Bản án về tranh chấp ly hôn số 97/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 97/2024/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1543/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 1634/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1992.

Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Bá Q, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Q tự nguyện chung sống từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 17/6/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến cãi vã, không có sự đồng cảm chia sẻ với nhau. Nay nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Q.

- Về con chung: Có 02 cháu là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 04/12/2013 và Nguyễn Bá V, sinh ngày 10/11/2018. Ly hôn, chị đồng ý giao cháu N cho anh Q nuôi dưỡng, đề nghị giao cháu V cho chị nuôi dưỡng. Tạm thời chị và anh Q không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Do ở xa nên chị H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

* Bị đơn anh Nguyễn Bá Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H tự nguyện chung sống từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 17/6/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến cãi nhau. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm nên anh đồng ý ly hôn với chị H.

- Về con chung: Có 02 cháu là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 04/12/2013 và Nguyễn Bá V, sinh ngày 10/11/2018. Ly hôn anh đồng ý giao cháu V cho chị H nuôi dưỡng và yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N. Tạm thời anh và chị H không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Vì bận công việc nên anh Q đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Tòa án thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Bá Q tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 17/6/2013. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng cãi vã. Nay chị H yêu cầu giải quyết ly hôn, đề nghị giao cháu N cho anh Q nuôi dưỡng, giao cháu V cho chị nuôi dưỡng, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Q đồng ý với các đề nghị của chị H. Căn cứ Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Bá Q có đơn xin vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử theo quy định.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Chị H xin ly hôn với anh Q. Anh Q hiện đang cư trú tại ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H, bị đơn là anh Nguyễn Bá Q.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Q chung sống vào năm 2013, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 17/6/2013. Căn cứ Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, hôn nhân trên được xem là hợp pháp.

Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Hiện nay vợ chồng không còn tình cảm, không còn khả năng hòa giải đoàn tụ nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh Q đồng ý thuận tình. Từ những căn cứ trên, xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

[3.2]. Về con chung: Có 02 cháu là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 04/12/2013 và Nguyễn Bá V, sinh ngày 10/11/2018. Ly hôn, chị H tự nguyện giao cháu N cho anh Q nuôi dưỡng, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu V, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Q đồng ý với yêu cầu của chị H. Ngoài ra cháu N cũng có nguyện vọng sống với cha. Xét thấy, yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung của chị H là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016, chị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 238, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H về việc: “Ly hôn” với anh Nguyễn Bá Q.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Bá Q.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thảo N, sinh ngày 04/12/2013 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Bá V, sinh ngày 10/11/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời chị H, anh Q không ai phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018137 ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp đủ án phí.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

109
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 97/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:97/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhơn Trạch - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về