Bản án về tranh chấp ly hôn số 99/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 99/2024/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 252/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1562/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 1631/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Chị Nghiêm Thị Á, sinh năm 1995. Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: Ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn anh Bùi Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Á tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 14 tháng 01 năm 2015.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm sống không phù hợp nên thường xuyên cãi vã, nhiều lần vợ chồng cho nhau cơ hội hàn gắn nhưng không có kết quả. Anh chị sống ly thân nhau hơn 01 năm nay. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Á.

- Về con chung: Anh và chị Á có 02 con chung là Bùi Bảo A, sinh ngày 06/11/2015 và Bùi Bảo N, sinh ngày 06/11/2015. Từ sau khi sống ly thân, anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bảo A còn cháu Bảo N do chị Á trực tiếp nuôi dưỡng.

Ly hôn, anh T xin nuôi cháu Bảo A, đồng ý giao cháu Bảo N cho chị Á nuôi dưỡng, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Do bận công việc nên anh T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

* Bị đơn chị Nghiêm Thị Á đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Tòa án thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Anh Bùi Văn T và chị Nghiêm Thị Á tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 14 tháng 01 năm 2015. Do bất đồng quan điểm nên anh T và chị Á đã sống ly thân hơn 01 năm. Nay anh T yêu cầu giải quyết ly hôn, đề nghị giao cháu Bảo A cho anh trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Bảo N cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không tranh chấp tài sản chung và khai không có nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án, chị Á được tống đạt hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, cũng không có ý kiến gì thể hiện chị không mong muốn hòa giải đoàn tụ. Căn cứ các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Bùi Văn T có đơn xin vắng mặt, chị Nghiêm Thị Á đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử theo quy định.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Anh Bùi Văn T xin ly hôn với chị Nghiêm Thị Á. Chị Á hiện sinh sống tại ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định nguyên đơn là anh Bùi Văn T, bị đơn là chị Nghiêm Thị Á.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn T và chị Nghiêm Thị Á chung sống trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 14 tháng 01 năm 2015. Căn cứ Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, hôn nhân trên được xem là hợp pháp.

Xét lời trình bày của anh T tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ nhận thấy: Do quan điểm sống không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, nhiều lần vợ chồng anh T cho nhau cơ hội hàn gắn nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân được hơn 01 năm nay, mỗi người có cuộc sống riêng không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Về phía chị Á đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng chị Á liên tục vắng mặt, từ đó thể hiện chị Á không mong muốn hòa giải, đoàn tụ.

Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa anh T và chị Á đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho anh T ly hôn với chị Á là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[3.2]. Về con chung: Anh T khai anh và chị Á có 02 con chung là Bùi Bảo A, sinh ngày 06/11/2015 và Bùi Bảo N, sinh ngày 06/11/2015. Ly hôn, anh T yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu Bảo A cho anh trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Bảo N cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: cháu Bảo A có nguyện vọng được ở với anh T và hiện đang được anh T chăm sóc giáo dục tốt nên cần tiếp tục giao cho anh T nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với cháu Bảo N hiện đang sống cùng mẹ (chị Â), chị Á đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến hoặc tranh chấp gì nên cần giao cháu Bảo N cho chị Á tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

[3.3]. Về tài sản chung: Đương sự không tranh chấp nên không xét.

[3.4]. Về nợ chung: Anh T khai không có nên không xét.

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016, anh T phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 238, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn T về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” với chị Nghiêm Thị Á.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn T được ly hôn với chị Nghiêm Thị Á.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Bảo A, sinh ngày 06/11/2015 cho anh T nuôi dưỡng và giao cháu Bùi Bảo N, sinh ngày 06/11/2015 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh T, chị Á không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về án phí: Anh Bùi Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0017889 ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Anh T đã nộp đủ án phí.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

132
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 99/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:99/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhơn Trạch - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về