tháng 3 năm 2023 đến nay không còn sống chung với nhau.

Tòa án đã mời hòa giải nhiều lần, nhằm giúp hai bên đoàn tụ và cho hai bên có thời gian hàn gắn tình cảm, nhưng anh, chị không trở về đoàn tụ được. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; Mặt khác, phiên họp công khai chứng và hoà giải ngày 09 tháng 8 năm 2023 anh T có mặt nhưng không trình bày ý kiến cũng không có văn bản ý kiến về các vấn đề chị H yêu cầu, tự ý bỏ về. Nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hoân của chị Cẩm H. Cho chị H được ly hôn với anh T.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Cẩm H và anh Lê NgọcT có 02 con chung là: Cháu Lê C, sinh ngày 02/12/2009 và cháu Lê Nguyễn Cẩm Tú, sinh ngày 13/10/2014. Từ khi ly thân, hai cháu do anh T nuôi dưỡng.

Chị H đồng ý giao 02 con chung cháu: Lê C và Lê Nguyễn Cẩm Tú cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không cấp dưỡng nuôi con.

Hai cháu: C và Cẩm Tú từ lúc anh chị sống ly thân đến nay cháu vẫn sống với anh T nên việc chị H đồng ý giao 02 con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo các điều kiện sinh hoạt và ăn học của 02 cháu, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu C và Cẩm Tú được thể hiện tại bản khai ngày 16/6/2023. Cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là có căn cứ.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh T chưa yêu cầu, nên chị H chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Xét về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Xét về nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí về việc yêu cầu ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0001895, ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 19, Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án..

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.

- Về hôn nhân: Cho chị H được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Anh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là: C, sinh ngày 02/12/2009 và cháu Cẩm Tú, sinh ngày 13/10/2014; không đặt ra giải quyết phần cấp dưỡng nuôi con.

Dành cho chị H và anh T một vụ kiện khác về tranh chấp cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn khi có yêu cầu.

Chị H được quyền tới lui thăm nom 02 con chung mà không ai được quyền cản trở.

- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu, anh T không có ý kiến nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H không yêu cầu, anh T không có ý kiến nên không đặt ra xem xét giải quyết.

2/ Về án phí sơ thẩm:

Chị H phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí về việc ly hôn. Được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001895, ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, tỉnh V.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3/ Quyền kháng cáo: Án xử công khai, chị H, anh T được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

95
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn số 94/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:94/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Bình Minh - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về