Bản án về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con số 229/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 229/2024/HNGĐ-ST NGÀY 30/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 461/2024/TLST-HN ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, Tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đỉnh T, sinh năm 1988; (xin vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố A, Thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Dương Châu M, sinh năm 1989; (vắng mặt) Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Chị và anh Dương Châu M chung sống với nhau từ năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 60 ngày 03/7/2019. Quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, trầm trọng nhất là từ năm 2019 cho đến nay nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, anh M không lo làm kinh tế, không phụ gia đình để chăm sóc vợ con. Sống ly thân từ tháng 7 năm 2021 đến nay.

Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:

1/ Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đỉnh T yêu cầu được ly hôn với anh Dương Châu M.

2/ Về con chung: có 01 con chung tên Dương Nguyễn Đỉnh Ý, sinh ngày 21/7/2019. Chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Không yêu cầu.

3/ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Dương Châu M đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh M không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng không yêu cầu, bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án, đề nghị:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Đỉnh T, chị Nguyễn Thị Đỉnh T được ly hôn với anh Dương Châu M.

+ Về con chung: Giao con chung tên Dương Nguyễn Đỉnh Ý, sinh ngày 21/7/2019 cho chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Anh Dương Châu M được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

+ Về cấp dưỡng: Không yêu cầu, nên không xem xét.

+ Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

+ Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đỉnh T yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Dương Châu M nên đây là “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh M có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị T, anh M.

[3] Về hôn nhân:

Chị và anh M chung sống với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 60 ngày 03/7/2019 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Chị T cho rằng: Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng không có tiếng nói chung, anh M không quan tâm đến vợ, con, không phụ chị chăm sóc con nên hôn nhân không có tiếng nói chung. Năm 2021, chị về nhà mẹ ruột sinh sống cùng với cháu Dương Nguyễn Đỉnh Ý tại khu phố A, thị trấn V, huyện G và ly thân tới nay. Do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết: Về hôn nhân: Cho chị được ly hôn với anh Dương Châu M.

Thấy rằng, giữa anh chị không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, quá trình giải quyết vụ án Toà án nhiều lần triệu tập hoà giải nhằm hàn gắn hôn nhân giữa anh chị nhưng anh M vẫn vắng mặt không lý do chứng tỏ anh M không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh và chị. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: có 01 con chung tên Dương Nguyễn Đỉnh Ý, sinh ngày 21/7/2019, chị T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Hiện cháu Ý đang sống với chị T để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu Ý, quá trình giải quyết vụ án anh M không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T. Nếu sau này chị T và anh M có thay đổi hoàn cảnh và có tranh chấp về việc nuôi dưỡng con chung sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

+ Về cấp dưỡng: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 53; Điều 56, Điều 58; khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Đỉnh T

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đỉnh T được ly hôn với anh Dương Châu M

2. Về con chung: Giao con chung tên Dương Nguyễn Đỉnh Ý, sinh ngày 21/7/2019, cho chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Dương Châu M được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đỉnh T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 0011627 ngày 26/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang, nên xem như nộp xong.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

77
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con số 229/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:229/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Gạo - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về