Bản án về tranh chấp ly hôn số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 99/2024/HNGĐ-ST NGÀY 10/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 10 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 72/2024/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24/07/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 52/QĐST-HPT ngày 16/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị L T T– Sinh năm 1984 Nơi cư trú: Tổ 06, ấp 2, xã A Kh, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Anh N T H – Sinh năm 1982 Nơi cư trú: Tổ 06, ấp 2, xã A Kh, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước (Nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin vắng, bị đơn vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/01/2024, bản tự khai ngày 19/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn chị L T T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L T T và anh N T H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã TA, huyện Bình Long (nay là huyện Hớn Quản), tỉnh Bình Phước. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tin tưởng nhau, anh H không quan tâm vợ con, không lo cho kinh tế gia đình, hay chơi bài bạc, hiện tại đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L T T yêu cầu được ly hôn với anh N T H.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên N Tr N H, sinh ngày 05/10/2003; N T N H, sinh ngày 13/01/2011. Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi. Hiện tại chị T không mang thai. Khi ly hôn chị T yêu cầu nuôi con chung N T N H, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung N Tr N H, sinh ngày 05/10/2003 đã trưởng thành nên chị T không có yêu cầu gì.

Về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng.

Ngoài ra, vì lý do công việc chị T yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt.

* Đối với bị đơn anh N T H: Sau khi tòa án thụ lý đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh N T H không có ý kiến, cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản không có ý kiến gì thêm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử cho chị L T T được ly hôn với anh N T H, giao con chung tên Ng T N H, sinh ngày 13/01/2011 cho chị L T T trực tiếp nuôi dưỡng, chị L T T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Đối với con chung N Tr N H, sinh ngày 05/10/2003 đã trưởng thành nên chị T không có yêu cầu gì. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không xem xét. Án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, Điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với anh N T H có nơi cư trú tại xã A Kh, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn và bị đơn đều yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T, anh H là đúng quy định của pháp luật.

[2] Nội dung vụ án:

- Quan hệ hôn nhân giữa chị L T T, anh N T H là hôn nhân hợp pháp, các đương sự có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TA, huyện Bình Long (nay là huyện Hớn Quản), tỉnh Bình Phước. Chị T cho rằng vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không được và và đã sống ly thân. Tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu ly hôn với anh H. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đã hòa giải đoàn tụ cũng như cho thời gian mục đích vợ chồng đoàn tụ nhưng chị T không đồng ý. Ngoài ra về quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H theo biên bản xác minh ngày 15/4/2024 tại xã A Kh phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hay cãi nhau, anh H không chăm lo cho gia đình, không ai quan tâm đến ai và đã sống ly thân, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị L T T chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh N T H.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên N Tr N H, sinh ngày 05/10/2003; N T N H, sinh ngày 13/01/2011 hiện tại đang ở cùng với chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con chung N T N H, sinh ngày 13/01/2011. Hội đồng xét xử xét thấy con chung đang sống chung với chị T, ngoài ra nguyện vọng của cháu H là sống với chị T. Do đó căn cứ nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử quyết định quyết định giao con chung N T N H, sinh ngày 13/01/2011 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với nguyện vọng con chung và tình hình thực tế. Đối với con chung N Tr N H, sinh ngày 05/10/2003 đã trưởng thành nên không xem xét.

- Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên cũng không xem xét giải quyết trong vụ án.

[3] Về án phí: Chị L T T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[4] Tại phiên Tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, các đương sự, Hội đồng xét xử và nội dung vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 01 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị L T T được ly hôn với anh N T H.

(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 08/4/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh An, huyện Bình Long (nay là huyện Hớn Quản), tỉnh Bình Phước).

2. Về con chung: Giao con chung tên N T N H, sinh ngày 13/01/2011 cho chị L T T trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con chung N Tr N H, sinh ngày 05/10/2003 đã trưởng thành nên không xem xét.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết trong vụ án.

5. Về án phí: Chị L T T chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai T số 0005222 ngày 08/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

38
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024

Số hiệu:99/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hớn Quản - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:10/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về